Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Trần Ngọc Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh, chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 9380107) tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2021.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ việc bán hàng đa cấp (BHĐC) du nhập vào thị trường Việt Nam từ cuối thế kỷ 20 với bản chất là một phương thức bán lẻ hàng hóa trực tiếp. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các hình thức biến tướng, lợi dụng mô hình phân phối này để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đã gây tác động tiêu cực đến trật tự kinh tế - xã hội. Thực tiễn ghi nhận nhiều vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng, tiêu biểu là vụ án tại Công ty Cổ phần Liên kết sản xuất thương mại Việt Nam (Liên Kết Việt) năm 2016 lôi kéo hơn 68.000 người từ 49 tỉnh, thành phố tham gia mạng lưới, chiếm đoạt số tiền hơn 1.111 tỷ đồng. Dù hệ thống văn bản pháp lý đã liên tục được ban hành và sửa đổi từ Luật Cạnh tranh 2004, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP đến Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, khung pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ những nhược điểm và khoảng trống khiến công tác quản lý nhà nước cũng như xử lý vi phạm gặp nhiều trở ngại. Khoảng trống nghiên cứu của luận án là việc xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạm dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế nhằm đề xuất các giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHĐC bất chính, pháp luật chống BHĐC bất chính, làm rõ bản chất hành vi và kinh nghiệm điều chỉnh của một số quốc gia trên thế giới, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  2. Thứ hai, nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính ở Việt Nam hiện nay qua việc phân tích, bình luận các quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng đối với doanh nghiệp, người tham gia; làm rõ thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  3. Thứ ba, chỉ ra sự cần thiết và các định hướng hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính trong giai đoạn hiện nay; đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề lý luận về BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính; các quy phạm pháp luật thực định về chống BHĐC bất chính tại Việt Nam; cùng thực tiễn áp dụng, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế đối với chế định pháp luật chống BHĐC bất chính. Đối tượng của hoạt động BHĐC được giới hạn trong phạm vi là hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam. Luận án khảo sát kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ với tư cách là nguồn tài liệu tham khảo, so sánh và đối chiếu.
  • Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và xử lý vi phạm của các doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Về thời gian: Khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2004 đến năm 2021; dữ liệu thực tiễn và số liệu xử lý vi phạm hành chính được tập trung khảo sát trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản luận án được phân chia thành hai nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về lý luận bán hàng đa cấp và bán hàng đa cấp bất chính:

  • Ở cấp độ luận án tiến sĩ: Luận án của Lê Anh Tuấn (2008) tiếp cận BHĐC dưới góc độ Luật Cạnh tranh 2004 và hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Luận án của Lê Bá Bô (2016) nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với BHĐC, phân tích khái niệm dưới góc độ quản trị và marketing; Luận án quản trị kinh doanh của Ranelli Williams (2018) phân tích bản chất tiếp thị đa cấp là hình thức bán hàng trực tiếp và định diện BHĐC bất chính qua dấu hiệu trả thưởng dựa trên tuyển dụng thay vì doanh số sản phẩm.
  • Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học: Ninh Thị Minh Phương (2012) phân tích các dấu hiệu tại Điều 48 Luật Cạnh tranh 2004; Vũ Văn Tú (2014) khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát BHĐC; Trần Thị Thơ (2014) nghiên cứu cơ chế hợp đồng và vai trò điều tiết của nhà nước; Hoàng Đào Tùng Thúy (2012) khảo sát chế định hàng hóa và trách nhiệm các bên; Trương Văn Báo (2012) phân tích thực trạng xử lý vi phạm; Bùi Thị Ánh Tuyết (2020) nghiên cứu kiểm soát hành vi BHĐC bất chính, phân tích bản chất chiếm dụng vốn và nhận diện mô hình kim tự tháp cùng mô hình Ponzi.
  • Sách chuyên khảo và giáo trình: Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM (2010), Trường Đại học Luật TP.HCM, Trường Đại học Ngoại thương (2003); sách chuyên khảo "Bình luận Khoa học Luật Cạnh tranh" của TS. Lê Hoàng Oanh.
  • Bài báo khoa học trong nước: Đặng Long (2006), Đoàn Văn Bình và Đoàn Trung Kiên (2007), TS. Nguyễn Minh Phong (2010) với bài viết về các thủ thuật trong kinh doanh đa cấp, Nguyễn Văn Vinh (2016), Dương Xuân Phúc và Nguyễn Thị Xuân (2018, 2019), Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Phương Liên (2017), Phan Tuấn Anh, Lê Văn Sua, Trần Thị Bảo Ánh (2004), Trần Văn Hùng (2019).
  • Nghiên cứu quốc tế: Richard Poe (2003), Don và Nancy Failla (2005), James A. Muncy (2004), Peterson và Wotruba (1996), Abdul Azeez Koroth và A.K. Sudarsan (2012), Bogdan Gregor và Aron-Axel Wadlewski (2013), William W. Keep và Peter J. Vander Nat (2014), Cionggadi (2017), Du, Teo và Wang (2017), Susan Ward (2017), Radha Rao và Narender Kumar Maharshi, Yutian (2008).

