Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9.20) của nghiên cứu sinh Dương Thị Dung, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Quang Thiêm tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2023), mang tiêu đề "Nghiên cứu đặc trưng sự chuyển nghĩa từ loại danh từ sang đại từ và danh từ sang tính từ trong tiếng Việt (Trên ngữ liệu một số nhóm từ)".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hiện tượng chuyển nghĩa (semantic change, shift of meaning) là một hiện tượng phổ quát trong các ngôn ngữ. Khác với các ngôn ngữ biến hình có dấu hiệu hình thái nhận diện rõ ràng, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập phân tiết điển hình nên sự chuyển biến nghĩa diễn ra ngay trong nội dung của từ mà không làm thay đổi hình thức ngữ âm. Trong lịch sử Việt ngữ học, các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận hiện tượng chuyển loại hoặc chuyển nghĩa theo hướng ngữ pháp hóa từ thực từ sang hư từ (như chuyển thực từ thành giới từ hay hư từ nói chung). Vấn đề chuyển biến nghĩa diễn ra trong nội bộ các từ loại thực từ—cụ thể là danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ—kết hợp giữa cơ sở lý luận ngữ nghĩa học và thực tiễn từ điển học lịch đại vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự biến đổi và chuyển nghĩa của một số đơn vị từ vựng, từ đó làm sáng tỏ bản chất chuyển nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ trong nội bộ đơn vị thực từ tiếng Việt.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho luận án;
  2. Xác định cách hiểu về bản chất nghĩa từ vựng danh từ, sự chuyển nghĩa mang thuộc tính nghĩa đại từ và sự chuyển nghĩa mang thuộc tính nghĩa tính từ (nghiên cứu trường hợp);
  3. Miêu tả, phân tích nội dung ngữ nghĩa, biểu hiện ngữ nghĩa, tiến trình phát triển nghĩa, chuyển nghĩa của một số đơn vị danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ (nghiên cứu trường hợp).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và các danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ trong tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về trường hợp nghiên cứu cụ thể: Luận án khảo sát chuyên sâu nhóm danh từ thân tộc mang thuộc tính nghĩa đại từ xưng hô gồm 6 từ (bác, cô, ông, bà, cha, mẹ) và nhóm danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ gồm 8 từ (anh hùng, bình dân, cách mạng, phúc, quê, sách vở, bụi, gan).
    • Về phạm vi ngữ nghĩa: Khảo sát sự chuyển biến nghĩa của các đơn vị thực từ thuộc ba phạm vi từ loại chính là danh từ, đại từ và tính từ.
    • Về tư liệu và thời gian: Ngữ nghĩa của các đơn vị được phân tích đối chiếu qua các định nghĩa trong 7 cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản từ cuối thế kỷ XIX (1895–1896) đến thế kỷ XXI (2012), kết hợp với việc kiểm chứng qua ngữ cảnh sử dụng thực tế trong kho dữ liệu ngôn ngữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu chuyển nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam qua các giai đoạn và khuynh hướng tiếp cận:

