Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu với cốt liệu polystyrene, mang lại giải pháp xây dựng hiệu quả và bền vững.

Trường đại học

Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng

Chuyên ngành

Kỹ thuật vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

120
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG BÊ TÔNG NHẸ KẾT CẤU SỬ DỤNG CỐT LIỆU POLYSTYRENE

1.1. Tình hình sử dụng bê tông nhẹ kết cấu

1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cốt liệu polystyrene trong bê tông

1.2.1. Cốt liệu polystyrene phồng nở

1.2.2. Nghiên cứu và sử dụng cốt liệu polystyrene phồng nở trong bê tông

1.3. Yêu cầu kỹ thuật đối với bê tông polystyrene kết cấu

1.3.1. Yêu cầu đối với hỗn hợp bê tông polystyrene kết cấu

1.3.2. Yêu cầu đối với bê tông polystyrene kết cấu

1.4. Cơ sở khoa học

1.4.1. Ảnh hưởng của cốt liệu polystyrene phồng nở đến tính chất của hỗn hợp bê tông polystyrene kết cấu

1.4.2. Ảnh hưởng của cốt liệu polystyrene phồng nở đến cường độ chịu nén của bê tông

1.5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu sử dụng

2.1.1. Cốt liệu polystyrene phồng nở

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

2.2.2. Phương pháp thực nghiệm

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO BÊ TÔNG POLYSTYRENE KẾT CẤU

3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến tính công tác của bê tông polystyrene kết cấu

3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ phân tầng của bê tông polystyrene kết cấu

3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến cường độ chịu nén của bê tông polystyrene

3.3.1. Ảnh hưởng của phụ gia hóa học

3.3.2. Ảnh hưởng của đường kính hạt cốt liệu lớn nhất trong bê tông nền

3.3.3. Ảnh hưởng của cường độ chịu nén của bê tông nền

3.3.4. Các bước lựa chọn thành phần bê tông polystyrene kết cấu

3.3.5. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA BÊ TÔNG POLYSTYRENE KẾT CẤU

4.1. Cường độ chịu nén và sự phát triển cường độ

4.3. Mô đun đàn hồi

4.4. Độ hút nước, hệ số hoá mềm

4.5. Lực nhổ cốt thép trong bê tông

4.6. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU TẢI CỦA TẤM SÀN VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

5.1. Đánh giá khả năng chịu tải của tấm sàn sử dụng bê tông polystyrene kết cấu

5.1.1. Cấu tạo tấm sàn và vật liệu sử dụng

5.1.2. Sơ đồ và thiết bị thí nghiệm

5.1.3. Ứng xử của tấm sàn bê tông polystyrene kết cấu dưới tải trọng

5.2. Hiệu quả kinh tế

5.3. Kết luận chương 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene

Bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene đang trở thành xu hướng trong ngành xây dựng hiện đại. Việc nghiên cứu và phát triển loại bê tông này không chỉ giúp giảm trọng lượng công trình mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế. Bê tông nhẹ có nhiều ưu điểm như khả năng cách âm, cách nhiệt tốt, và giảm thiểu chi phí xây dựng. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào các tính chất của bê tông nhẹ và ứng dụng của nó trong thực tiễn.

1.1. Tình hình nghiên cứu bê tông nhẹ kết cấu hiện nay

Nghiên cứu về bê tông nhẹ kết cấu đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc cải thiện tính chất cơ lý của bê tông nhẹ, từ đó mở rộng ứng dụng trong các công trình xây dựng. Bê tông nhẹ sử dụng cốt liệu polystyrene phồng nở (EPS) đang được chú ý đặc biệt do tính năng vượt trội của nó.