Nhóm nghiên cứu về pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính và thực tiễn xử lý: Các bài viết của Trần Văn Hùng (2019) phân tích tội danh tại Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 và đối chiếu cơ chế kiểm soát của Ấn Độ (Đạo luật Prize Chits and Money Circulation Schemes Banning Act 1978, Mục 420 Bộ luật Hình sự 1860) cùng vai trò của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC), Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC), Cục Điều tra Liên bang (FBI); nghiên cứu của Yutian (2008) tại Trung Quốc về ranh giới giữa bán hàng trực tiếp và hành vi kim tự tháp bất hợp pháp.

Tác giả / Công trình Năm Nội dung trọng tâm Giới hạn tiếp cận
Lê Anh Tuấn (Luận án TS) 2008 BHĐC dưới góc độ Luật Cạnh tranh 2004 và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Chưa bao quát quy định hình sự và các nghị định quản lý chuyên ngành mới
Lê Bá Bô (Luận án TS) 2016 Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHĐC, cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm Tiếp cận nghiêng về khoa học quản lý, chưa đi sâu vào chế định xử lý vi phạm bất chính
Ninh Thị Minh Phương (Luận văn ThS) 2012 Quy định cấm hành vi BHĐC bất chính theo Điều 48 Luật Cạnh tranh 2004 Dừng lại ở khung pháp lý cũ (Luật Cạnh tranh 2004, Nghị định 110/2005/NĐ-CP)
Bùi Thị Ánh Tuyết (Luận văn ThS) 2020 Khái niệm kiểm soát hành vi BHĐC bất chính, mô hình kim tự tháp và mô hình Ponzi Giới hạn ở phạm vi một luận văn thạc sĩ, chưa phân tích toàn diện các giải pháp lập pháp
Trần Văn Hùng (Bài báo tạp chí) 2019 Phân tích cấu thành Điều 217a Bộ luật Hình sự 2015, đối chiếu pháp luật Hoa Kỳ và Ấn Độ Nghiên cứu phạm vi một bài báo, tập trung thuần túy vào khía cạnh truy cứu trách nhiệm hình sự

