Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cạnh tranh là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường. Lý thuyết về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hình thành cùng với quá trình hoàn thiện quan niệm về thể chế kinh tế thị trường. Do đó, các nghiên cứu về chính sách cạnh tranh, pháp luật về cạnh tranh luôn được coi là một công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, dẫn dắt và hướng thị trường tới mục tiêu phát triển an toàn, lành mạnh, khuyến khích tự do sáng tạo trong quá trình kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ thị trường, việc chống CTKLM cũng được mở rộng ra trên nhiều lĩnh vực với nhiều hành vi khác nhau như hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm CTKLM, bán hàng đa cấp bất chính… Vì thế, bên cạnh việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành nói chung còn có những nghiên cứu về chống CTKLM trong từng hành vi cụ thể. Quan khảo sát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về CTKLM, pháp luật về chống hành vi CTKLM, hành vi quảng cáo nhằm CTKLM, nghiên cứu sinh xin có một số đánh giá các nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài luận án của mình như sau: 1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 1. Về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh nói chung, CTKLM và từng hành vi CTKLM cụ thể nói riêng được các nhà khoa học đề cập đến ở các mức độ khác nhau trong các 7 công trình khoa học, các nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều lý thuyết cạnh tranh, mức độ tác động của Nhà nước vào hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Một số lý thuyết cạnh tranh điển hình như: Lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại đã được đề cập trong nhiều tài liệu [64, Tr20], [91]. Các nghiên cứu về lý thuyết cạnh tranh đã làm rõ được sự cần thiết, cơ sở và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động cạnh tranh hướng tới việc điều tiết hoạt động cạnh tranh phù hợp với định hướng phát triển của Nhà nước. Đây là những kết quả rất cần được lưu ý khi làm rõ các vấn đề chống CTKLM nói chung và hành vi quảng cáo nhằm CTKLM nói riêng. Về CTKLM và chống CTKLM, vấn đề này cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý trong và ngoài nước [70], [48], [62], [72], [99], [42].
Có tác giả cho rằng, cạnh trang không lành mạnh bao gồm tất cả hành vi nào xâm hại tới hoạt động cạnh tranh [55]. Cũng có ý kiến cho rằng, không phải bất cứ hành vi nào xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp đều bị coi là hành vi CTKLM mà chỉ những hành vi do chủ thể kinh doanh thực hiện đối với đối thủ cạnh tranh của mình trong một thị trường hàng hóa, dịch vụ hoặc thị trường liên quan [93]. Tác giả Nguyễn Như Phát [69] cho rằng, tuy chưa đến mức gay gắt và quyết liệt như các nước có nền kinh tế phát triển, nhưng tình hình CTKLM trên thị trường Việt Nam đang diễn biến hết sức phức tạp. Các hành vi CTKLM xuất hiện ngày càng nhiều và rất khó kiểm soát.
Những mầm mống tiêu cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đã lan tràn tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất tới tiêu dùng dưới mọi hình thức: bán phá giá, quảng cáo không trung thực… gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội, người tiêu dùng và cho doanh nghiệp khác. Các công trình nghiên cứu đều có điểm chung cho rằng, lợi ích của các chủ thể kinh doanh đang bị xâm phạm, đe dọa bởi “sức tấn công” của các thủ đoạn CTKLM ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trật tự kinh doanh công bằng có nguy cơ bị phá vỡ. 8 Do vậy, Nhà nước cần duy trì một trật tự cạnh tranh lành mạnh, môi trường kinh doanh công bằng thông qua việc ban hành những chính sách, quy định đảm bảo trật tự kinh doanh trong nền kinh tế thị trường để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, người tiêu dùng, nhà kinh doanh. Ở các quốc gia, khu vực có nền kinh tế phát triển, hành vi CTKLM nói chung và hành vi quảng cáo nhằm CTKLM nói riêng đã xuất hiện từ sớm và có tác động nhất định đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng và môi trường kinh doanh.
Trong “Review of Directive 2006/114/EC concerning misleading and comparative advertising” [119], Ủy ban Châu Âu cho rằng hành vi quảng cáo gian dối có thể gây tổn hại đáng kể cho các công ty khác, đặc biệt là các công ty nhỏ. Nhìn một cách tổng quan, các hành vi tiếp thị gây nhầm lẫn gây thiệt hại, làm suy yếu hoặc làm giảm khả năng lựa chọn và ra quyết định của công ty. Sự bóp méo quyết định trong kinh doanh của một chủ thể kinh doanh có thể kéo theo bóp méo cạnh tranh. Theo đó, hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tạo ra phản ứng dây chuyền tới người tiêu dùng vì họ sẽ phải trả nhiều tiền hơn cho sản phẩm và dịch vụ.