1.2. Lợi ích của bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene

Bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene mang lại nhiều lợi ích như giảm trọng lượng, tăng khả năng cách âm và cách nhiệt. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí xây dựng mà còn nâng cao chất lượng công trình. Việc sử dụng cốt liệu EPS cũng giúp giảm thiểu tác động đến môi trường.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu bê tông nhẹ kết cấu

Mặc dù bê tông nhẹ kết cấu có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng. Các vấn đề như cường độ chịu nén, độ bền và khả năng chống thấm nước cần được giải quyết để đảm bảo tính khả thi của bê tông nhẹ trong các công trình xây dựng.

2.1. Thách thức về cường độ chịu nén của bê tông nhẹ

Cường độ chịu nén của bê tông nhẹ thường thấp hơn so với bê tông thông thường. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu và cải thiện các thành phần cấu tạo của bê tông nhẹ để đạt được cường độ mong muốn.

2.2. Vấn đề về độ bền và khả năng chống thấm nước

Độ bền và khả năng chống thấm nước của bê tông nhẹ cũng là một vấn đề quan trọng. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của bê tông nhẹ, từ đó đưa ra giải pháp cải thiện hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene

Phương pháp nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene bao gồm các bước từ lựa chọn nguyên liệu, thiết kế công thức bê tông đến thực hiện thí nghiệm. Các phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình nghiên cứu.

3.1. Lựa chọn nguyên liệu cho bê tông nhẹ

Việc lựa chọn nguyên liệu là bước quan trọng trong quá trình chế tạo bê tông nhẹ. Cốt liệu polystyrene phồng nở (EPS) được chọn vì tính năng nhẹ và khả năng cách nhiệt tốt. Ngoài ra, các loại phụ gia cũng được sử dụng để cải thiện tính chất của bê tông.

3.2. Thiết kế công thức bê tông nhẹ kết cấu

Thiết kế công thức bê tông nhẹ kết cấu cần phải cân nhắc đến tỷ lệ giữa các thành phần. Việc này giúp đảm bảo bê tông đạt được các yêu cầu về cường độ và tính công tác. Các thí nghiệm thực nghiệm sẽ được thực hiện để tối ưu hóa công thức.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu bê tông nhẹ kết cấu

Bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene đã được ứng dụng trong nhiều công trình xây dựng. Kết quả nghiên cứu cho thấy loại bê tông này có khả năng chịu tải tốt và đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật. Việc ứng dụng bê tông nhẹ không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vật liệu.

4.1. Kết quả thí nghiệm về khả năng chịu tải của bê tông nhẹ

Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene có khả năng chịu tải tốt. Kết quả này mở ra cơ hội ứng dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng hiện đại.

4.2. Ứng dụng bê tông nhẹ trong các công trình xây dựng

Bê tông nhẹ kết cấu đã được ứng dụng trong nhiều loại hình công trình như nhà ở, cầu đường và các công trình công nghiệp. Việc sử dụng bê tông nhẹ không chỉ giúp giảm trọng lượng mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho các dự án.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu bê tông nhẹ kết cấu

Nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene đã mở ra nhiều triển vọng cho ngành xây dựng. Các kết quả đạt được cho thấy loại bê tông này có thể đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục tập trung vào việc cải thiện tính chất và mở rộng ứng dụng của bê tông nhẹ.

5.1. Triển vọng phát triển bê tông nhẹ kết cấu

Triển vọng phát triển bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu polystyrene rất khả quan. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc cải thiện cường độ và độ bền của bê tông nhẹ, từ đó mở rộng ứng dụng trong các công trình xây dựng.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

