Tổng quan luận án

Khuyết hổng phần mềm (KHPM) vùng cổ tay và bàn tay là dạng tổn thương thường gặp trong ngoại khoa chấn thương chỉnh hình, chủ yếu do tai nạn lao động (TNLĐ), tai nạn giao thông (TNGT), tai nạn sinh hoạt (TNSH), di chứng sẹo co kéo sau bỏng hoặc sau phẫu thuật cắt bỏ các tổ chức bệnh lý. Đặc điểm giải phẫu vùng cổ tay và bàn tay—đặc biệt là mặt mu tay—có lớp da mỏng, tổ chức mỡ dưới da lỏng lẻo, trong khi các cấu trúc quan trọng như gân gấp, gân duỗi, mạch máu và thần kinh nằm rất nông ngay sát dưới da. Khi xảy ra tổn thương mất da rách nát, các cấu trúc gân và xương dễ bị lộ ra ngoài. Nếu không được che phủ kịp thời bằng vật liệu mềm dẻo, có mạch máu nuôi dưỡng tốt, vết thương dễ dẫn đến các biến chứng nặng nề như hoại tử khô gân xương, sẹo dính hạn chế vận động, nhiễm khuẩn kéo dài hoặc viêm rò xương.

Trong điều trị thực tiễn, phương pháp ghép da tự do kinh điển chỉ áp dụng được khi đáy tổn thương còn tổ chức hạt tốt và không bị lộ gân xương. Khi tổn thương lộ gân xương rộng, các phương pháp tạo hình bằng vạt ngẫu nhiên tại chỗ hoặc vạt từ xa có nhược điểm phải phẫu thuật nhiều thì, tư thế cố định gò bó và tỷ lệ biến chứng cao. Các vạt tự do kinh điển như vạt đùi trước ngoài (ĐTN), vạt da - cân bả vai, vạt cơ lưng rộng hay vạt Delta tuy có kích thước lớn nhưng lớp mỡ dưới da thường dày, khi chuyển đến vùng bàn tay - ngón tay thường gây cộm, thô kệch và đòi hỏi nhiều lần phẫu thuật sửa mỏng thì hai. Ngược lại, vạt cẳng tay quay tuy có độ mỏng thích hợp nhưng lại buộc phải hy sinh một trong hai động mạch trục chính nuôi bàn tay (động mạch quay) và để lại vết sẹo kém thẩm mỹ ở cẳng tay.

Vạt cánh tay ngoài (CTN) và vạt cánh tay ngoài mở rộng (CTNMR) mang lại giải pháp khắc phục các nhược điểm trên nhờ các ưu điểm: cuống mạch hằng định xuất phát từ động mạch cánh tay sâu, đường kính mạch phù hợp cho khâu nối vi phẫu, tổ chức da - cân có độ dày vừa phải, ít lông, có thần kinh cảm giác đi kèm và nơi lấy vạt gây ảnh hưởng chức năng tối thiểu. Mặc dù trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu giải phẫu và áp dụng lâm sàng vạt CTN và CTNMR, nhưng tại Việt Nam thời điểm tác giả thực hiện đề tài chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống gắn liền các đặc điểm giải phẫu của vạt CTNMR với ứng dụng lâm sàng vi phẫu điều trị khuyết hổng phần mềm chuyên biệt cho vùng cổ tay và bàn tay.

Luận án xác định 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả các đặc điểm giải phẫu của vạt cánh tay ngoài và vạt cánh tay ngoài mở rộng ở người Việt trưởng thành.
  2. Đánh giá kết quả ứng dụng vạt cánh tay ngoài trong điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cổ tay và bàn tay.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án:

  • Nghiên cứu giải phẫu: Thực hiện trên 34 tiêu bản chi trên của 17 xác người Việt trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu Đại học Y - Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2014 đến tháng 5/2014.
  • Nghiên cứu ứng dụng lâm sàng: Thực hiện trên 45 bệnh nhân với 46 vạt cánh tay ngoài được phẫu thuật điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cổ tay và bàn tay tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 theo phương pháp hồi cứu kết hợp tiến cứu trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các mốc nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng lâm sàng của vạt cánh tay ngoài qua các thời kỳ:

Nghiên cứu giải phẫu trên thế giới:

  • Năm 1982, Song R. và cộng sự công bố nghiên cứu giải phẫu trên 18 cánh tay ở 9 tử thi, lần đầu tiên định danh "Vạt động mạch vách da" (Septocutaneous artery flap) vùng cánh tay ngoài ứng dụng che phủ vùng đầu cổ.
  • Năm 1985, Russell R.C. và cộng sự mô tả chi tiết giải phẫu vạt da - cân CTN trên 25 cánh tay đứt rời và 3 ca lâm sàng, xác định trục vạt là đường thẳng nối mỏm cùng vai với mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay, động mạch nuôi vạt là động mạch bên quay sau chạy trong vách liên cơ ngoài.
  • Năm 1989, Matloub H.S. và cộng sự khảo sát 25 xác tươi, ghi nhận động mạch bên quay sau tách ít nhất 4 nhánh cân trong khoảng 1–15 cm phía trên mỏm trên lồi cầu ngoài, chiều dài cuống mạch trung bình 7,8 cm và đường kính trung bình 2,0 mm.
  • Năm 1991, Katsaros J. cùng Kuek và Chuan lần đầu báo cáo việc mở rộng vạt cánh tay ngoài xuống cẳng tay trên (vạt CTNMR).
  • Năm 1993, Kakar F. và cộng sự sử dụng kỹ thuật bơm Xanh methylen và Latex chứng minh sự thông nối giữa động mạch bên quay sau với động mạch gian cốt quặt ngược, cho phép cuống vạt kéo dài thêm từ 4,5–10 cm và lấy vạt vượt quá lồi cầu ngoài xuống cẳng tay đến 12 cm.
  • Năm 1995, Lanzetta M. và cộng sự phẫu tích 12 xác tươi, ghi nhận động mạch bên quay sau tỏa rộng xuống cẳng tay ngoài trung bình 13 cm, cho phép lấy vạt da mỏng hơn và cuống dài hơn.
  • Năm 2000, Haas F. và cộng sự khảo sát 10 xác tươi và xác định dưới mỏm trên lồi cầu ngoài, động mạch phân chia thành mạng lưới vi mạch nông sát da chứ không phải một thân mạch đơn độc, do đó phần da cẳng tay phải lấy liên tục với da cánh tay ngoài.
  • Năm 2003, Hennerbichler A. và cộng sự phẫu tích 24 chi thể xác tươi, chứng minh 3 nhánh xuyên vách - da hằng định cấp máu cho vạt và ghi nhận các nhánh cấp máu cho mào trên lồi cầu ngoài từ động mạch bên quay sau, mở ra khả năng lấy vạt phức hợp da - xương cánh tay.
  • Năm 2005, Cavadas P.C. và cộng sự khảo sát 69 chi trên xác định vai trò của động mạch bên giữa trong việc cấp máu cho vạt cánh tay ngoài "cực rộng" theo dòng chảy ngược.
  • Năm 2009, Tan B.K. và cộng sự nghiên cứu 13 tử thi nam, xác định động mạch bên giữa hiện hữu 100% các trường hợp (61,5% tách từ động mạch bên quay sau và 38,5% tách từ động mạch cánh tay sâu), hỗ trợ thiết kế vạt mở rộng cuống Y - V.
  • Năm 2014, Wang Y. và cộng sự nghiên cứu 20 chi thể người lớn, chứng minh kỹ thuật lấy vạt CTN tự do cải tiến cho chiều dài cuống mạch đạt 14,85 ± 1,28 cm (so với 5,56 ± 2,60 cm ở kỹ thuật truyền thống).
  • Năm 2014, de Rezende M.R. và cộng sự lập bản đồ 1–3 nhánh động mạch xuyên trên 12 tử thi và hồi cứu 51 bệnh nhân, xác định vị trí các nhánh xuyên A, B, C cách chỗ bám tận cơ Delta lần lượt là 7,2 cm, 9,9 cm và 11,8 cm.

Ứng dụng lâm sàng trên thế giới:

  • Năm 1984, Katsaros J. công bố 23 ca lâm sàng đầu tiên dùng vạt CTN (da đơn thuần, cân, da - xương, da - cơ, vạt có nối thần kinh cảm giác).
  • Năm 1992, Culbertson J. ứng dụng vạt CTN cuống ngoại vi che phủ khuyết hổng vùng khuỷu dựa trên vòng nối với động mạch gian cốt quặt ngược.
  • Năm 1995, Schrudde J. báo cáo 73 trường hợp vạt CTN với tỷ lệ thành công 96%.
  • Năm 2002, Choudry U.H. dùng 13 vạt CTNMR đạt tỷ lệ sống 92,3%, kích thước vạt tới 23 x 7 cm, cuống dài 9–14 cm.
  • Năm 2003, Bakhach J. áp dụng 17 vạt CTNMR che phủ tổn khuyết đầu cổ và chu vi thực quản, lấy vạt xuống dưới lồi cầu ngoài tới 10 cm.
  • Năm 2006, Yazar S. báo cáo 74 vạt CTN cho 72 bệnh nhân khuyết hổng chi trên.
  • Năm 2008, Stevanovic M. công bố 118 ca lâm sàng khuyết hổng bàn tay dùng vạt CTN đạt tỷ lệ thành công 97,5%.
  • Năm 2009, Adani R. dùng 6 vạt CTN đoạn thấp phục hồi tổn thương lột găng ngón tay đạt kết quả tốt về tầm vận động và cảm giác.
  • Năm 2010, Goncalves R. dùng 23 vạt CTNMR với tỷ lệ thành công 100%, vạt mở rộng xuống dưới lồi cầu ngoài trung bình 4,9 cm.
  • Năm 2010, Heitmann C. báo cáo 21 vạt CTN tự do điều trị khuyết hổng cẳng tay và bàn tay với 100% thành công và đóng trực tiếp nơi cho vạt.
  • Năm 2012, Horta R. sử dụng 9 vạt CTNMR chuyển tại chỗ che phủ mỏm khuỷu.
  • Năm 2013, Pellini R. báo cáo 24 trường hợp dùng vạt CTN tự do cho bàn tay.
  • Năm 2015, Ince B. báo cáo 9 ca dùng vạt CTNMR có cuống (8 ca chéo cánh tay) che phủ bàn tay và cẳng tay.

Nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Năm 2008, Trương Uyên Cường nghiên cứu giải phẫu 12 xác (6 tươi, 18 khô) và áp dụng lâm sàng 17 vạt CTN kinh điển trên 16 bệnh nhân (tỷ lệ thành công 94,12%), xác định đường kính động mạch bên quay sau là 1,38 ± 0,2 mm, tĩnh mạch là 1,59 ± 0,2 mm, độ dài cuống 5,96 ± 0,68 cm.
  • Năm 2009, Nguyễn Việt Tiến và cộng sự ứng dụng 22 vạt CTN (20 vạt tự do, 2 vạt cuống liền) điều trị khuyết hổng bàn tay và bàn chân, vạt sống 21/22 ca, phục hồi cảm giác đạt S2–S3.
  • Năm 2011, Lê Văn Đoàn và cộng sự tạo hình 41 tổn khuyết vùng tỳ đè bàn chân bằng 41 vạt da cân tự do có nối thần kinh (25 vạt CTN, 16 vạt Delta) đạt tỷ lệ thành công 97,56%.
  • Năm 2012, Nguyễn Đức Nghĩa nghiên cứu 45 mẫu vạt CTN trên 30 xác khô, ghi nhận động mạch bên quay chia nhánh trước/sau ở 82,22%, nhánh sau nối với động mạch gian cốt quặt ngược ở 91,11%, chiều dài cuống mạch 7,4 ± 1,3 cm.
  • Năm 2016, Nguyễn Huy Cảnh nghiên cứu 36 tiêu bản xác và 31 bệnh nhân tạo hình hàm mặt bằng vạt CTN tự do, đạt tỷ lệ sống toàn bộ 96,8%.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tập trung vào vạt CTN kinh điển trên vùng đầu mặt hoặc bàn chân, chưa khảo sát đầy đủ cấu trúc giải phẫu vạt CTNMR (dạng tận cùng của động mạch bên quay sau, mạng lưới nhánh xuyên vách da dưới mỏm trên lồi cầu ngoài, sự phân bố của thần kinh bì cẳng tay sau) và chưa có nghiên cứu hệ thống đánh giá kết quả ứng dụng vạt CTN/CTNMR trong phục hồi chức năng và thẩm mỹ cho các khuyết hổng vùng cổ tay và bàn tay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Cơ sở giải phẫu của vạt cánh tay ngoài dựa trên hệ thống phân nhánh của động mạch cánh tay sâu—ngành bên của động mạch cánh tay đi trong rãnh xoắn xương cánh tay cùng thần kinh quay. Trong rãnh xoắn, động mạch cánh tay sâu chia thành động mạch bên giữa và động mạch bên quay. Động mạch bên quay tiếp tục phân đôi thành:

  • Động mạch bên quay trước: Nhỏ, không hằng định, đi cùng thần kinh quay ra khu cánh tay trước nối với nhánh trước động mạch quặt ngược quay.
  • Động mạch bên quay sau: Đi vào vách liên cơ ngoài (giữa cơ tam đầu ở phía sau và cơ cánh tay, cơ cánh tay quay ở phía trước), cho các nhánh xuyên vách - da nuôi dưỡng da và cân vùng 1/3 dưới cánh tay ngoài, các nhánh nuôi xương cánh tay và đi xuống nối tiếp với động mạch gian cốt quặt ngược cùng mạng mạch quanh mỏm trên lồi cầu ngoài.
  • Hệ thống dẫn lưu tĩnh mạch: Gồm tĩnh mạch nông (tĩnh mạch đầu) và 1 đến 2 tĩnh mạch sâu tùy hành theo động mạch bên quay sau đổ về tĩnh mạch cánh tay sâu.
  • Thần kinh cảm giác: Thần kinh bì cánh tay dưới ngoài (nhánh của thần kinh quay) chi phối vùng da cánh tay ngoài kinh điển; thần kinh bì cẳng tay sau chi phối vùng da thấp và vùng cẳng tay trên (vùng vạt mở rộng).

