Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Dẫn nhập Trong chương này, sau khi điểm qua tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiện tượng chuyển nghĩa, luận án xác định những tri thức luận làm tiền đề triển khai đề tài luận án, tập trung các vấn đề sau: Lý thuyết ngữ nghĩa học từ vựng; Hiện tượng chuyển nghĩa và chuyển nghĩa từ vựng trong tiếng Việt; Nghĩa của từ trong từ loại tiếng Việt. Trên cơ sở đó, luận án khảo sát và nghiên cứu chuyển nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ trong tiếng Việt. Trước tiên, chúng tôi xác định nội hàm của thuật ngữ "chuyển nghĩa" trong luận án.
Chuyển nghĩa theo cách hiểu của chúng tôi trong luận án này là sự chuyển biến nghĩa (sự biến đổi nghĩa) thuộc từ loại thực từ. Chuyển biến là "biến đổi sang trạng thái khác với trước, thường là theo hướng tích cực" [80, tr. Như vậy, giá trị của sự chuyển biến nghĩa là sự thay đổi nội dung nghĩa, tức là có thể chuyển biến nghĩa của danh từ/đại từ và danh từ/tính từ, nghĩa từ vựng này/nghĩa từ vựng khác qua một số nhóm từ cụ thể là nhóm danh từ thân tộc/đại từ xưng hô và nhóm danh từ có chuyển nghĩa tính chất. Luận án sẽ đi vào tìm hiểu sự chuyển biến nghĩa ấy trong tiếng Việt - một loại hình ngôn ngữ đơn lập phân tiết điển hình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan Hiện tượng chuyển nghĩa nói chung đã được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyển nghĩa của danh từ mang thuộc tính nghĩa đại từ và danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ chưa được nghiên cứu sâu. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa ở ngoài nước và trong nước 1. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa ở ngoài nước Điểm qua các công trình nghiên cứu chuyển nghĩa trên thế giới, luận án chọn hai ngôn ngữ là tiếng Anh - thuộc ngôn ngữ biến hình và tiếng Hán - ngôn ngữ cùng loại hình với tiếng Việt - ngôn ngữ đơn lập.
Mục đích chọn hai loại hình ngôn ngữ khác nhau để chứng minh có sự chuyển nghĩa trong các ngôn ngữ, tuy hình thức biểu hiện của mỗi ngôn ngữ không giống nhau. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Anh Hiện tượng chuyển nghĩa là nội dung được quan tâm trong các nghiên cứu về nghĩa của từ, biến đổi và phát triển nghĩa. Nghiên cứu về chuyển nghĩa thường được gắn với nghiên cứu về nghĩa hoặc phát triển nghĩa của từ. Nghiên cứu về hiện tượng này trong tiếng Anh đã có từ thời cổ đại, tiếp tục liệu rẻ phát triển ở đầu thế kỉ XIX và phát triển mạnh đến ngày nay.
Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học cấu trúc, nghiên cứu về nghĩa nói chung và nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa của từ nói riêng, có thể phân thành ba thời kì chính là thời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận. Thời kì tiền cấu trúc luận, các nghiên cứu về chuyển nghĩa của từ chủ yếu đi tìm các quy luật chuyển nghĩa của từ, trước hết từ góc độ thời gian lịch sử, như Agathon Benary, Karl Reisig, Oskar Hey, Friedrich Haase, v. Tiêu biểu cho giai đoạn này là công trình Essai de Sesmantique (Sciece des significations) của Michel Breál [154]. Cùng với nghiên cứu các quy luật chuyển nghĩa của từ, các tác giả cũng đã giải sự chuyển nghĩa theo quan điểm lịch sử.
Nghiên cứu và giải sự chuyển nghĩa trong giai đoạn này gắn với các tên tuổi như Ch.Lady Welly, Peirce, Richards, v. Trong thời kì tiền cấu trúc luận, các tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân của sự chuyển nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến nhân tố biểu cảm. Thời kì cấu trúc luận, các nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm đến sự 10 chuyển nghĩa của từ. Tuy nhiên, nghiên cứu ngữ nghĩa giai đoạn này được thực hiện cùng với tâm lý học thực nghiệm và logic toán.
Nghiên cứu ngữ nghĩa nói chung, sự chuyển nghĩa nói riêng gắn với các nhà nghiên cứu Bloomfield, A. Thời kì này, các tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân của sự chuyển nghĩa, khác với thời kì tiền cấu trúc luận nhấn mạnh nhân tố biểu cảm, trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh đến nhân tố hiệu quả. Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà đi trước, những năm tiếp theo của thế kỉ XX, có nhiều nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Khác với những nghiên cứu thời kì tiền cấu trúc luận và cấu trúc luận, nghiên cứu ngữ nghĩa theo hướng logic, các nghiên cứu giai đoạn này được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác, như triết học, tâm lý học, lịch sử, xã hội học, v.
Nghiên cứu chuyển nghĩa theo hướng này được khởi xướng bởi W. Wundt liệu rẻ (1990), sau đó là các tác giả khác như K. Những nghiên cứu ban đầu này đã có tác dụng thúc đẩy nghiên cứu chuyển nghĩa. Nghiên cứu chuyển nghĩa theo hướng này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là thiết lập các quy luật biến đổi nghĩa.