Hướng nghiên cứu trong tương lai sẽ bao gồm việc tìm kiếm các loại cốt liệu mới, cải tiến công thức bê tông và nghiên cứu sâu hơn về các tính chất của bê tông nhẹ. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cho các công trình xây dựng.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG BÊ TÔNG NHẸ KẾT CẤU SỬ DỤNG CỐT LIỆU POLYSTYRENE 1.1 Tình hình sử dụng bê tông nhẹ kết cấu Bê tông nhẹ được sử dụng trong kết cấu xây dựng từ hơn 2. Những công trình sử dụng bê tông nhẹ được tìm thấy ở nhiều nơi nhưng các công trình sử dụng bê tông nhẹ thời cổ đại chủ yếu tập trung ở khu vực Địa Trung Hải. Các loại bê tông nhẹ được ứng dụng nhiều trong thời cổ đại chủ yếu là bê tông sử dụng cốt liệu nhẹ từ sản phẩm đất sét hoặc đất đá nở phồng. Trong đó, nhiều di tích cho thấy bê tông sử dụng cốt liệu nhẹ đã được sử dụng trong xây dựng các kết cấu chịu lực như cột, sàn của công trình Cảng Cosa, Pantheon Dome, và Đấu trường La Mã.

Ngày nay, triển khai nghiên cứu, áp dụng các loại bê tông đặc biệt phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường xây dựng là một xu thế tất yếu của công nghiệp vật liệu xây dựng. Trong số đó, một hướng đi quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu tập trung quan tâm là các vấn đề nghiên cứu và ứng dụng bê tông nhẹ trong các hạng mục phù hợp. Việc nghiên cứu các loại bê tông nhẹ trên cơ sở cốt liệu nhẹ, bê tông nhẹ hốc lớn, bê tông khí,. đã được triển khai quy mô và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể.

Bê tông nhẹ đã được ứng dụng rộng rãi trên các công trình xây dựng thuộc các lĩnh vực khác nhau. Bê tông nhẹ hiện nay có hai dạng chủ yếu là bê tông cách nhiệt kết cấu và bê tông nhẹ kết cấu. Bê tông cách nhiệt kết cấu có khối lượng thể tích từ 400 kg/m³ đến 900 kg/m³, cường độ chịu nén thường thấp hơn 15 MPa. Bê tông kết cấu có khối lượng thể tích từ thấp hơn 2.000 kg/m³, quy định về mức yêu cầu đối với cường độ chịu nén phụ thuộc tiêu chuẩn liên quan.

Tại Hoa Kỳ, tiêu chuẩn ACI 318-14, ACI 211.2-98 quy định bê tông kết cấu cần có cường độ đặc trưng f’c không nhỏ hơn 17 MPa. Tại Nga, tiêu chuẩn GOST 25820:2014 quy định cường độ chịu nén tối thiểu của bê tông sử dụng cho kết cấu chịu lực là B12,5. Tại Việt Nam, theo TCVN 5574:2017, cấu kiện bê tông cốt thép chịu lực có thể được thiết kế sử dụng bê tông nhẹ có cấp cường độ chịu nén tối thiểu là B15 với khối lượng thể tích nhỏ hơn 2. Các tiêu chuẩn này chỉ có chỉ dẫn cụ thể với việc sử dụng bê tông thường và bê tông cốt liệu nhẹ vô cơ (cốt liệu keramzit, aglopolit.) trong thiết kế kết cấu bê tông và bê tông cốt 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Do đó, bê tông nhẹ kết cấu sử dụng cốt liệu keramzit được nghiên cứu và ứng dụng khá phổ biến trên thế giới. Cốt liệu nhẹ keramzit đã được sản xuất thương mại từ năm 1928 và một trong những công trình lớn đầu tiên ứng dụng bê tông keramzit kết cấú là công trình ở khu vực Đông Pennsylvania khởi công năm 1948. Cho đến nay, bê tông nhẹ sử dụng cốt liệu keramzit đã được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trên thế giới mang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cho các công trình nhà nhiều tầng, cao tầng và cầu đường. Trong nhiều trường hợp, sử dụng bê tông nhẹ là phương án khả thi duy nhất, như ở các công trình cầu đường hay nhà cao tầng trong khu vực nền đất yếu.