Phương pháp nghiên cứu giải phẫu trên xác

  • Địa điểm: Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y - Dược Thành phố Hồ Chí Minh (3/2014 - 5/2014).
  • Cỡ mẫu và đối tượng: 34 tiêu bản chi trên của 17 xác người Việt trưởng thành (9 nam, 8 nữ), gồm 16 tiêu bản xác khô (bảo quản dung dịch Formalin 10% trong 3 năm đầu) và 18 tiêu bản xác tươi (bảo quản lạnh ở -30°C, rã đông trước phẫu tích 2 ngày).
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Xác người Việt trên 18 tuổi, vùng cánh tay và cẳng tay hai bên còn nguyên vẹn, không có tiền sử chấn thương, phẫu thuật mạch máu hay bệnh lý u bướu làm biến dạng giải phẫu.
  • Phương tiện kỹ thuật: Bộ dụng cụ phẫu tích đại thể và vi phẫu, kính lúp độ phóng đại 2,5 lần, thước đo độ dài mm (độ chính xác 0,1 mm), thước kẹp Palmer chuyên dụng, kim luồn mạch máu, bơm tiêm và dung dịch Xanh methylen 1%.
  • Quy trình phẫu tích: Xác đặt nằm ngửa, cánh tay gập 45°, dạng 15°, gấp khuỷu 30°. Xác định trục vạt là đường thẳng nối mỏm cùng vai – mỏm trên lồi cầu ngoài (vạt CTN) và kéo dài xuống mỏm trâm quay (vạt CTNMR, chia cẳng tay thành 9 phần A, B, C, D, E, F, G, H, I, K). Bộc lộ cuống mạch, đo chiều dài, đường kính ngoài của động mạch, tĩnh mạch, khảo sát nguyên ủy, đường đi, các nhánh xuyên vách da, sự thông nối với động mạch gian cốt quặt ngược, đường đi thần kinh cảm giác và bơm Xanh methylen 1% để đo diện tích ngấm cấp máu trên da.

Phương pháp nghiên cứu ứng dụng lâm sàng

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp hồi cứu và tiến cứu không đối chứng trên 45 bệnh nhân với 46 vạt CTN/CTNMR tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (2008 - 2017).
  • Quy trình phẫu thuật:
    • Chuẩn bị tổn khuyết: Cắt lọc sạch tổ chức hoại tử, xử trí gãy xương, tổn thương gân, mạch máu, thần kinh phối hợp hoặc đặt VAC dẫn lưu chuẩn bị đáy khuyết hổng.
    • Thiết kế và bóc vạt: Dựa theo trục vạt (mỏm cùng vai – lồi cầu ngoài – mỏm trâm quay). Bóc vạt da - cân từ bờ sau (trên cơ tam đầu) và bờ trước (trên cơ cánh tay quay) vào vách gian cơ ngoài, bảo tồn cuống mạch bên quay sau và thần kinh cảm giác (TK bì cánh tay dưới ngoài hoặc TK bì cẳng tay sau).
    • Chuyển ghép và nối vi phẫu: Sử dụng kỹ thuật nối tận - tận hoặc tận - bên cho động mạch và tĩnh mạch (mũi rời hoặc mũi vắt), khâu nối thần kinh cảm giác của vạt với thần kinh cảm giác nơi nhận (nhánh nông TK quay, TK trụ hoặc TK giữa).
    • Xử lý nơi lấy vạt: Khâu đóng trực tiếp hoặc ghép da dày/mảnh ghép da xẻ đôi bổ sung.
  • Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
    • Kết quả gần: Đánh giá tình trạng sống của vạt (sống hoàn toàn, hoại tử một phần, hoại tử toàn bộ), biến chứng tắc mạch, tụ máu, nhiễm trùng.
    • Kết quả xa: Đánh giá sự liền sẹo, độ dày vạt, độ mềm mại, tính thẩm mỹ; phục hồi cảm giác theo thang điểm của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh (BMRC: S0 đến S4); đánh giá chức năng vùng cho vạt (tầm vận động khớp khuỷu, lực cơ duỗi tam đầu bằng lực kế, chu vi cánh tay so với bên lành, cảm giác tê bì nơi cho vạt).
  • Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học của Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108.
Thông số phương pháp Nghiên cứu giải phẫu Nghiên cứu lâm sàng
Đối tượng 34 tiêu bản (17 xác: 9 tươi, 8 khô) 45 bệnh nhân (46 vạt CTN/CTNMR)
Địa điểm ĐH Y - Dược TP. Hồ Chí Minh Bệnh viện TƯQĐ 108
Thời gian 03/2014 - 05/2014 2008 - 2017
Chỉ tiêu chính Nguyên ủy, nhánh xuyên, chiều dài, đường kính mạch, thần kinh, diện ngấm màu Tỷ lệ sống của vạt, phục hồi cảm giác (BMRC), chức năng vận động và thẩm mỹ

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 tổng hợp toàn diện các đặc điểm giải phẫu học vùng cổ tay - bàn tay, bao gồm cấu trúc 27 xương bàn tay, hệ thống gân gấp - gân duỗi, 4 cung động mạch cấp máu (cung gan tay nông, cung gan tay sâu, cung mu cổ tay, mạng mạch gan ngón) và 3 dây thần kinh chính (thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh quay). Tác giả phân tích tính chất mỏng của da mu tay và tính chất chuyên biệt của da gan tay liên quan mật thiết đến chỉ định lựa chọn chất liệu che phủ.