Nhiều nhà nghiên cứu đã bàn đến nội dung này, như G. Tiêu biểu cho nghiên cứu theo hướng này là công trình Meaning and change of meaning: with special reference to the English language của G. Stern (1931) [146], trong đó cung cấp những lý thuyết cơ sở về ngữ nghĩa, các quy luật chuyển nghĩa và giải thích các quy luật chuyển nghĩa, sau đó là thảo luận về chức năng của ngôn ngữ, ngữ nghĩa của từ, nguyên nhân và điều kiện biến đổi nghĩa,. Ngoài ra, cuốn sách còn chỉ ra bảy lớp hạng biến đổi nghĩa, bao gồm: sự thay thế (substitution), sự loại suy (analogy), rút ngắn (shortening), định danh (nomination), chuyển đổi (transfer-regular), sự đổi trật tự (permutation), sự tương xứng (adequation).
Ullmann trong công trình Các nguyên lý Ngữ nghĩa học [116] kế thừa và chỉ ra các nhân tố làm thay đổi 11 nghĩa của từ gồm: cách gián đoạn di truyền (discontinuous), sự mơ hồ trong ý nghĩa (vagueness), mất nguồn đối (loss of motivation), tồn tại đa nghĩa (flexibility), văn cảnh tối nghĩa (ambiguous contexts) và cấu trúc của vốn từ (structure of the vocabulary). Theo Wellander - người đại diện cho khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử quan niệm: “sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong quá trình thực tế trưởng thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý” [Dẫn theo Đào Duy Anh, 1, tr. Với phương châm này, các nhà nghiên cứu chú trọng đi tìm sự trả lời cho câu hỏi là ý nghĩa mới của từ nảy sinh như thế nào trong lịch sử. Họ cho rằng kết quả của quá trình chuyển nghĩa được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ.
Các nhà nghiên cứu về hiện tượng này cũng đi đến thống nhất là nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng chuyển nghĩa là do sự biến đổi của lịch sự xã liệu rẻ hội. Lịch sử xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi/biến đổi/ chuyển nghĩa của từ. Cùng với việc đi tìm nguyên nhân nảy sinh ý nghĩa của từ, các tác giả cũng đưa ra các nhận định khác nhau về các hình thức phát triển nghĩa của từ. Mặc dù vẫn còn một số tranh cãi, tuy nhiên theo nhiều nhà ngôn ngôn ngữ trong tiếng Anh có bốn hình thức phát triển nghĩa là mở rộng, thu hẹp, chia nhánh và chuyển đổi.
Một nội dung quan trọng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm khi nghiên cứu nghĩa của từ nói chung, sự chuyển nghĩa của từ nói riêng chính là tìm ra các những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển nghĩa của từ. Từ những góc nhìn khác nhau, đối với mỗi ngôn ngữ khác nhau, các tác giả đưa ra những nguyên nhân ảnh hưởng khác nhau. Theo Aitchison, có hai nguyên nhân chính nguyên nhân chủ quan do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lý của người sử dụng và nguyên nhân khách quan thuộc về yếu tố xã hội. Đồng quan điểm trên, nhưng F.de Sausure lại nhấn mạnh đến yếu tố dân tộc, theo ông: “phong tục của một dân tộc có 12 tác động mạnh đến ngôn ngữ và mặt khác trong chừng mực khá quan trọng chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [36].
Ngược lại một số tác giả khác, tiêu biểu là Fromkin cho rằng có hai nguyên nhân chính cho hiện tượng này là do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm sinh lý của người học qua nhiều thế hệ. Lyons cho rằng nguyên nhân của sự thay đổi ngôn ngữ chính là sự thay đổi của xã hội. Những năm gần đây, hiện tượng chuyển nghĩa được nghiên cứu nhiều hơn với nhiều nội dung hơn, có thể kể đến các tác giả như J. Kitay (1987) (nghiên cứu theo trường nghĩa); hay như E.
Như vậy, nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Anh đã đạt liệu rẻ được nhiều kết quả quan trọng. Các nghiên cứu này đã đứng từ nhiều góc nhìn khác nhau như logic, tâm lý, lịch sử, triết học, xã hội,. để bàn luận, giải thích các quy luật chuyển nghĩa, các lớp nghĩa và các nguyên nhân chuyển nghĩa. Hiện tượng chuyển nghĩa nói riêng, nghĩa của từ nói chung luôn luôn vận động không ngừng nên việc nghiên cứu này vẫn còn là công việc tiếp tục trong tương lai của các nhà nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Hán Những năm gần đây, hiện tượng chuyển nghĩa từ trong tiếng Hán cũng được tập trung nghiên cứu và các nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận từ hai góc độ: cấu trúc truyền thống và tri nhận luận. Từ góc độ cấu trúc truyền thống thể hiện trên bốn phương diện sau: (i) Nguồn gốc đặc trưng của hiện tượng chuyển nghĩa từ trong tiếng Hán; (ii) Bản chất của chuyển nghĩa và tính chất chuyển hoá từ là hoạt dụng hay kiêm loại, cách sử dụng là dùng lâm thời hay dùng cố định; (iii) Đặc trưng ngữ nghĩa của hiện tượng chuyển nghĩa; (iv) Từ góc độ từ vựng - ngữ pháp và ngữ dụng để tìm hiểu quá trình chuyển nghĩa từ. Từ góc độ 13 tri nhận luận, các nhà Hán ngữ tập trung vào chuyển nghĩa trong nội bộ thực từ và các nghiên cứu tập trung chủ yếu là từ danh từ/động từ/tính từ. Dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa, theo Trình Trì (2015) [163] có thể thấy sự thay đổi của nghĩa gọi tên và nghĩa tính chất là sơ sở của quá trình chuyển nghĩa từ loại từ danh từ mang thuộc tính nghĩa tính từ.