Ngành công nghiệp dầu khí tại Mỹ cũng xem bê tông nhẹ là loại vật liệu lý tưởng để chế tạo các công trình nổi ngoài khơi phục vụ sản xuất, khai thác và dịch vụ khác. Để cung cấp các dữ liệu kỹ thuật cần thiết để xây dựng các công trình bằng bê tông ngoài khơi, các công ty dầu khí và các nhà thầu đã đánh giá việc sử dụng bê tông nhẹ có độ bền cao đáp ứng một số yêu cầu thiết kế của họ. Các đánh giá bắt đầu vào đầu những năm 1980 với những kết quả được đưa ra vào năm 1992. Kết quả của nghiên cứu này đã giúp cho các sản phẩm bê tông nhẹ được sử dụng cho nhiều ứng dụng hơn, trong đó có các ứng dụng yêu cầu bê tông có cường độ và độ bền cao.

Từ những năm 1950, những nghiên cứu được tiến hành tập trung chủ yếu vào việc sử dụng cấu trúc của bê tông cốt liệu nhẹ để xây dựng khung, sàn cầu và các sản phẩm đúc sẵn. Nhiều công trình nhiều tầng và công trình cao tầng được thiết kế sử dụng vật liệu nhẹ một cách đồng bộ, tận dụng giảm trọng lượng công trình bằng bê tông nhẹ và các vật liệu nhẹ khác. Ví dụ: tòa nhà Life Prudential 42 tầng ở Chicago, sử dụng sàn bê tông nhẹ và khách sạn Statler Hilton 18 tầng ở Dallas, được thiết kế với khung bê tông nhẹ và sàn bằng phẳng. Những nghiên cứu tiếp theo tập trung nhiều hơn vào việc làm rõ các tính chất của bê tông nhẹ.

Tính năng nhẹ của vật liệu bê tông nhẹ được nhấn mạnh cùng hiệu quả tiết kiệm năng lượng của cấu trúc nhẹ. Liên Xô cũ là nước sử dụng nhiều bê tông keramzit với sản lượng chiếm 30% tổng sản lượng bê tông nhẹ trên thế giới và đạt gần 25 triệu m3/năm. Nước 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nga hiện nay đã sản xuất các loại bê tông nhẹ keramzit chịu lực mác đến 600 dùng trong các kết cấu BTCT ứng lực trước. Các nước Tây Âu và Mỹ sử dụng bê tông keramzit để chế tạo các cấu kiện đúc sẵn (pannel, blốc, dầm cầu .) và có xu hướng sử dụng bê tông keramzit mác cao có khối lượng thể tích từ 1600 kg/m³ đến 1800 kg/m³ cho các kết cấu chịu lực và BTCT ứng lực trước trong xây dựng dân dụng và công nghiệp, xây dựng cầu đường và thuỷ lợi.

Các nước Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, các nước Mỹ La tinh cũng sử dụng bê tông keramzit ngày càng nhiều với tỉ trọng cao trong ngành sản xuất bê tông xây dựng. Ở Việt Nam việc nghiên cứu và sản xuất cốt liệu keramzit và bê tông keramzit chưa được chú ý đúng mức. Nguyên liệu để sản xuất keramzit ở nước ta được một số cơ quan của Tổng cục Địa chất thuộc Bộ Công nghiệp nghiên cứu điều tra vào các năm 1975 đến năm 1977. Các kết quả khảo sát thăm dò địa chất cho thấy nguyên liệu để sản xuất keramzit khá dồi dào.

Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) đã tiến hành nghiên cứu công nghệ sản xuất keramzit và bê tông keramzit nhưng kết quả mới dừng lại ở phạm vi thăm dò thử nghiệm chưa được triển khai áp dụng trong thực tế. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã có nghiên cứu về việc chế tạo bê tông keramzit trong điều kiện khí hậu nóng ẩm Việt Nam nhưng cũng mới dừng lại ở mặt lý thuyết. Công ty cổ phần thương mại và sản xuất Bemes là cơ sở duy nhất hiện nay đã đầu tư chế tạo sỏi keramzit nhưng chỉ ở quy mô pilốt. Sản phẩm sỏi keramzit của Công ty Bemes đã được sử dụng chế tạo bê tông keramzit mác 200 trong một số công trình nhà ở tại Hà Nội, nhà tiền chế vùng bão lụt Nam Trung Bộ, trường học ở Lai Châu nhưng khối lượng còn hạn chế.

