Luận án Tiến sĩ: Đánh Giá Diễn Biến Năng Lượng Bão và Khả Năng Dự Báo Trên Biển Đông

Luận án tiến sĩ phân tích khí tương nghiên cứu đánh giá diễn biến năng lượng bão trên biển đông và khả năng dự báo, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Trường đại học

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

161
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Năng lượng bão và diễn biến thời tiết trên Biển Đông

Luận án tập trung nghiên cứu năng lượng bãodiễn biến thời tiết trên Biển Đông, một khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bão và áp thấp nhiệt đới. Năng lượng bão được đo lường thông qua các chỉ số như ACE (Accumulated Cyclone Energy), phản ánh cường độ và tần suất của bão. Nghiên cứu chỉ ra rằng Biển Đông là khu vực có sự biến đổi mạnh về năng lượng bão do tác động của biến đổi khí hậu và các yếu tố môi trường khác. Các phân tích cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ mặt nước biển (SST)năng lượng bão, đặc biệt là sự gia tăng SST dẫn đến tăng cường độ bão.

1.1. Đặc điểm diễn biến năng lượng bão

Nghiên cứu đã phân tích đặc điểm diễn biến năng lượng bão trên Biển Đông thông qua các chỉ số ACE và PDI (Power Dissipation Index). Kết quả cho thấy xu hướng gia tăng năng lượng bão trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là từ năm 1982 đến 2018. Sự gia tăng này có liên quan mật thiết đến sự ấm lên của nhiệt độ mặt nước biển và sự thay đổi trong hệ thống khí tượng. Các phân tích cũng chỉ ra rằng dòng xiết cận nhiệt đới có ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành và phát triển của bão trên Biển Đông.

1.2. Mối quan hệ giữa SST và năng lượng bão

Nghiên cứu đã xác định mối quan hệ giữa nhiệt độ mặt nước biển (SST)năng lượng bão trên Biển Đông. Kết quả cho thấy SST cao hơn dẫn đến tăng cường độ và tần suất bão. Đặc biệt, SST ở vùng biển phía Đông Nam Nhật Bản có ảnh hưởng lớn đến năng lượng bão tích lũy trên Biển Đông. Các phân tích tương quan và hồi quy đã chứng minh rằng SST là một yếu tố quan trọng trong dự báo bão và đánh giá diễn biến thời tiết.

II. Dự báo thời tiết và mô hình dự báo bão

Luận án đề cập đến các phương pháp dự báo thời tiếtmô hình dự báo bão trên Biển Đông. Nghiên cứu sử dụng hệ thống dự báo khí hậu phiên bản 2 (CFSv2) để dự báo năng lượng bão và các yếu tố liên quan. Các kết quả cho thấy mô hình dự báo này có độ chính xác cao trong việc dự đoán năng lượng bão tích lũy, đặc biệt là khi kết hợp với các yếu tố như SST và dòng xiết cận nhiệt đới. Nghiên cứu cũng đề xuất các phương trình dự báo ACE dựa trên các nhân tố dự báo chính, giúp cải thiện độ chính xác của dự báo bão.

2.1. Phương pháp dự báo hạn mùa

Nghiên cứu đã phát triển các phương pháp dự báo hạn mùa đối với năng lượng bão trên Biển Đông. Các phương pháp này dựa trên phân tích tương quan giữa SST, dòng xiết cận nhiệt đới và các chỉ số bão. Kết quả cho thấy các phương trình dự báo ACE có độ tin cậy cao, đặc biệt khi sử dụng dữ liệu từ CFSv2. Các phương pháp này có tiềm năng ứng dụng trong dự báo thời tiết và quản lý rủi ro thiên tai.

2.2. Đánh giá sai số dự báo

Nghiên cứu đã đánh giá sai số dự báo của các phương trình dự báo ACE dựa trên dữ liệu độc lập. Kết quả cho thấy các phương trình dự báo có độ chính xác cao, với sai số nhỏ hơn so với các mô hình dự báo truyền thống. Điều này khẳng định tính hiệu quả của các phương pháp dự báo bão được đề xuất trong luận án, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc cải thiện dự báo thời tiết trên Biển Đông.

III. Tác động môi trường và ứng dụng thực tiễn

Luận án không chỉ tập trung vào nghiên cứu lý thuyết mà còn đề cập đến tác động môi trườngứng dụng thực tiễn của các kết quả nghiên cứu. Năng lượng bãodiễn biến thời tiết trên Biển Đông có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là các ngành như nông nghiệp, giao thông và du lịch. Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và cải thiện dự báo bão, giúp giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra.