Cũng theo ủy ban châu Âu, quảng cáo là bất kì hình thức truyền tải nội dung hoặc giới thiệu để quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà không quy định hình thức cụ thể. Điểm qua các nghiên cứu lý luận về CTKLM và pháp luật về chống CTKLM trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cho thấy, các vấn đề lý luận cơ bản về CTKLM và chống CTKLM đã được các tác giả nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống. Nội dung các công trình này đã xây dựng, tạo lập được hệ thống các lý luận về CTKLM và chống CTKLM trong nền kinh tế thị trường, làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu về sau. Kết quả của các công trình đó, nghiên cứu sinh sẽ kế thừa trong quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về hành vi quảng cáo nhằm CTKLM và pháp luật hành vi quảng cáo nhằm CTKLM.
9 Về nhu cầu và sự cần thiết của chống CTKLM trong hoạt động quảng cáo. Theo tác giả Aude Mahy [106, Tr.23] cho rằng, cấm quảng cáo gây nhầm lẫn và các hành vi thương mại không lành mạnh là nội dung quan trọng, chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật ở Châu Âu. Mục đích của các quốc gia Châu Âu khi áp dụng các quy định này nhằm mục đích bảo đảm rằng người tiêu dùng không bị nhầm lẫn trong các sản phẩm quảng cáo hoặc xúc tiến thương mại; bảo vệ các chủ thể kinh doanh và chống lại các quảng cáo sai lệch. Trong Advertising Food in Europe – A Comparative Law Analysis, tác giả Aude Mahy và các cộng sự đã có sự so sánh hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn trong pháp luật của một số quốc gia châu Âu và cho thấy rằng: hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn trong pháp luật của các quốc gia này đều có sự giống nhau, đó là các hành vi thông tin về hàng hóa dịch vụ, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng về tác dụng, thành phần, nguồn gốc xuất xứ, giá cả.
Dựa trên các thôn tin đó, người tiêu dùng đã hoặc sẽ quyết định giao dịch với doanh nghiệp quảng cáo. Vì vậy, thông tin gây nhầm lẫn với người tiêu dùng cũng được coi là hành vi CTKLM đối với doanh nghiệp đối thủ. Vì vậy, để đảm bảo môi trường cạnh tranh không bằng, lành mạnh, bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng, các quốc gia đều cấm các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn. Nhận thức được tác động của cạnh tranh, CTKLM đối với nền kinh tế thị trường, nên vấn đề sự cần thiết phải chống CTKLM nói chung và hành vi quảng cáo nhằm CTKLM nói riêng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu ở nước ta [45], [72], [93].
Ở các mức độ khác nhau, các tác phẩm này đều thể hiện sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước đối với hành vi cạnh tranh nói chung và hành vi CTKLM nói riêng. Các cơ quan nhà nước cần phải chống lại các hành vi CTKLM để bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp và đảm bảo sự công 10 bằng trong nền kinh tế. Các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, người tiêu dùng Việt Nam hiện nay đang bị “lừa dối” bởi sự quảng cáo không trung thực, bởi lượng hàng nhái, hàng giả nhiều vô kể trên thị trường. Người tiêu dùng “đáng thương” không thể tự mình xác định được một cách chính xác chất lượng của hàng hóa đang lưu thông trên thị trường, họ hoang mang trước những quảng cáo quá lố trên phương tiện thông tin đại chúng.
Quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm hại nghiêm trọng và đang rất cần sự bảo vệ của Nhà nước, các quy định của pháp luật và các công cụ trấn áp của quyền lực công [69]. Đối với hành vi quảng cáo nhằm CTKLM, cho đến nay, các công trình nghiên cứu trực tiếp vấn đề này vẫn còn khiêm tốn. Luận văn Thạc sĩ của Vũ Vân Anh trong công tình nghiên cứu của mình [1] bước đầu làm rõ một số vấn đề lý luận chống CTKLM trong hoạt động quảng cáo và pháp luật chống CTKLM trong hoạt động quảng cáo đồng thời cũng đã tìm hiểu thực trạng pháp luật và đề ra phương hướng, quan điểm để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Cũng có công trình so sánh quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam và Liên minh châu Âu về quảng cáo so sánh [47].
Tác giả nhận định ở Việt Nam quảng cáo có nội dung so sánh cũng đã trở nên phổ biến. Nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều phàn nàn và sự nghi ngờ về tính hợp pháp của các quảng cáo đó. Nên chăng, các quy phạm điều chỉnh hoạt động quảng cáo so sánh phải đưa ra được các điều kiện cụ thể để xem xét một quảng cáo so sánh được coi là hợp pháp hay không sẽ có tác dụng tích cực cho môi trường cạnh tranh. Các doanh nghiệp sẽ tự tin và tự biết giới hạn khi sử dụng công cụ xúc tiến thương mại đó, cũng như khi có tranh chấp xẩy ra cơ quan quản lý nhà nước có một cơ sơ pháp lý vững vàng để giải quyết.