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về chế định pháp luật chống BHĐC bất chính theo chuyên ngành Luật kinh tế. Luận án đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh các văn bản pháp luật quan trọng mới có hiệu lực như Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, Nghị định số 141/2018/NĐ-CP và Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhằm làm rõ ranh giới pháp lý giữa hoạt động kinh doanh đa cấp hợp pháp và hành vi bất chính, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Cách tiếp cận của đề tài được triển khai dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật kinh tế, kết hợp các quy định pháp luật thực định với các nguyên tắc tổ chức lưu thông hàng hóa thương mại.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án sử dụng các phương pháp định tính và nghiên cứu luật học truyền thống:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được áp dụng xuyên suốt từ Phần mở đầu, Tổng quan đến các Chương 1, 2 và 3 để mổ xẻ các luận điểm lý luận, quy phạm pháp luật thực định, bản chất của các chiêu thức lừa đảo và các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản.
  • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ về cách thức định danh, kiểm soát mô hình kim tự tháp và xử lý vi phạm.
  • Phương pháp logic: Sử dụng tại Chương 2 để rà soát tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi, đồng thời chỉ ra các mâu thuẫn, chồng chéo và khoảng trống giữa các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh đa cấp.
  • Phương pháp liên ngành và dự báo: Kết hợp kiến thức luật học với kinh tế học thương mại và xã hội học để dự báo xu hướng vận động của các mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Cạnh tranh các năm 2004 và 2018; các Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, số 42/2014/NĐ-CP, số 40/2018/NĐ-CP, số 141/2018/NĐ-CP; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp và báo cáo hành chính: Dữ liệu thống kê về công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính của Cục Quản lý Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) giai đoạn 2015 - 2019; báo cáo của các cơ quan quản lý thị trường địa phương.
  • Hồ sơ thực tiễn xét xử: Bản án, quyết định xử lý các vụ việc kinh doanh đa cấp bất chính điển hình (Công ty Liên Kết Việt, Công ty Liên minh tiêu dùng Việt Nam, Công ty Trường Giang Việt Nam).
  • Tài liệu quốc tế: Báo cáo thường niên của Liên đoàn các Hiệp hội Bán hàng Trực tiếp Thế giới (WFDSA) và tài liệu hướng dẫn của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính và pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính

Chương 1 tập trung giải quyết các khái niệm nền tảng và khung lý luận về quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp:

  • Khái niệm và bản chất của bán hàng đa cấp: Luận án dẫn chứng nhận định của John Milton Fogg về thế kỷ 21 là thế kỷ của phân phối, nơi chi phí khâu phân phối chiếm 80 - 85% giá sản phẩm so với 15 - 20% ở khâu sản xuất. Luận án khẳng định BHĐC chân chính là phương thức bán lẻ hàng hóa trực tiếp thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh; người tham gia nhận hoa hồng, tiền thưởng từ kết quả bán hàng của cá nhân và mạng lưới do mình xây dựng.
  • Khái niệm và nhận diện bán hàng đa cấp bất chính: Bản chất của hành vi này là sự chiếm dụng vốn, lừa dối và trục lợi. Luận án phân tích hai mô hình biến tướng cốt lõi gồm mô hình Ponzi và mô hình kim tự tháp (pyramid scheme). Dấu hiệu đặc trưng là doanh nghiệp và các thành viên tuyến trên thu lợi nhuận chủ yếu từ việc tuyển dụng người mới, ép buộc người tham gia đóng tiền đặt cọc hoặc mua số lượng hàng hóa ban đầu với giá cao, thay vì dựa trên việc bán sản phẩm thực tế cho người tiêu dùng.
  • Lý luận về pháp luật chống BHĐC bất chính: Luận án phân tích khái niệm, nguyên tắc (công khai, minh bạch, bảo vệ bên yếu thế), nội dung điều chỉnh và vai trò bảo vệ trật tự thương mại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và các tổ chức kinh doanh chân chính.
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Khảo cứu khung pháp lý tại Hoa Kỳ (vai trò điều tra của FTC, nguyên tắc trả thưởng dựa trên việc tiêu thụ hàng hóa ra ngoài mạng lưới), Canada (quy định cấm mô hình kim tự tháp trong Đạo luật Cạnh tranh), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc (quản lý phân định khắt khe giữa bán hàng trực tiếp đơn cấp và đa cấp), Ấn Độ (áp dụng Mục 420 Bộ luật Hình sự 1860 và Đạo luật Prize Chits 1978). Từ đó, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về việc hoàn thiện tiêu chí phân định và nâng cao năng lực giám sát.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích hệ thống quy phạm thực định và thực tiễn xử lý vi phạm tại Việt Nam:

  • Các quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động BHĐC: Rà soát các quy định theo Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về điều kiện đăng ký hoạt động (vốn pháp định, ký quỹ ngân hàng), đối tượng kinh doanh (chỉ cho phép hàng hóa, nghiêm cấm dịch vụ), quy định về tuyển dụng và trả thưởng (giới hạn trần tổng giá trị hoa hồng và lợi ích kinh tế chi trả cho người tham gia không vượt quá 40% doanh thu trong năm), hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, cùng yêu cầu vận hành hệ thống thông tin quản lý và trang thông tin điện tử kết nối với cơ quan quản lý nhà nước.
  • Thực tiễn xử lý vi phạm trong giai đoạn 2015 - 2019: Luận án khai thác dữ liệu từ Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng thông qua Bảng biểu 2.1, Biểu đồ 2.1 và Biểu đồ 2.2, phản ánh xu hướng siết chặt kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính đối với các doanh nghiệp vi phạm. Số lượng doanh nghiệp BHĐC được cấp phép giảm mạnh từ hơn 60 doanh nghiệp xuống còn hơn 20 doanh nghiệp hoạt động hợp pháp vào tháng 12 năm 2020 (Phụ lục 2).
  • Phân tích các vụ việc điển hình: Điển hình là vụ án Công ty Liên Kết Việt (lừa đảo chiếm đoạt hơn 1.111 tỷ đồng của hơn 68.000 người dân tại 49 địa phương) và các vụ vi phạm tại Công ty Liên minh tiêu dùng Việt Nam, Công ty Trường Giang Việt Nam.
  • Đánh giá hạn chế của khung pháp luật: Các chế tài hành chính tại thời điểm áp dụng Nghị định số 71/2014/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe; cơ chế phối hợp giữa Bộ Công Thương, Bộ Công an, cơ quan quản lý chuyên ngành và UBND cấp tỉnh còn bộc lộ sự lỏng lẻo; khung pháp lý chưa điều chỉnh kịp thời các mô hình biến tướng trên nền tảng số lợi dụng danh nghĩa thương mại điện tử, dịch vụ tài chính, tiền ảo.

Chương 3: Định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chống bán hàng đa cấp bất chính

Chương 3 xây dựng các đề xuất mang tính giải pháp lập pháp và thực thi:

  • Bốn định hướng hoàn thiện:
    1. Nhận diện chính xác các hành vi biến tướng và hạn chế của pháp luật hiện hành.
    2. Xuất phát từ yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết mở cửa thị trường (WTO).
    3. Đặt trọng tâm vào bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bán hàng đa cấp và người tiêu dùng.
    4. Đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật và tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước.
  • Ba nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Nhóm giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật: Bổ sung hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp và người tham gia; chuẩn hóa quy định về kiểm soát chất lượng hàng hóa lưu hành; sửa đổi điều kiện đăng ký hoạt động kinh doanh; hoàn thiện quy định về địa điểm hoạt động tại địa phương; tăng nặng mức phạt tiền trong các chế tài hành chính và cụ thể hóa căn cứ áp dụng tội danh tại Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015.
    2. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý nhà nước: Rà soát chức năng, thẩm quyền của các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết bảo đảm tính khả thi của Nghị định số 40/2018/NĐ-CP; tăng cường năng lực giám sát của Sở Công Thương và các cơ quan kiểm tra liên ngành.
    3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Đào tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ thi hành pháp luật; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu công khai để người dân tra cứu về doanh nghiệp và sản phẩm.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của tác giả trong văn bản, luận án có 6 điểm đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Luận án làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận về hành vi BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận phù hợp với sự phát triển kinh tế của quốc gia và xu hướng thay đổi chính sách pháp luật trên thế giới.
  2. Luận án làm rõ thực trạng quy định pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam thông qua phân tích, bình luận các quy định hiện hành; so sánh, đối chiếu quy định trong nước qua các giai đoạn và kinh nghiệm quốc tế nhằm nêu bật ưu điểm và hạn chế của khung pháp lý.
  3. Luận án cung cấp các thông tin mang tính thời sự về tình hình thực tiễn thi hành pháp luật, tình hình vi phạm và số liệu xử lý các vụ việc BHĐC bất chính tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2019.
  4. Luận án đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế của pháp luật và công tác tổ chức thi hành pháp luật; làm rõ các tồn tại, bất cập và chỉ ra nguyên nhân của hiện trạng làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp.
  5. Luận án luận giải sự cần thiết và xác định các định hướng hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  6. Luận án đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật chống BHĐC bất chính tại Việt Nam kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.

Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất sửa đổi bổ sung các quy định chuyên biệt trong Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, sửa đổi các quy định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng tăng chế tài tiền phạt, hoàn thiện quy định truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp kiểm tra liên ngành giữa Bộ Công Thương, cơ quan Công an và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung văn bản và ý kiến phản biện của các thành viên Hội đồng đánh giá (PGS. Trần Ngọc Dũng, TS. Hồ Ngọc Hiển, TS. Nguyễn Hữu Huyên, PGS.TS. Tăng Văn Nghĩa), luận án bộc lộ một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo:

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi đối tượng bảo vệ: Luận án xác định bảo vệ người tiêu dùng là mục tiêu trọng tâm nhưng chưa phân tích đầy đủ bản chất người tham gia mạng lưới mới chính là đối tác kinh doanh và là đối tượng gánh chịu thiệt hại trực tiếp, nặng nề nhất trong các mô hình BHĐC bất chính.
  • Về phạm vi khách thể điều chỉnh: Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ cho phép BHĐC đối với hàng hóa và nghiêm cấm đối với dịch vụ. Nhận định của luận án về việc cần mở rộng điều chỉnh dịch vụ chưa được luận giải đầy đủ trên bình diện lý luận và kinh nghiệm quốc tế.
  • Về tính thuyết phục của giải pháp: Đề xuất tăng mức phạt tiền hành chính cụ thể ở Chương 3 còn thiếu luận cứ kinh tế và dữ liệu định lượng chứng minh tính tương xứng; cấu trúc các mục giải pháp tại Chương 3 chưa có sự cân đối chặt chẽ.
  • Về kỹ thuật trình bày: Văn bản còn xuất hiện các lỗi chính tả, lỗi đánh máy, sử dụng một số từ ngữ thiếu tính chuẩn mực học thuật; danh mục tài liệu tham khảo khai thác từ internet chưa ghi nhận ngày truy cập theo quy chuẩn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát và xử lý các mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng trên không gian mạng, đặc biệt là các hành vi huy động vốn tài chính, tiền mã hóa và kinh doanh sản phẩm kỹ thuật số xuyên biên giới.
  • Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tố tụng và cơ chế dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi, thu hồi tài sản và bồi thường thiệt hại cho người tham gia bán hàng đa cấp với tư cách là bên yếu thế khi giao kết hợp đồng mẫu với doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công Thương trong quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định quản lý kinh doanh đa cấp và quy định về xử lý vi phạm hành chính, hình sự.
  • Cơ quan thực thi và tố tụng: Hỗ trợ Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (nay là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia), cơ quan quản lý thị trường, lực lượng Công an và Tòa án các cấp trong việc nhận diện bản chất các hành vi biến tướng để phân loại, điều tra và xử lý đúng quy định pháp luật.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Luật Thương mại, Luật Kinh tế, Luật Cạnh tranh tại các trường đại học, viện nghiên cứu; là nguồn tài liệu tham khảo cho học viên cao học và nghiên cứu sinh quan tâm đến pháp luật thương mại.
  • Doanh nghiệp và người tham gia: Giúp các doanh nghiệp xác lập ranh giới pháp lý để tổ chức hoạt động phân phối hợp pháp, đồng thời cung cấp kiến thức phòng ngừa rủi ro bị lừa đảo cho người dân khi tham gia mạng lưới kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt bán hàng đa cấp chân chính và bán hàng đa cấp bất chính là gì? Dấu hiệu cơ bản nhất nằm ở nguồn gốc tạo ra lợi nhuận và cách thức trả thưởng. Bán hàng đa cấp chân chính thu lợi nhuận từ hoạt động bán lẻ hàng hóa thực tế đến tay người tiêu dùng ngoài mạng lưới. Ngược lại, bán hàng đa cấp bất chính (mô hình kim tự tháp, Ponzi) lấy tiền của người tham gia sau trả cho người trước; người tham gia kiếm thu nhập chủ yếu từ việc tuyển dụng thành viên mới, buộc người mới nộp tiền đặt cọc hoặc mua một lượng hàng hóa nhất định mà không tập trung tiêu thụ sản phẩm ra thị trường.