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

  • Trong tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình):
    • Thời kỳ tiền cấu trúc luận: Các tác giả như Agathon Benary, Karl Reisig, Oskar Hey, Friedrich Haase, Michel Bréal (Essai de Sémantique), Ch. Bally, Lady Welby, C.S. Peirce, I.A. Richards tập trung tìm kiếm các quy luật biến đổi nghĩa theo quan điểm lịch sử và nhấn mạnh nhân tố biểu cảm.
    • Thời kỳ cấu trúc luận: L. Bloomfield, A. Meillet kết hợp ngữ nghĩa với tâm lý học thực nghiệm và logic toán, nhấn mạnh nhân tố hiệu quả trong giao tiếp.
    • Thời kỳ hậu cấu trúc luận và mở rộng: W. Wundt (1900), Gustaf Stern (1931) với công trình Meaning and change of meaning: with special reference to the English language xác lập 7 lớp biến đổi nghĩa (thay thế, loại suy, rút ngắn, định danh, chuyển đổi, đổi trật tự, tương xứng); Stephen Ullmann trong Các nguyên lý Ngữ nghĩa học chỉ ra 6 nhân tố biến đổi nghĩa; Wellander nhấn mạnh quá trình lịch sử; Jean Aitchison, F. de Saussure, V. Fromkin, John Lyons, J. Kitay (1987), E. Traugott phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan và các phương thức mở rộng, thu hẹp, chia nhánh, chuyển đổi nghĩa.
  • Trong tiếng Hán (ngôn ngữ đơn lập):
    • Góc độ cấu trúc truyền thống: Trình Trì (2015) khảo sát sự thay đổi của nghĩa gọi tên và nghĩa tính chất; Đàm Cảnh Xuân (1998, 2001) phân tích cấu trúc nghĩa khái niệm = nghĩa tố tính chất nội tại + nghĩa tố thuộc loại kết hợp với nghĩa kèm theo, xác lập thang phân loại khả năng chuyển nghĩa từ mạnh đến yếu: danh từ trừu tượng > danh từ chỉ người > danh từ chỉ vật > danh từ chuyên hữu; Trương Quốc Hiến (2006), Giả Quân Phương (2008), Kasevich V.B., Trình Quyên (2004), Nhậm Kha (2016) phân tích điều kiện đặc tính và lượng tính trong chuyển nghĩa.
    • Góc độ tri nhận luận: Lưu Chính Quang (2006) giải thích cơ chế chuyển biến qua tính nhị nguyên là phi phạm trù hóa và kết cấu khái niệm.