3.1. Ứng dụng trong quản lý rủi ro

Các kết quả nghiên cứu về năng lượng bãodự báo thời tiết có thể được ứng dụng trong quản lý rủi ro thiên tai. Các phương pháp dự báo chính xác giúp các cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp phòng ngừa và ứng phó kịp thời, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản. Đặc biệt, các phương trình dự báo ACE có thể được tích hợp vào các hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao hiệu quả dự báo bão.

3.2. Tác động của biến đổi khí hậu

Nghiên cứu cũng phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến năng lượng bão trên Biển Đông. Kết quả cho thấy sự gia tăng SST và thay đổi trong hệ thống khí tượng đang làm tăng cường độ và tần suất bão. Điều này đặt ra thách thức lớn cho công tác dự báo thời tiết và quản lý rủi ro thiên tai. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, bao gồm cải thiện mô hình dự báo và tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khí tượng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khí tương nghiên cứu đánh giá diễn biến năng lượng bão trên biển đông và khả năng dự báo

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu năng lượng bão Trong chương này trình bày về lý thuyết năng lượng bão, trên cơ sở đó giới hạn phạm vi tổng quan về năng lượng bão nhiệt đới. Tổng quan các công trình nghiên cứu về diễn biến của năng lượng bão, về quan hệ giữa hoạt động của bão với SST, với dòng xiết cận nhiệt đới và về dự báo hạn mùa đối với bão và năng lượng bão. Trên cơ sở tổng quan đưa ra các vấn đề cần nghiên cứu về năng lượng bão tích lũy trên Biển Đông. Chương 2: Số liệu, phương pháp nghiên cứu diễn biến và dự báo năng lượng bão Trong chương này trình bày về các số liệu được sử dụng trong nghiên cứu và các phương pháp phân tích thống kê trong đánh giá xu thế diễn biến năng lượng bão, mối quan hệ thống kê với các yếu tố môi trường và xây dựng phương trình dự báo chỉ số năng lượng bão trên Biển Đông.

Chương 3: Diễn biến năng lượng bão và mối quan hệ với nhiệt độ mặt nước biển, với dòng xiết cận nhiệt đới Trong chương này trình bày về đặc điểm diễn biến năng lượng bão dựa trên số liệu bão của JTWC và JMA. Trên cơ sở số liệu tái phân tích của NCEP/NCAR, SST và bức xạ sóng dài phân tích mối tương quan giữa năng 6 lượng bão tích lũy trên Biển Đông với SST và với dòng xiết cận nhiệt đới. Khả năng ứng dụng SST ở vùng biển phía Đông Nam Nhật Bản và cường độ dòng xiết cận nhiệt đới để dự báo năng lượng bão tích lũy trên Biển Đông Nội dung chính là ứng dụng các thông tin về SST ở biển phía Đông Nam Nhật Bản, gió vĩ hướng mực 200mb được CFSv2 dự báo để xây dựng các phương trình hồi quy tuyến tính dự báo chỉ số năng lượng bão tích lũy trên Biển Đông (tổng ACE từ tháng 5 đến tháng 12) và cập nhật vào nửa cuối mùa bão (tổng ACE từ tháng 8 đến tháng 12). Các kiểm nghiệm thống kê được thực hiện đầy đủ cho chuỗi số liệu phụ thuộc và độc lập, đồng thời đánh giá tính khả thi về việc áp dụng phương trình dự báo ACE trên Biển Đông trong nghiệp vụ.

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LƯỢNG BÃO 1.1 Năng lượng bão Các nhân tố quan trọng cho sự hình thành bão như lực Coriolis, sự tồn tại nhiễu động xoáy ban đầu, sự tăng cường xoáy tương đối mực thấp, độ ẩm cao ở tầng đối lưu giữa, SST,…(Gray 1979 [71]; Li C. Tuy nhiên, các nhân tố này chỉ là điều kiện cần mà không phải điều kiện đủ cho quá trình hình thành bão (Evans, 1993) [66]. Thực tế, hàng năm tồn tại rất nhiều nhiễu động xoáy trên khu vực biển nhiệt đới nhưng chỉ một phần rất nhỏ trong những nhiễu động này có thể phát triển thành bão (Nguyễn Thị Thanh, 2020 [23]). Nhiều nghiên cứu cho thấy SST là một trong những nhân tố quan trọng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua hoàn lưu quy mô lớn đến sự hình thành và tăng cường của bão (Gray, 1979 [71]; Chan, 2000 [46]; Zuki và ctv, 2008 [150]; Wang.