Chương này cũng phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp điều trị khuyết hổng phần mềm từ kinh điển đến hiện đại:

  • Ghép da tự do và vạt ngẫu nhiên tại chỗ: Hạn chế khi lộ gân xương, dễ co rút, khả năng chịu lực tỳ đè kém.
  • Liệu pháp hút áp lực âm (VAC): Giúp làm sạch vết thương nhiễm khuẩn, kích thích tổ chức hạt, đóng vai trò cầu nối chuẩn bị đáy tổn thương cho phẫu thuật chuyển vạt.
  • Các vạt cuống liền lân cận (vạt cẳng tay quay, vạt gian cốt sau, vạt cẳng tay trụ) và vạt từ xa (vạt bẹn, vạt CTN đối bên): Đánh giá về sự hy sinh mạch máu chính, độ dày mô đệm và sẹo xấu nơi cho vạt.
  • Vạt tự do vi phẫu (vạt ĐTN, vạt bả vai, vạt mạch xuyên siêu vi phẫu): Đòi hỏi kỹ thuật cao, vạt thường dày đối với vùng mu bàn tay.
  • Lược sử và các nghiên cứu về giải phẫu, ứng dụng lâm sàng của vạt CTN, vạt CTNMR trong và ngoài nước, cùng việc áp dụng chẩn đoán hình ảnh chụp CT-320 dựng hình mạch máu 3 chiều xác định cây mạch máu cấp máu cho vạt.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa giải phẫu thực nghiệm trên xác và theo dõi lâm sàng:

  • Đối tượng và kỹ thuật giải phẫu: Mô tả quy trình phẫu tích 34 tiêu bản chi trên (18 tiêu bản xác tươi bảo quản -30°C và 16 tiêu bản xác khô bảo quản formalin 10%). Xác định các mốc giải phẫu (mỏm cùng vai, mỏm trên lồi cầu ngoài, mỏm trâm quay), các bước bộc lộ động mạch cánh tay sâu, động mạch bên quay sau, các nhánh xuyên vách - da, đo đạc đường kính ngoài bằng thước kẹp Palmer và chiều dài cuống mạch bằng thước đo mm chính xác 0,1 mm. Kỹ thuật bơm Xanh methylen 1% để định lượng diện tích cấp máu an toàn trên da.
  • Đối tượng và kỹ thuật lâm sàng: Mô tả 45 bệnh nhân với 46 tổn khuyết phần mềm vùng cổ tay - bàn tay được điều trị bằng vạt CTN/CTNMR. Quy trình phẫu thuật bao gồm cắt lọc, chuẩn bị mạch nhận, kỹ thuật bóc vạt da - cân từ cánh tay ngoài mở rộng xuống cẳng tay trên, khâu nối vi phẫu mạch máu (tận - tận mũi rời hoặc mũi vắt, xử lý mạch khẩu kính không đều) và khâu nối thần kinh cảm giác.
  • Tiêu chí đánh giá kết quả: Phân loại kết quả gần (tốt, khá, kém dựa trên tỷ lệ sống của vạt và mức độ liền vết thương); kết quả xa (đánh giá chức năng vận động cơ tam đầu bằng lực kế, biên độ khớp khuỷu, chu vi vòng cánh tay, phục hồi cảm giác theo thang BMRC, đánh giá thẩm mỹ nơi cho và nhận vạt). Phương pháp xử lý số liệu y sinh học và cam kết y đức.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ nghiên cứu giải phẫu và lâm sàng:

Kết quả nghiên cứu giải phẫu (34 tiêu bản):

  • Động mạch bên quay sau hiện diện ở 100% tiêu bản, chạy dọc theo vách liên cơ ngoài giữa cơ tam đầu và cơ cánh tay/cánh tay quay.
  • Chiều dài cuống mạch động mạch bên quay sau và tĩnh mạch tùy hành đạt kích thước thuận lợi cho phẫu tích vi phẫu.
  • Đường kính ngoài của động mạch bên quay sau và các tĩnh mạch tùy hành tương thích tốt với khẩu kính các mạch nhận tại vùng cổ tay - bàn tay (nhánh động mạch quay, động mạch trụ, nhánh mu tay).
  • Số lượng nhánh xuyên vách - da xuất phát từ động mạch bên quay sau phân bố đều đặn dọc theo vách gian cơ ngoài từ 1 đến 15 cm phía trên mỏm trên lồi cầu ngoài và tiếp tục tỏa nhánh xuống vùng cẳng tay trên.
  • Động mạch bên quay sau nối thông hằng định với động mạch gian cốt quặt ngược quanh mỏm trên lồi cầu ngoài ở hầu hết các tiêu bản.
  • Thần kinh bì cánh tay dưới ngoài hiện diện ở 100% tiêu bản chi phối cho vạt CTN kinh điển; thần kinh bì cẳng tay sau đi kèm cuống mạch cấp máu chi phối cảm giác cho vùng vạt mở rộng (CTNMR).
  • Diện ngấm Xanh methylen trên da cho thấy diện tích cấp máu an toàn mở rộng vượt quá mỏm trên lồi cầu ngoài xuống 1/3 trên cẳng tay từ 8–10 cm.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng (45 bệnh nhân / 46 vạt):

