CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO LY LUAN VE NANG SUAT LAO DONG TRONG DOANH NGHIEP DICH VU DU LICH 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu về năng suất lao động trong doanh nghiệp dịch vụ du lịch 1. Năng suất lao động trong các doanh nghiệp dịch vụ Năng suất lao động trong doanh nghiệp dịch vụ có tính phức tạp và đa dạng hơn nhiều so với năng suất lao động trong lĩnh vực công nghiệp (Biege và các cộng sự, 2013). Do đó, việc hoàn thành mục tiêu cải thiện năng suất lao động đối với các doanh nghiệp dịch vụ là một nhiệm vụ không dễ dàng và xác định khung phân tích năng suất lao động cần được xây dựng thông qua lựa chọn các yếu tô ảnh hưởng phù hợp.
Các nghiên cứu trên thế giới hướng đến việc xây dựng khung phân tích về năng suất lao động dựa theo những yếu tố anh hưởng khác nhau. Do đặc thù ngành dịch vụ mang tính thâm dụng lao động cao, năng suất lao động trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những yếu tổ liên quan đến lao động. Năng suất lao động không chỉ là chỉ số quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn đang trở thành một trong những thước đo sự hiệu quả dành cho các hoạt động của các doanh nghiệp nói chung (ILO, 2020). Trong dài hạn, việc tăng trưởng năng suất lao động có thé cho phép các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn với số lượng nguồn lực đầu vào không đổi.
Chính vì thé, đây là mục tiêu chiến lược cần hướng tới và đảm bảo thực hiện. Bối cảnh kinh tế thế giới đang chuyền dịch theo ngành dịch vụ và đặt ra tính cấp thiết của việc nghiên cứu về năng suất lao động trong lĩnh vực này (OECD, 2001). Bên cạnh đó, với thực tế là nền kinh tế tri thức dang phát triển trên phạm vi toàn cầu và nỗi bật trong đó là vai trò quan trong của chất lượng nguồn nhân lực với quá trình chuyển giao tri thức ngày càng mạnh mẽ (Clarke, 2001). Do đó, việc tăng trưởng năng suất lao động tạo ra sự khác biệt và tác động tích cực tới hoạt động của các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế hiện tại (ILO, 2020).
Điều này đặt ra sự cần thiết về những nghiên cứu nhằm tăng trưởng năng suất lao động, đặc biệt trong sự chuyên dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp sang dịch vụ. 10 Lĩnh vực dịch vụ có yếu tố thâm dụng lao động và việc sử dụng hiệu quả năng suất lao động sẽ đây nhanh quá trình phát triển cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ hơn ở cấp độ doanh nghiệp (Freeman, 2008). Yếu tố thâm dung lao động lớn hơn trong ngành dich vụ so với lĩnh vực công nghiệp và xây dựng nên tam quan trọng của yếu tô con người hay chất lượng lao động được nâng cao hơn (ILO, 2020). Hay nói cách khác, chat lượng lao động được đề cao hơn trong bồi cảnh dịch vụ phát triển (Freeman, 2008).
Nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp lớn dần cùng với sự quan trọng của lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, với việc nguồn lực của cac doanh nghiệp là hữu hạn, tăng trưởng về số lượng lao động nếu tiễn tới một con số quá lớn có thé khiến cho các doanh nghiệp gặp van dé trong mục tiêu dai hạn (Walsh và các cộng sự, 2016). Do đó, việc tận dụng tối đa nguồn nhân lực sẽ cần được các doanh nghiệp chú trọng. Hay nói cách khác, tuyên dụng và khai thác nguồn lực từ những nhân sự có năng suất lao động cao tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không tốn quá nhiều chi phí về nhân sự nhưng vẫn có thé đảm bảo việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao, đóng góp vào sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.
Theo Báo cáo của Bộ kế hoạch Đầu tư (2005), dịch vu được coi là nhân tố thúc đây tăng trưởng nội địa và 6n định xã hội thông qua 3 khía cạnh: (1) Phát triển kinh tế liên quan chặt chẽ tới sự tăng trưởng nhanh của khu vực dịch vụ: Ngành dịch vụ tồn tại trong tất cả nền kinh tế và thúc đây các hoạt động kinh tế, góp phan quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sông của người dân. (2) Các doanh nghiệp dịch vụ góp phần tạo việc làm Các công ty dịch vụ, trong bối cảnh lĩnh vực này phát triển, sẽ tạo ra khối lượng việc làm lớn và chiếm tới 90% số lượng việc làm mới trên phạm vi toàn thế giới từ giữa thập kỷ 1990. (3) Dịch vụ góp phần quan trọng trong xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững: Tập trung tăng trưởng khu vực dịch vụ có khả năng phát triển đồng bộ và đồng thời các lợi ích phát triển kinh tế trên toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc đo lường các sản phẩm đầu ra cũng không phải một nhiệm vu dé dàng.