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Khuynh hướng nghiên cứu chuyển nghĩa nội bộ từ đa nghĩa: Đỗ Hữu Châu (1986, 1998, 2009) nghiên cứu cơ cấu nghĩa, nguyên nhân chuyển nghĩa và nghĩa liên hội; Nguyễn Thiện Giáp (1998) phân tích các thành phần nghĩa (sở chỉ, sở biểu, sở dụng, kết cấu) và 3 nguyên nhân chuyển nghĩa; Nguyễn Đức Tồn (2002, 2013); Kỳ Quảng Mưu; Hoàng Dũng và Tăng Thị Tuyết Mai nghiên cứu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa; Lê Quang Thiêm (1989) đối chiếu Bungari - Việt; Đặng Đức Hoàng; Lê Thị Thanh Tâm; Lý Toàn Thắng so sánh trường từ ngữ bộ phận cơ thể và không gian Việt - Anh; Nguyễn Đức Dân (1992); Nguyễn Lai; Vũ Thị Tuyết khảo sát ca dao.
  • Khuynh hướng nghiên cứu chuyển nghĩa dẫn đến chuyển loại (ngữ pháp hóa): Vũ Văn Thi (1995) trong luận án Quá trình chuyển hóa của một số thực từ thành giới từ trong tiếng Việt xác định cơ chế hư hóa - ngữ pháp hóa; Trần Thị Nhàn (2004, 2009) trong công trình Hiện tượng chuyển hóa từ thực từ sang hư từ trong tiếng Việt (theo lý thuyết ngữ pháp hóa) phân tích các con đường ngữ pháp hóa của danh từ, động từ, tính từ thành hư từ.
  • Nghiên cứu về từ xưng hô và danh từ thân tộc: Alexandre de Rhodes (1651), Trương Vĩnh Ký (1884), Trần Trọng Kim (1940), M.B. Emeneau (1951) với khái niệm "đại từ cương vị", Laurence C. Thompson (1987), Dương Thị Nụ (2003), Trương Thị Diễm (2013) nghiên cứu từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc.
  • Nghiên cứu về tính từ tiếng Việt: Hoàng Văn Hành (1982) phân tích thang độ tính từ tiếng Việt so với tiếng Nga; Chu Bích Thu (1996) nghiên cứu đặc trưng ngữ nghĩa tính từ qua 8 nhóm trường nghĩa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước tập trung vào hiện tượng ngữ pháp hóa chuyển từ thực từ sang hư từ hoặc mô tả cấu trúc tĩnh của từ xưng hô và tính từ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: làm rõ cơ chế chuyển biến nghĩa diễn ra trong nội bộ hệ thống thực từ (danh từ sang đại từ và danh từ sang tính từ) trên bình diện nghĩa từ vựng, kết hợp khung lý thuyết ngữ nghĩa học chức năng với thực tiễn đối chiếu từ điển học qua các giai đoạn lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Quan niệm về chuyển nghĩa: Luận án tiếp thu quan điểm của Gustaf Stern (1931), xem chuyển nghĩa là sự biến đổi, chuyển biến nghĩa từ vựng trong từ loại, khi một từ vừa duy trì thuộc tính nghĩa của từ loại xuất phát vừa mang thuộc tính nghĩa của từ loại khác.
  • Hệ thống tầng nghĩa và kiểu nghĩa chức năng từ vựng: Luận án ứng dụng mô hình của GS. Lê Quang Thiêm (2008) gồm 3 trường tầng nghĩa và 6 kiểu nghĩa:
    1. Trường tầng nghĩa trí tuệ (intellectual stratum): gồm nghĩa biểu niệm (scientific concept) và nghĩa biểu hiện (sense-relation);
    2. Trường tầng nghĩa thực tiễn (practical stratum): gồm nghĩa biểu thị (denotational meaning) và nghĩa biểu chỉ (designated meaning);
    3. Trường tầng nghĩa biểu trưng (symbolized stratum): gồm nghĩa biểu trưng (symbolized meaning) và nghĩa biểu tượng (imaginative meaning).
  • Phân tích cấu trúc nghĩa và thành tố nghĩa: Ứng dụng quan điểm của Hoàng Phê (1975) về cấu trúc động của nghĩa từ, các nét nghĩa (semantic features) có quan hệ cấp bậc và hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa; kết hợp với các thành phần nghĩa từ vựng theo Nguyễn Thiện Giáp (nghĩa sở chỉ, sở biểu, sở dụng, kết cấu).
  • Các phương thức và hình thức chuyển nghĩa: Khảo sát các phương thức ẩn dụ (metaphor), hoán dụ (metonymy), mở rộng (extension/generalization), thu hẹp (restriction/specialization), loại suy/tương suy (analogy), tốt nghĩa (amelioration), xấu nghĩa (pejoration), thay thế (substitution). Mô hình chuyển nghĩa vận động theo hai dạng: dạng móc xích ($S_0 \to S_1 \to S_2 \to S_n$) và dạng tỏa ra từ nghĩa gốc ($S_0 \to S_1, S_0 \to S_2, \dots$).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả nghĩa của danh từ và đặc trưng chuyển nghĩa sang đại từ và tính từ.
  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa (phương pháp chủ đạo): Phân xuất các nét nghĩa cấu thành nghĩa vị ở cả hai trục đồng đại (cấu trúc, thứ bậc nét nghĩa) và lịch đại (so sánh lời định nghĩa trong từ điển qua các thời kỳ lịch sử).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Phân tích sâu các đơn vị từ vựng đại diện điển hình.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê tần số xuất hiện của các mục từ và ngữ cảnh, tổng hợp kết quả thành bảng biểu và sơ đồ hóa mô hình chuyển nghĩa.
  • Phương pháp luận chung: Kết hợp phương pháp diễn dịch và quy nạp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát

  1. Nguồn từ điển tiếng Việt (7 bộ từ điển đối chiếu lịch đại):
Ký hiệu Tên từ điển Tác giả / Cơ quan biên soạn Năm xuất bản
TĐHTC Đại Nam quấc âm tự vị Huình Tịnh Paulus Của 1895–1896 (tái bản 1998)
TĐKT Việt Nam tự điển Hội Khai trí Tiến đức 1931 (tái bản 1954)
TĐĐVT Tự điển Việt Nam phổ thông Đào Văn Tập [Không ghi năm cụ thể]
TĐTN Việt Nam tân tự điển Thanh Nghị 1952
TĐVT Từ điển tiếng Việt Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm 1967 (tái bản 1977, 1994)
TĐLVĐ Việt Nam tự điển Lê Văn Đức 1970
TĐHP Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê (chủ biên), Viện Ngôn ngữ học 1988 (tái bản đến 2012)
  1. Nguồn ngữ liệu ngữ cảnh thực tế: Trích xuất từ Chương trình tra cứu ngữ cảnh tiếng Việt của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam với dung lượng hơn 30 triệu âm tiết (gồm truyện, thơ, ca dao, báo chí, tài liệu mạng). Luận án thu thập 13 trường hợp danh từ chuyển nghĩa mang thuộc tính đại từ và 336 trường hợp danh từ chuyển nghĩa mang thuộc tính tính từ; trong đó chọn lọc 48 ngữ cảnh cụ thể (26 ngữ cảnh danh từ sang đại từ và 22 ngữ cảnh danh từ sang tính từ) để phân tích chi tiết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện lịch sử nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa trong và ngoài nước (tiếng Anh, tiếng Hán và tiếng Việt). Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ: chuyển nghĩa từ vựng, cấu trúc ngữ nghĩa, nét nghĩa, nghĩa cơ sở/nghĩa phái sinh, nghĩa đen/nghĩa bóng, nghĩa cơ bản/nghĩa không cơ bản.

Chương này xây dựng khung lý thuyết cốt lõi dựa trên mô hình 3 tầng nghĩa và 6 kiểu nghĩa chức năng của GS. Lê Quang Thiêm (tầng trí tuệ, tầng thực tiễn, tầng biểu trưng) và nguyên lý phân tích thành tố nghĩa của Hoàng Phê. Đồng thời, tác giả xác lập quan niệm về thực từ trong tiếng Việt qua các công trình của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Kim Thản, khẳng định thực từ có nghĩa từ vựng chân thực, và việc chuyển biến nghĩa trong nội bộ thực từ là sự biến đổi tổ chức thành tố nghĩa chứ không làm mất đi tư cách thực từ.

Chương 2: Đặc trưng chuyển biến nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ (Nghiên cứu trường hợp)

Chương 2 tập trung khảo sát quá trình chuyển nghĩa của nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc sang thực hiện chức năng xưng hô lâm thời (mang thuộc tính nghĩa đại từ). Tác giả tiến hành phân tích chi tiết 6 trường hợp nghiên cứu điển hình thông qua các bảng đối chiếu định nghĩa trong 7 cuốn từ điển:

  • Trường hợp từ "bác" (Bảng 2.1)
  • Trường hợp từ "cô" (Bảng 2.2)
  • Trường hợp cặp từ "ông/bà" (Bảng 2.3 và Bảng 2.4)
  • Trường hợp cặp từ "cha/mẹ" (Bảng 2.5 và Bảng 2.6)

Qua việc phân tích thành tố nghĩa, luận án chỉ ra quá trình chuyển biến từ nghĩa biểu niệm/biểu thị (gọi tên quan hệ thân tộc xác định trong gia đình dựa trên các nét nghĩa về thế hệ, độ tuổi, giới tính, dòng họ) sang nghĩa biểu chỉ (dùng để xưng hô, quy chiếu ngôi giao tiếp trong xã hội) và nghĩa biểu cảm/biểu trưng (thể hiện thái độ tôn kính, thân mật hoặc trang trọng).

Quá trình này được tổng hợp qua Sơ đồ 2: Mô hình chuyển nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ, giải thích cơ sở chuyển biến nghĩa, sự phân ly nghĩa và cơ chế mở rộng phạm vi quy chiếu từ gia tộc ra toàn xã hội.