  • Nguyên nhân tổn thương: Chủ yếu do tai nạn lao động và tai nạn giao thông; một số do bỏng, sẹo co kéo và nhiễm trùng sau chấn thương.
  • Vị trí khuyết hổng: Phân bố tại mu bàn tay, gan bàn tay, vùng cổ tay, ngón tay và các tổn thương phức tạp nhiều vùng phối hợp.
  • Kích thước vạt sử dụng: Chiều dài vạt dao động từ các tổn khuyết vừa đến các vạt mở rộng có chiều dài lớn (đạt tới 18–20 cm), chiều rộng từ 3–9 cm.
  • Dạng vạt áp dụng: Vạt da - cân CTN tự do, vạt CTNMR tự do, vạt có nối thần kinh cảm giác phục hồi chức năng cảm giác bảo vệ.
  • Kết quả liền vết thương và tỷ lệ sống của vạt: Đại đa số vạt sống hoàn toàn (đạt tỷ lệ trên 95%), một tỷ lệ rất nhỏ hoại tử một phần nông mép vạt được xử lý cắt lọc ghép da thì hai và liền sẹo ổn định; không có trường hợp nào thất bại hoàn toàn gây mất toàn bộ vạt.
  • Phục hồi chức năng và cảm giác: Các trường hợp có nối thần kinh đạt phục hồi cảm giác mức S2 đến S3+ theo thang điểm BMRC sau 6 đến 12 tháng theo dõi.
  • Đánh giá nơi cho vạt: Các vạt có chiều rộng ≤ 6 cm hầu hết được khâu đóng trực tiếp thì đầu; lực cơ duỗi tam đầu cánh tay và biên độ vận động khớp khuỷu bên cho vạt không có sự suy giảm có ý nghĩa so với bên lành đối diện.
Nhóm chỉ tiêu Kết quả ghi nhận trong nghiên cứu
Động mạch cấp máu vạt ĐM bên quay sau xuất phát từ ĐM cánh tay sâu (100%)
Vòng nối lồi cầu ngoài Nối thông với ĐM gian cốt quặt ngược ở đa số các tiêu bản
Thần kinh cảm giác TK bì cánh tay dưới ngoài (vạt CTN) và TK bì cẳng tay sau (vạt CTNMR)
Khả năng mở rộng vạt Mở rộng xuống dưới mỏm trên lồi cầu ngoài 8–10 cm
Tỷ lệ vạt sống lâm sàng Sống hoàn toàn > 95%, liền sẹo ổn định
Phục hồi cảm giác vạt Đạt mức S2 - S3+ (thang điểm BMRC) ở các vạt có nối TK
Đóng nơi cho vạt Đóng trực tiếp thì đầu khi chiều rộng vạt ≤ 6 cm

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, đối chiếu sâu sắc các phát hiện giải phẫu và lâm sàng của luận án với y văn trong và ngoài nước:

Về giải phẫu:

  • Tác giả so sánh nguyên ủy, đường đi, chiều dài và đường kính của động mạch bên quay sau với các nghiên cứu của Song R., Russell R.C., Matloub H.S., Hennerbichler A., Trương Uyên Cường, Nguyễn Đức Nghĩa và Nguyễn Huy Cảnh. Kết quả khẳng định cuống mạch bên quay sau có giải phẫu hằng định cao, đường kính mạch từ 1,3–1,5 mm rất tương thích với khẩu kính vi phẫu của các nhánh mạch vùng cổ tay - bàn tay.
  • Khẳng định cơ sở giải phẫu của vạt CTNMR: Sự thông nối phong phú giữa động mạch bên quay sau với động mạch gian cốt quặt ngược và mạng mạch quanh khuỷu cho phép nâng vạt da - cân vượt quá mỏm trên lồi cầu ngoài xuống cẳng tay trên từ 8–10 cm một cách an toàn mà không làm hoại tử đầu xa vạt.
  • Bàn luận về thần kinh cảm giác: Việc xác định rõ thần kinh bì cánh tay dưới ngoài cho phần cánh tay và thần kinh bì cẳng tay sau cho phần cẳng tay trên mở rộng là cơ sở quan trọng để thực hiện phẫu thuật vạt có cảm giác.

Về lâm sàng:

  • Lý do lựa chọn vạt CTN/CTNMR cho vùng cổ tay - bàn tay: Vạt có độ dày mỏng và mềm mại hơn vạt đùi trước ngoài hay vạt bả vai, màu sắc da phù hợp với chi trên, không có lông nhiều, giúp phục hồi đường nét giải phẫu bàn tay mà không cần phẫu thuật sửa mỏng nhiều lần.
  • So với vạt cẳng tay quay: Vạt CTN/CTNMR không phải hy sinh động mạch quay—bảo tồn nguyên vẹn nguồn cấp máu chính cho bàn tay, đồng thời sẹo vùng cánh tay ngoài và mặt sau cẳng tay kín đáo hơn, ít co rút hơn so với sẹo mặt trước cẳng tay.
  • Kỹ thuật phẫu tích và xử lý biến chứng: Bàn luận về kinh nghiệm phẫu tích bộc lộ vách gian cơ ngoài, kỹ thuật lấy cuống mạch dài tới tận nguyên ủy động mạch cánh tay sâu, các biện pháp chống xoắn vặn cuống mạch và kỹ thuật khâu nối vi phẫu tĩnh mạch nhằm phòng tránh biến chứng tắc mạch sau mổ.
  • Đánh giá di chứng nơi cho vạt: Việc lấy vạt da - cân không làm tổn hại cơ tam đầu hay thần kinh vận động (thần kinh quay được bảo tồn an toàn trong rãnh xoắn), do đó lực duỗi khuỷu và tầm vận động khớp khuỷu sau mổ được bảo tồn hoàn toàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Cung cấp hệ thống dữ liệu nhân trắc giải phẫu hoàn chỉnh về vạt cánh tay ngoài và vạt cánh tay ngoài mở rộng trên người Việt Nam trưởng thành, bao gồm nguyên ủy, đường đi, phân nhánh xuyên vách - da, chiều dài, đường kính của động mạch bên quay sau và các tĩnh mạch tùy hành.
  2. Xác lập rõ ràng cơ sở giải phẫu mạch máu và thần kinh của việc mở rộng vạt cánh tay ngoài xuống cẳng tay trên (vạt CTNMR): Chứng minh sự thông nối mạch máu hằng định giữa động mạch bên quay sau với động mạch gian cốt quặt ngược quanh mỏm trên lồi cầu ngoài và xác định đường đi của thần kinh bì cẳng tay sau chi phối cảm giác cho phần vạt mở rộng.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Ứng dụng thành công kỹ thuật chuyển vạt CTN và CTNMR tự do có nối mạch máu và thần kinh vi phẫu để điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cổ tay và bàn tay, đạt tỷ lệ vạt sống cao và phục hồi chức năng cảm giác bảo vệ đạt mức S2–S3+ theo thang điểm BMRC.
  2. Chứng minh tính ưu việt của vạt CTNMR trong việc cung cấp chất liệu che phủ mỏng, mềm mại, diện tích lớn, cuống mạch dài mà không cần hy sinh các động mạch trục chính nuôi dưỡng bàn tay (như động mạch quay), giảm thiểu số lần phẫu thuật chỉnh sửa mỏng vạt thì hai.
  3. Đề xuất quy trình thiết kế, phẫu tích bóc vạt an toàn và giải pháp xử lý nơi cho vạt (khâu đóng trực tiếp khi chiều rộng vạt ≤ 6 cm), đảm bảo tính thẩm mỹ và bảo tồn nguyên vẹn chức năng vận động duỗi khuỷu của cơ tam đầu cánh tay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Cỡ mẫu nghiên cứu giải phẫu trên xác gồm 34 tiêu bản (17 xác) được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện do nguồn tiêu bản giải phẫu người lớn còn hạn chế.
  • Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại như chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CT-320 dựng hình 3D) chỉ mới bước đầu được áp dụng khảo sát hệ động mạch, chưa thể hiện được chi tiết cấu trúc giải phẫu của hệ tĩnh mạch dẫn lưu và thần kinh cảm giác trên cơ thể sống.
  • Nghiên cứu lâm sàng được thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật tạo hình vi phẫu tuyến cuối (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) với đội ngũ phẫu thuật viên chuyên sâu và trang thiết bị vi phẫu hoàn chỉnh, đòi hỏi điều kiện kỹ thuật cao khi triển khai tại các tuyến điều trị khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Ứng dụng thường quy các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn trước mổ như siêu âm Doppler màu và chụp CT-angiography đa dãy dựng hình mạch máu nhằm lập bản đồ chính xác các nhánh xuyên của động mạch bên quay sau trên từng bệnh nhân cụ thể.
  • Mở rộng nghiên cứu và ứng dụng các dạng vạt phức hợp cánh tay ngoài: Vạt phức hợp da - xương cánh tay (dựa trên các nhánh nuôi xương từ động mạch bên quay sau) để điều trị các tổn khuyết kết hợp mất đoạn xương và phần mềm ở bàn tay; vạt phức hợp da - cơ tam đầu.
  • Xây dựng và chuyển giao quy trình phẫu thuật vạt cánh tay ngoài mở rộng có cuống hoặc tự do cho các bệnh viện tuyến tỉnh có đủ điều kiện phẫu thuật tạo hình - vi phẫu.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:

  • Bác sĩ chuyên khoa Chấn thương - Chỉnh hình và Phẫu thuật Tạo hình - Thẩm mỹ: Luận án cung cấp cẩm nang chi tiết về mốc giải phẫu, các bước phẫu tích vạt CTN/CTNMR, kỹ thuật kéo dài cuống mạch, cách chọn mạch nhận và xử lý khâu nối vi phẫu tại vùng cổ tay - bàn tay.
  • Bác sĩ chuyên ngành Vi phẫu thuật: Nắm vững các thông số khẩu kính mạch máu, biến thể giải phẫu của tĩnh mạch tùy hành và tĩnh mạch nông, từ đó chủ động phương án nối mạch và xử trí chống tắc mạch.
  • Nghiên cứu sinh, Học viên Cao học, Bác sĩ Nội trú ngành Ngoại khoa: Luận án là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu hình thái học giải phẫu thực nghiệm trên xác và nghiên cứu ứng dụng lâm sàng trên người bệnh.
  • Các nhà quản lý y tế và chuyên gia phục hồi chức năng: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về hiệu quả phục hồi chức năng bàn tay sau chấn thương, giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị bảo tồn chi thể cho người lao động bị tai nạn lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vạt cánh tay ngoài mở rộng (CTNMR) khác biệt như thế nào so với vạt cánh tay ngoài (CTN) kinh điển? Vạt CTN kinh điển có giới hạn dưới chỉ lấy đến ngang mức mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay, do đó diện tích vạt bị hạn chế và cuống mạch tương đối ngắn. Vạt CTNMR được thiết kế kéo dài vượt qua mỏm trên lồi cầu ngoài xuống vùng 1/3 trên cẳng tay từ 8 đến 10 cm. Nhờ sự nối thông giữa động mạch bên quay sau với động mạch gian cốt quặt ngược, vạt CTNMR có diện tích lớn hơn, lớp da ở phần cẳng tay mỏng hơn và cho phép phẫu tích cuống mạch dài hơn đáng kể.

  2. Nguồn mạch cấp máu chính và thần kinh cảm giác của vạt cánh tay ngoài là gì? Mạch máu cấp máu chính cho vạt là động mạch bên quay sau—một trong hai nhánh tận của động mạch cánh tay sâu (thuộc hệ động mạch cánh tay), chạy dọc trong vách liên cơ ngoài. Dẫn lưu tĩnh mạch gồm 1 đến 2 tĩnh mạch tùy hành sâu và tĩnh mạch đầu nông. Thần kinh cảm giác của vạt gồm thần kinh bì cánh tay dưới ngoài (chi phối vùng da cánh tay của vạt CTN kinh điển) và thần kinh bì cẳng tay sau (chi phối vùng da cẳng tay của vạt CTNMR), cả hai đều là các nhánh tách từ thần kinh quay.

  3. Tại sao vạt cánh tay ngoài/CTNMR được ưu tiên lựa chọn cho vùng cổ tay - bàn tay so với vạt cẳng tay quay hay vạt đùi trước ngoài? So với vạt cẳng tay quay, vạt CTN/CTNMR không làm tổn thương hoặc hy sinh động mạch quay (nguồn cấp máu chính cho bàn tay) và để lại sẹo ở vị trí kín đáo hơn, ít co kéo hơn. So với vạt đùi trước ngoài hay vạt bả vai, vạt CTN/CTNMR mỏng hơn, mềm mại hơn, ít lông và màu sắc da tương đồng với chi trên, giúp tránh được tình trạng vạt cộm dày và không phải phẫu thuật sửa mỏng nhiều lần.

  4. Cỡ mẫu nghiên cứu giải phẫu và lâm sàng trong luận án được thực hiện trên bao nhiêu trường hợp? Nghiên cứu giải phẫu được tiến hành trên 34 tiêu bản chi trên của 17 xác người Việt trưởng thành (9 xác tươi, 8 xác khô) tại Đại học Y - Dược TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành trên 45 bệnh nhân với 46 vạt cánh tay ngoài được phẫu thuật điều trị khuyết hổng phần mềm cổ tay - bàn tay tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

  5. Việc lấy vạt cánh tay ngoài có làm suy giảm chức năng vận động của tay bên cho vạt không? Kết quả nghiên cứu chứng minh việc lấy vạt da - cân cánh tay ngoài không làm tổn hại đến chức năng vận động. Thần kinh quay được bảo tồn nguyên vẹn trong rãnh xoắn, các nhánh vận động cho cơ tam đầu cánh tay và cơ cánh tay quay không bị thương tổn. Đánh giá lực duỗi khuỷu cơ tam đầu bằng lực kế và đo biên độ vận động khớp khuỷu sau mổ cho thấy không có sự suy giảm có ý nghĩa thống kê so với tay lành đối diện. Vị trí lấy vạt có chiều rộng ≤ 6 cm được khâu đóng trực tiếp thì đầu, đảm bảo liền sẹo thẩm mỹ tốt.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Vũ Minh Hiệp đã giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở giải phẫu vững chắc của vạt cánh tay ngoài và vạt cánh tay ngoài mở rộng trên người Việt Nam, đồng thời chứng minh hiệu quả ứng dụng vi phẫu điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cổ tay và bàn tay. Công trình khẳng định vạt CTN/CTNMR là chất liệu tạo hình mềm mại, có độ dày phù hợp, cuống mạch hằng định, có thần kinh cảm giác và cho phép mở rộng vạt xuống cẳng tay an toàn mà không cần hy sinh động mạch trục của chi thể. Kết quả nghiên cứu đạt tỷ lệ thành công lâm sàng cao, phục hồi tốt cả về chức năng vận động, cảm giác và thẩm mỹ, đóng góp nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị cho chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Tạo hình Vi phẫu tại Việt Nam.