Các nghiên cứu tiền nhiệm chỉ ra rang, các yếu tố đầu ra hay các sản phẩm từ quá trình sản xuất, kinh doanh không có quy chuẩn rõ ràng và chất lượng 11 yêu cầu bởi các quốc gia, nền kinh tế hay doanh nghiệp khác nhau cũng thay đôi khiến cho việc đánh giá mức độ hiệu qua của chi phí nhân công hoặc số lượng lao động cần thiết sử dụng cũng trở nên khó khăn khăn hơn (Jaaskelainen và Lonnqvist, 2011; Biege và các cộng sự, 2013; Walsh và các cộng sự, 2016; Scerri và Agarwal, 2018). Không những thế, yếu tố đầu vào của năng suất lao động xoay quanh các vẫn dé về lao động và yếu tố con người cũng không giống nhau. Điều này dẫn tới những sự thay đôi mạnh mẽ hon trong lựa chọn các yếu tố đầu ra cũng như kết quả cuối cùng của tính toán năng suất (Walsh và các cộng sự, 2016). Thậm chí, việc lựa chọn sai các yêu tô có thể những sai lệch trong tính toán về năng suất lao động và đánh giá sai về mức độ hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Tiếp theo đó, những thay đổi về giá trong hoạt động kinh doanh cũng tạo ra những sự khác biệt trong đo lường năng suất lao động (Freeman, 2008). Giá bán sản phẩm thê hiện hiệu suất của quá trình sản xuất, cung cấp dich vụ nhưng giá bán sản pham có thé thay đôi vì nhiều yếu tố trên thị trường và từng giai đoạn của thị trường (Walsh và các cộng sự, 2016). Các doanh nghiệp dịch vụ thường có định hướng đến khách hàng và điều này khiến cho tác động của yếu tô “khách hàng” trong việc day giá lên cao, xuống thấp trở nên đáng ké hơn. Tuy nhiên, dưới góc nhìn về năng suất lao động, thay đổi về giá tạo ra những sai lệch trong việc đo lường.
Tóm lại, việc đo lường năng suất lao động trong doanh nghiệp lĩnh vực dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với đo lường năng suất lao động trong doanh nghiệp lĩnh vực công nghiệp do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tô khác nhau trên thị trường cũng như bên trong môi trường doanh nghiệp. Nghiên cứu của Monga (2011) dựa trên quan điểm năng suất lao động được xây dựng băng những phương pháp toàn diện, đặc trưng bởi các nhóm yếu tố ảnh hưởng từ: Ứng dụng công nghệ, quản trị quá trình, văn hóa định hướng theo khách hàng, phương án giảm lãng phí kinh doanh, quản trị nguồn nhân lực bền vững nhằm hướng tới việc xây dựng sự hài lòng của nhân viên trước khi tạo ra năng suất lao động tăng trưởng. Samargandi (2018) khăng định các yếu tố liên quan đến con người (đãi ngộ, sự hài lòng của khách hàng, nhân viên) mang tới những ảnh hưởng dành cho năng suất lao động. Chính vì thế, các doanh nghiệp cần nhận thức được sự 12 quan trọng của năng suất lao động trong các doanh nghiệp và xây dựng được khung tăng trưởng, cải thiện năng suất lao động bền vững theo thời gian.
Borkovic và Tabak (2018) xây dựng mô hình phát triển bền vững dành cho năng suất lao động ở cấp độ doanh nghiệp qua việc sử dụng 06 yếu tố ảnh hưởng: Vai trò của chính quyên, thị trường cạnh trạnh, kinh tế xanh (bên ngoài doanh nghiệp) và Phát triển bền vững, năng lực quản trị, hội nhập doanh nghiệp (bên trong doanh nghiệp). Vai trò của chính quyền cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết những dòng vốn để giúp các doanh nghiệp tại Croatia có thể tiếp cận. Một thành phan quan trọng của vốn dau tư là vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI). Trong bối cảnh hiện đại, năng suất lao động được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ hiệu quả trong sử dụng lao động của nền kinh tế quốc dân và trong các doanh nghiệp.
Theo OECD (2001), năng suất lao động được định nghĩa bởi mối quan hệ giữa tổng sản phẩm đầu ra và số lượng lao động đầu vào dé tạo ra số lượng sản phâm đó và có thê áp dụng không chỉ trong ngành sản xuất mà còn trong ngành dịch vụ. Đối với cấp độ vĩ mô, năng suất lao động được tính toán nhằm mục đích xây dựng chính sách về thị trường lao động còn đối với cấp độ doanh nghiệp, năng suất lao động là một chỉ sỐ quan trọng dé quan tri nguồn nhân lực (Goel và các cộng sự, 2017). Freeman (2008) cho rằng năng suất lao động được định nghĩa là khả năng sản xuất của lực lượng lao động để tạo ra số lượng sản pham/ dịch vụ và nhắn mạnh tới su quan trọng của yếu tố con người với mục tiêu hướng tới là việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra hiệu quả hoạt động cao và nâng cao chất lượng đầu ra. Hay nói cách khác, năng suất lao động được tính toán bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm đầu ra (theo số lượng, theo giá trị kinh tế) và số lượng đầu vào lao động (OECD, 2001).
Như vậy, năng suất lao động thể hiện hiệu suất làm việc của người lao động trong việc tạo ra những giá tri cho doanh nghiệp. Joppe và Li (2016) lựa chọn hệ thống biến đầu vào gồm 6 biến: Lao động, vốn, hàng hóa trung gian, nguyên vật liệu, năng lượng và các yếu tố liên quan đến cư trú. Trong đó, yếu tố năng suất lao động được coi là cấu phần quan trọng nhất của công thức: 13 Năng suất tổng = Dau ra/ Pau vào Trong do: Đầu vào bao gom: Lao động + Vốn + Hàng hóa trung gian + Nguyên vật liệu + Năng lượng + yếu t6 cư trú. Đầu ra: Dịch vụ cung cấp của người bán cho người mua.