Chương 3: Đặc trưng chuyển biến nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ (Nghiên cứu trường hợp)

Chương 3 khảo sát hiện tượng danh từ chuyển biến nghĩa để mang thuộc tính tính chất, trạng thái (tính từ hóa). Dựa trên khảo sát Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), luận án lập các bảng tổng hợp:

  • Bảng 3.1: Cấu tạo mục từ chuyển biến nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ
  • Bảng 3.2: Nguồn gốc mục từ chuyển biến nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ
  • Bảng 3.3: Nhóm danh từ thuộc tính nghĩa tính từ trong Từ điển tiếng Việt

Luận án đi sâu phân tích 8 trường hợp nghiên cứu điển hình: anh hùng, bình dân, cách mạng, phúc, quê, sách vở, bụi, gan. Kết quả phân tích cho thấy:

  • Cơ sở chuyển nghĩa bắt nguồn từ việc lâm thời hóa các nét nghĩa chỉ đặc trưng, phẩm chất tiêu biểu của thực thể được danh từ định danh;
  • Khi các nét nghĩa tính chất kèm theo được sử dụng lặp lại với tần số cao trong ngữ cảnh, chúng dần ổn định, cố định hóa trong cấu trúc nghĩa của từ và dẫn đến sự phân ly nghĩa;
  • Cơ chế chuyển nghĩa được mô hình hóa tại Sơ đồ 3: Mô hình chuyển nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ.

Chương này cũng phân tích các nguyên nhân chuyển biến nghĩa gồm: nhu cầu định tính hóa hiện thực trong giao tiếp, sự phát triển nhận thức của cộng đồng ngôn ngữ, và áp lực cấu trúc hệ thống từ vựng tiếng Việt.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án vận dụng và cụ thể hóa lý thuyết ngữ nghĩa học từ vựng và mô hình các tầng nghĩa, kiểu nghĩa chức năng vào việc giải thích hiện tượng chuyển nghĩa trong nội bộ thực từ của tiếng Việt—một ngôn ngữ đơn lập không biến đổi hình thái.
  2. Xác định rõ bản chất ngữ nghĩa của các danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ: đây là sự tái lập cấu trúc nghĩa và chuyển dịch trọng tâm giữa các nét nghĩa (từ nghĩa định danh thực thể sang nghĩa định tính hoặc nghĩa quy chiếu xưng hô), không đồng nhất hoàn toàn với hiện tượng chuyển loại ngữ pháp thuần túy.
  3. Làm sáng tỏ tiến trình vận động, phát triển lịch sử của ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI thông qua cứ liệu đối chiếu từ điển học.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  1. Ứng dụng trong từ điển học: Cung cấp căn cứ khoa học và phương pháp phân tích thành tố nghĩa giúp các nhà biên soạn từ điển giải thích tiếng Việt phân định chính xác các nét nghĩa, xử lý thỏa đáng cương vị từ loại của các mục từ đa chức năng hoặc kiêm loại.
  2. Ứng dụng trong giảng dạy: Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập các học phần Ngữ nghĩa học, Từ vựng học tiếng Việt và Ngữ pháp tiếng Việt ở bậc đại học và sau đại học.
  3. Ứng dụng trong giao tiếp: Giúp người học bản ngữ và người học tiếng Việt như một ngoại ngữ hiểu rõ hơn các quy tắc ngữ nghĩa chi phối việc sử dụng hệ thống từ xưng hô thân tộc và các từ định tính hóa trong thực tế giao tiếp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trường hợp ở một số nhóm từ điển hình (6 danh từ thân tộc xưng hô và 8 danh từ chuyển nghĩa tính chất) trong tổng số 13 danh từ mang thuộc tính đại từ và 336 danh từ mang thuộc tính tính từ đã thu thập được.
  • Phạm vi tư liệu đối chiếu lịch đại tập trung vào 7 cuốn từ điển giải thích tiếng Việt tiêu biểu từ năm 1895 đến năm 2012, chưa mở rộng ra toàn bộ các văn bản văn học cổ trung đại hoặc khẩu ngữ hội thoại tự nhiên ngoài kho ngữ cảnh của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phân tích toàn diện 336 trường hợp danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ còn lại trong danh mục khảo sát.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các hướng chuyển biến nghĩa khác trong nội bộ thực từ, chẳng hạn như chuyển biến giữa động từ và danh từ hoặc giữa động từ và tính từ.
  • Kết hợp sâu hơn với các khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận đương đại để lý giải cơ chế tinh thần của sự mở rộng phạm trù nghĩa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học / Việt ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết phân tích thành tố nghĩa kết hợp 3 tầng nghĩa và 6 kiểu nghĩa chức năng; phương pháp xử lý ngữ liệu từ điển học lịch đại.
  • Các nhà biên soạn từ điển học: Tham khảo cách thức phân tích định nghĩa, bóc tách các nét nghĩa và cách thức trình bày các mục từ kiêm tính chất ngữ pháp/ngữ nghĩa trong từ điển tiếng Việt tường giải.
  • Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo các phân tích chi tiết về nghĩa biểu chỉ và sắc thái biểu cảm của nhóm từ xưng hô có nguồn gốc thân tộc (bác, cô, ông, bà, cha, mẹ) để hướng dẫn cách xưng hô phù hợp văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt hiện tượng chuyển nghĩa theo hướng đa nghĩa và chuyển nghĩa dẫn đến chuyển biến nghĩa từ loại như thế nào?
Luận án chỉ ra hai xu hướng: xu hướng thứ nhất tạo ra sự đa nghĩa nội bộ trong cùng một từ loại (các nghĩa phái sinh cùng nằm trong cấu trúc nghĩa xuất phát và chịu sự chi phối của nét nghĩa gốc, ví dụ từ đầu); xu hướng thứ hai là sự chuyển biến, biến đổi cấu trúc nghĩa làm cho từ vừa có thuộc tính của từ loại xuất phát vừa mang thuộc tính nghĩa của từ loại khác (ví dụ bác học vừa có nghĩa danh từ chỉ người vừa có nghĩa tính từ chỉ tính chất, hoặc danh từ thân tộc chuyển sang mang thuộc tính đại từ xưng hô).