Nghiên cứu [7] đã chế tạo bê tông keramzit kết cấu chịu lực có cường độ chịu nén từ 15 MPa đến 30 MPa với khối lượng thể tích trong khoảng từ 1. Đề tài này đã ứng dụng bê tông keranmzit trong chế tạo và ứng dụng tấm sàn và dầm. Nghiên cứu tính toán và thí nghiệm khả năng chịu tải của cấu kiện dầm và sàn bê tông keramzit cho thấy đối xử của chúng cũng tương tự như bê tông nặng thông thường. Có thể sử dụng các công thức tính toán và chỉ dẫn quy định trong TCVN 5574 : 1991 đối với bê tông nặng.

Tuy nhiên khi tính toán khả năng chịu lực lớn nhất thì nên nhân với hệ số giảm yếu là 0,9. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu [8] đã cho thấy việc chế tạo bê tông keramzit chịu lực kết cấu và có thể bơm là khả thi. Tác giả của nghiên cứu này cũng đã có các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thi công và bước đầu có được các kết quả khả quan. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, các nhà máy sản xuất cốt liệu keramzit tại Việt Nam đã ngừng hoạt động.

Do đó, việc nguồn cung cốt liệu cho chế tạo bê tông keramzit gặp nhiều khó khăn, đẩy giá thành bê tông lên cao, hạn chế khả năng ứng dụng của sản phẩm. Bên cạnh việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả các loại bê tông nhẹ truyền thống sử dụng cốt liệu nhẹ là keramzit hay tup núi lửa, sử dụng cốt liệu có cường độ tương đối cao, các nhà nghiên cứu cũng không ngừng tìm tòi, phát triển các loại bê tông nhẹ mới. Trong đó, bê tông nhẹ, trên cơ sở cốt liệu là cốt liệu EPS, được đánh giá là một hướng đi có nhiều triển vọng.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cốt liệu polystyrene trong bê tông 1.1 Cốt liệu polystyrene phồng nở Cốt liệu polystyrene phồng nở được sử dụng với vai trò là cốt liệu nhẹ làm giảm khối lượng thể tích trong bê tông [2]. Cốt liệu EPS là sản phẩm thu được sau quá trình phồng nở các hạt polystyrene nguyên liệu ở nhiệt độ thích hợp.

Các hạt polystyrene nguyên liệu được chế tạo bằng cách polimer hoá nhũ tương styrol (C6H5-CH=CH2) với sự có mặt của tác nhân gây nở izopentan (C5H12). Dưới tác động của nhiệt độ thích hợp, tác nhân gây nở sẽ tăng về thể tích và làm phồng nở hạt polystyrene nguyên liệu. Quá trình nở các hạt polystyrene nguyên liệu có thể diễn ra liên tục hoặc qua một vài giai đoạn. Nếu được nở liên tục các hạt polystyrene nguyên liệu sẽ đạt kích thước yêu cầu sau quá trình phồng nở.

Theo công nghệ không liên tục, các hạt nguyên liệu được nở sơ bộ trong công đoạn đầu, sau đó được chuyển qua các công đoạn sau để tiếp tục quá trình phồng nở đến khi đạt kích thước yêu cầu. Cốt liệu EPS sử dụng trong chế tạo bê tông không bảo dưỡng bằng biện pháp chưng hấp là loại đã được hoàn thành quá trình phồng nở để có kích thước hạt ổn định. Các hạt cốt liệu này được coi là đã hoàn thành quá trình phồng nở hoặc không còn khả năng tiếp tục nở. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