Vấn đề năng lượng bão có thể được hiểu thông qua lý thuyết về điều kiện ổn định đối lưu loại 2 (CISK) và gió sát bề mặt bị ảnh hưởng bởi trao đổi thông lượng nhiệt bề mặt (WISHE) (Hình 1.1): - Quan điểm về CISK liên quan tới không khí hội tụ lớp biên, các quá trình trao đổi thông lượng nhiệt, đối lưu phát triển và ngưng kết được chuyển đổi thành năng lượng cơ học (gió của bão) (COMET, 2016) [56]. - Với quan điểm khác, Emanuel (1986) [61] đã lý tưởng hóa năng lượng bão như một "động cơ nhiệt Canot". Kết quả nghiên cứu cho thấy gió sát bề mặt bị ảnh hưởng bởi trao đổi thông lượng nhiệt tại bề mặt giữa đại dương – khí quyển, quá trình gia tăng năng lượng bề mặt làm tăng tốc độ gió bề mặt ở khu vực gần lõi bão, từ đó đề xuất lý thuyết WISHE.2 mô tả mô hình lý tưởng hóa theo Carnot đối với bão được đặc trưng bởi 4 giai đoạn là giãn nở đẳng nhiệt, giãn nở đoạn nhiệt, nén đẳng nhiệt và nén đoạn nhiệt: (1) giãn nở đẳng nhiệt của không khí gần bề mặt, không khí xoáy vào tâm, thu được entropy ở nhiệt độ không đổi (A-B); (2) giãn nở đoạn nhiệt từ B-C khi không khí thăng 8 lên trong thành mắt bão và thoát ra ở tầng đối lưu trên; và (3) dòng không khí truyền bức xạ hồng ngoại vào môi trường, không khí lạnh đẳng nhiệt và mất đi entropy đã thu được từ biển (C-D), (4) không khí lạnh đoạn nhiệt được giả định quay trở về môi trường bão (D-A). Theo quan điểm của Emanuel (1986) [61], bão mất cân bằng nhiệt động giữa đại dương và khí quyển với hiệu năng của động cơ nhiệt ở vùng nhiệt đới ước tính xấp xỉ bằng 1/3, điều này cho thấy ước tính khoảng một phần ba năng lượng nhiệt có thể được chuyển đổi thành năng 𝑇 −𝑇𝑜 300−200 1 lượng cơ học (𝜀 = 𝑠 = = , với Ts là SST, To là nhiệt độ lớp không 𝑇𝑠 300 3 khí tại dòng ra tầng đối lưu trên (COMET, 2016) [56].

Sơ đồ lý tưởng hóa theo CISK (a) và Canot đối với bão (b) (Nguồn: COMET, 2016 [56]) Mối quan hệ giữa năng lượng bão với cấu trúc và cường độ bão là vấn đề phức tạp đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đồng thời nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã ứng dụng chỉ số năng lượng để đánh giá diễn biến cũng như dự báo hạn mùa về bão ở các ổ bão lớn và các tiểu vùng biển khác nhau trên đại dương. Do đó, luận án đặt mục tiêu là ứng dụng chỉ số năng lượng cho đánh giá diễn biến của bão trên Biển Đông và chủ yếu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chỉ số năng lượng bão sau đây. Lý do để cộng đồng nghiên cứu đề xuất chỉ số năng lượng bão xuất phát 9 từ thực tế về hai cơn bão Ivan năm 2004 và Mitch 2005 ở Đại Tây Dương, nếu tính tổng tốc độ gió mạnh cho cả quá trình hoạt động của bão thì cơn bão Ivan (1,712.5 knot) cao hơn đáng kể so với cơn bão Mitch (1,208.

Cả hai cơn bão Mitch và Ivan đã được phân loại là cấp 5 theo cấp gió Saffir-Simpson, tuy nhiên diễn biến gió mạnh tại khu vực gần tâm bão của hai cơn bão tương đối khác nhau; cơn bão Mitch chỉ kéo dài một vài ngày gió mạnh cấp 5 nhưng cơn bão Ivan kéo dài khoảng mười ngày. Như vậy, nếu đánh giá và phân loại hai cơn bão là cấp 5, có thể đã làm mất các thông tin có giá trị. Điều này là một trong những lý do chỉ số năng lượng bão được đề xuất nhằm bổ sung thêm về đặc trưng cho đánh giá hoạt động của bão (Drews, 2007) [59]. Khái niệm chỉ số "năng lượng bão tích lũy" (ACE) được đề xuất đầu tiên bởi Bell và ctv (2000) [38], hay còn gọi là “động năng bão tích lũy” (Kim và ctv, 2013 [86]; Lu và ctv, 2018 [105]) hay “năng lượng gió bão” (NOAA).