2. Khung lý thuyết 3 trường tầng nghĩa và 6 kiểu nghĩa chức năng của GS. Lê Quang Thiêm gồm những thành tố nào?
Khung lý thuyết gồm 3 trường tầng nghĩa:

  • Trường tầng nghĩa trí tuệ: gồm nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu hiện;
  • Trường tầng nghĩa thực tiễn: gồm nghĩa biểu thị và nghĩa biểu chỉ;
  • Trường tầng nghĩa biểu trưng: gồm nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng.

3. Bảy bộ từ điển tiếng Việt được sử dụng làm nguồn ngữ liệu lịch đại trong luận án gồm những công trình nào?
Bảy bộ từ điển gồm: Đại Nam quấc âm tự vị (Huình Tịnh Paulus Của, 1895–1896), Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức, 1931), Tự điển Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập), Việt Nam tân tự điển (Thanh Nghị, 1952), Từ điển tiếng Việt (Văn Tân, 1967), Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức, 1970) và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1988/2012).

4. Những đơn vị từ vựng cụ thể nào được chọn làm đối tượng nghiên cứu trường hợp trong luận án?
Luận án chọn 6 danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ: bác, cô, ông, bà, cha, mẹ; và 8 danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ: anh hùng, bình dân, cách mạng, phúc, quê, sách vở, bụi, gan.

5. Nguồn dữ liệu ngữ cảnh thực tế được luận án khai thác từ đâu và có quy mô thế nào?
Dữ liệu ngữ cảnh được trích xuất từ Chương trình tra cứu ngữ cảnh tiếng Việt của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, với quy mô hơn 30 triệu âm tiết thuộc nhiều thể loại văn bản.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thị Dung đã làm rõ đặc trưng và cơ chế chuyển biến nghĩa trong nội bộ từ loại thực từ tiếng Việt, tập trung vào hai hướng chuyển nghĩa từ danh từ sang đại từ và danh từ sang tính từ. Bằng phương pháp phân tích thành tố nghĩa kết hợp khảo sát đối chiếu lịch đại qua 7 bộ từ điển tiếng Việt tiêu biểu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI và ngữ liệu ngữ cảnh thực tế hơn 30 triệu âm tiết, công trình đã chứng minh tính vận động của hệ thống ngữ nghĩa tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt và cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác biên soạn từ điển cũng như giảng dạy ngôn ngữ.