2. Vụ việc Công ty Cổ phần Liên kết sản xuất thương mại Việt Nam (Liên Kết Việt) được luận án dẫn chứng có quy mô vi phạm như thế nào? Vụ án Liên Kết Việt xảy ra năm 2016 được luận án dẫn chứng như một điển hình về thiệt hại xã hội nghiêm trọng do BHĐC bất chính gây ra. Doanh nghiệp này đã lôi kéo hơn 68.000 người tham gia mạng lưới phân phối tại 49 tỉnh, thành phố và thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền hơn 1.111 tỷ đồng.

3. Tại sao pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ cho phép bán hàng đa cấp đối với hàng hóa mà không áp dụng đối với dịch vụ? Pháp luật Việt Nam giới hạn đối tượng BHĐC là hàng hóa nhằm kiểm soát tính hữu hình, chất lượng và giá trị thực tế của sản phẩm lưu thông. Dịch vụ mang tính chất vô hình, khó định lượng chính xác giá trị và chất lượng tại thời điểm giao kết hợp đồng, nên rất dễ bị các đối tượng lợi dụng để biến tướng thành các gói đầu tư tài chính, huy động vốn lừa đảo mà cơ quan quản lý khó thanh tra, giám sát.

4. Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có ý nghĩa như thế nào trong công tác chống bán hàng đa cấp bất chính? Điều 217a quy định về "Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp", có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Điều luật này bổ sung chế tài hình sự trực tiếp đối với các hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoặc không đúng với nội dung giấy chứng nhận, tạo cơ sở pháp lý xử lý các trường hợp vi phạm có quy mô lớn trước khi hành vi biến tướng thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào tại Chương 3? Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật về đối tượng cấm, chất lượng hàng hóa, điều kiện kinh doanh, địa điểm hoạt động và nâng mức xử phạt; (2) Nhóm giải pháp tổ chức quản lý nhà nước thông qua việc phân định rõ thẩm quyền các bộ ngành, UBND cấp tỉnh và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành; (3) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành gồm bồi dưỡng năng lực cán bộ và đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, minh bạch dữ liệu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Ngọc Dung đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế. Tác giả đã phân tích quá trình hoàn thiện thể chế qua các giai đoạn, làm rõ ranh giới pháp lý giữa phương thức phân phối đa cấp chân chính và các chiêu thức biến tướng lừa đảo dựa trên số liệu xử lý vi phạm thực tế giai đoạn 2015 - 2019. Hệ thống các giải pháp được đề xuất tại Chương 3 là cơ sở tham khảo đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sửa đổi quy định pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh đa cấp. Dù còn một số điểm cần tiếp tục hoàn thiện về mặt kết cấu và lập luận, luận án là một công trình nghiên cứu độc lập, có giá trị học thuật và thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật kinh tế.