Động năng tỷ lệ với bình phương vận tốc gió và động năng tích lũy bằng tổng các động năng trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này cho thấy bão mạnh, thời gian kéo dài dẫn đến ACE cao. Cùng mục đích như ACE nhưng tăng thêm trọng số cho bão mạnh, Emanuel (2005, 2007) [62], [63] đã đề xuất chỉ số PDI và được biểu diễn bởi hàm bậc ba của vận tốc gió. Các chỉ số năng lượng bão này khái quát “tổng thể” về số lượng, cường độ và thời gian hoạt động của bão nhằm so sánh, đánh giá về mối nguy hiểm của bão giữa các thời kỳ, giữa các khu vực.

Điều này có thể thấy thông qua một ví dụ về mùa với “ba cơn bão”, tổng năng lượng của ba cơn bão là diện tích dưới đường cong theo thời gian tồn tại và cường độ của chúng như Hình 1. Tổng năng lượng của ba cơn bão trong Hình 1.2a cũng tương tự “ba cơn bão” có diện tích giống hệt nhau có cùng thời gian và cường độ như Hình 1.2b nhưng thời gian tồn tại là trung bình của bão và cường độ trung bình là trung bình của tất cả các quan trắc bão trong mùa đó (Camargo và ctv, 2005 [62], Drews, 2007 [59], Kim và ctv, 2013 [86], Murakami và ctv, 2014 [107], Villarini và ctv, 2013 [124], Zhan và ctv, 2015 [155]). Minh họa về chỉ số năng lượng bão (Nguồn:Drews, 2007[59]) Do ACE và PDI có trọng số cao đối với bão cường độ mạnh, Yu và ctv (2009, 2012) [145] [146] đã đề xuất hiệu chỉnh các chỉ số ACE và PDI bằng cách bổ sung thêm bán kính của bão và gọi là chỉ số RACE và RPDI. Nhóm tác giả đã so sánh và đánh giá mức độ phù hợp của các chỉ số năng lượng bão trên khu vực TBTBD dựa trên đặc điểm diễn biến không gian và thời gian của các chỉ số.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù chỉ số RACE và RPDI đã được hiệu chỉnh giảm trọng số đối với bão cường độ mạnh nhưng có sự tương đồng cao về diễn biến với các chỉ số ACE và PDI. Tuy nhiên, kể từ năm 2009 chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu ứng dụng hai chỉ số RACE và RPDI trong đánh giá diễn biến bão được công bố. Theo hướng tiếp cận khác, Kantha và ctv (2006) [82] khi nghiên cứu hoạt động của bão trên khu vực Đại Tây Dương cho thấy mặc dù cơn bão Katrina (năm 2005) có cường độ yếu hơn cơn bão Camille (năm 1969) trước khi đổ độ nhưng cơn bão Katrina có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn cơn bão Camille khi đổ bộ vào bờ. Cơn bão Irene (năm 2011), Isaac và Sandy (năm 2012) tương đối yếu nhưng đã gây ra thiệt hại đáng kể.

Do đó, Kantha và ctv (2006) [82], Powell và ctv (2007) [109] đã đề xuất chỉ số “động năng tích hợp của bão” (IKE) với mục đích hỗ trợ thêm thông tin cho phân cấp Saffir- Simpson. IKE được tính toán cho từng cơn bão dựa trên phân tích gió và bán kính theo 4 góc phần tư của bão từ dự án phân tích gió vệ tinh “H*Wind” của NOAA (có thể tính toán trực tiếp trên website), tuy nhiên khó khăn khi áp dụng 11 IKE ở khu vực TBTBD do nguồn số liệu không đầy đủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa IKE với mức độ thiệt hại do bão gây ra và là thông tin hữu ích để tham khảo bổ sung cho nhận định cảnh báo bão. Cùng mục đích, Hebert và ctv (2010) [72] đã đề xuất chỉ số HSI (Chỉ số nguy hiểm của bão).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu diễn biến năng lượng bão và dự báo trên Biển Đông là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung vào việc phân tích và dự đoán năng lượng bão tại khu vực Biển Đông. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những hiểu biết khoa học về cơ chế hình thành và phát triển của bão mà còn đưa ra các phương pháp dự báo chính xác hơn, góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, nhà quản lý và những ai quan tâm đến lĩnh vực khí tượng thủy văn.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng Việt NCS Nguyễn Khắc Tấn, một tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng là một nghiên cứu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cung cấp thêm góc nhìn về chất lượng nguồn nước, một chủ đề liên quan mật thiết đến biến đổi khí hậu và thiên tai.