Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Chương 2. Những vấn đề lý luận về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Chương 3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay Chương 4.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Kết luận Danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án Danh mục tài liệu tham khảo 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu này, nghiên cứu sinh tổng quan tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau: Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Môi trường không khí là một thành phần quan trọng cấu thành môi trường. Do vậy việc tổng quan các công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng, trong đó có pháp luật trong lĩnh vực này sẽ tạo cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Về ô nhiễm môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung đã có nhiều công trình ở trong nước [8] [28] [94] [96] [118] và nước ngoài [38] [137] [139] [140] [141] [146] nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều giác độ khác nhau từ lý luận đến thực tiễn. Theo Từ điển mở Merriam-webster online trên cơ sở liệt kê các nguyên nhân gây ô nhiễm đã chỉ ra: "Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, bức xạ, tiếng ồn,. gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các cơ thể sống khác. Ô nhiễm môi trường xảy ra là do con người và cách quản lý của con người”[11].
Tổ chức Y tế thế giới dựa trên tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người và sinh vật, trong một công trình nghiên cứu của mình khẳng định, ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Tiếp cận dưới giác độ pháp lý dựa trên tiêu chuẩn môi trường, quan điểm được ghi nhận trong Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học luật Hà Nội hiểu: "Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [96]. Có thể thấy, ô nhiễm môi trường đe dọa sự sinh tồn cũng như phát triển của con người và sinh vật. Theo kết quả nghiên cứu của Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos, Thụy Sĩ, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe[88], ô nhiễm môi trường không khí là một trong những nguyên nhân chính gây ra các căn bệnh ung thư phổi,.
Do vậy, kiểm soát ô nhiễm môi trường có vai trò vô cùng 7 quan trọng. Vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của học giả, các nhà khoa học các nước mà cả các tổ chức quốc tế, như các tổ chức, như: Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Y tế thế giới, Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP) và nhiều tổ chức quốc tế khác,. cũng đã có những nghiên cứu, hoặc tài trợ cho nhiều công trình nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Theo Bách khoa toàn thư mở đã định nghĩa kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới giác độ liệt kê kiểm soát các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường là các chất thải và phát thải đồng thời đề cao biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường, cụ thể: Kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc kiểm soát phát thải và chất thải vào không khí, nước và đất.
Nếu không có việc kiểm soát ô nhiễm, các chất thải từ các hoạt động tiêu thụ, sản xuất, vận tải, đốt nhiên liệu tạo nhiệt, và các hoạt động khác của con người sẽ làm tích tụ hoặc phát tán chất ô nhiễm sẽ làm giảm chất lượng môi trường sống. Trong các cấp kiểm soát, phòng chống ô nhiễm và giảm thiểu chất thải được xem là các biện pháp hiệu quả [11]. Kiểm soát ô nhiễm môi trường (Polluton control) được hiểu một cách tổng quát là tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý làm giảm thiểu hay loại trừ được nó. Các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ phải được áp dụng với cấu trúc có sẵn, đó chính là thể chế, luật pháp, chính sách văn bản, tiêu chuẩn, quy định, các giải pháp công nghệ, các công cụ kinh tế, đánh giá tác động môi trường, quan trắc và giám sát môi trường,.
Có thể thấy dưới giác độ kinh tế, kỹ thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường cho thấy hoạt động này được áp dụng chủ yếu trên hai phương diện là mục tiêu giảm thiểu và kiểm soát các loại chất thải thông thường, chất thải nguy hại.; Tiếp cận dưới giác độ pháp lý, quan điểm ghi nhận trong Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học luật Hà Nội, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội năm 2007 cho rằng: kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên [96]. Đồng thời có phân biệt giữa kiểm soát ô nhiễm môi trường với quản lý nhà nước về môi trường, trong đó kiểm soát ô nhiễm môi trường có nội hàm rộng hơn, thể hiện ở nhiều khía cạnh như mục đích kiểm soát, chủ thể kiểm soát, cách thức, công cụ và phương tiện kiểm soát. Cụ thể mục đích của kiểm soát ô nhiễm môi trường chính là nhằm phòng ngừa, khống chế không để ô nhiễm môi trường xảy ra.
Còn nếu vì các lý do khác nhau mà ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì kiểm soát ô nhiễm chính là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm; chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ là Nhà nước (thông qua các cơ 8 quan quản lý nhà nước về môi trường) mà còn bao gồm các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân,. Kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ thực hiện bằng biện pháp mệnh lệnh – kiểm soát bằng các công cụ hành chính mà còn được thực hiện bằng các công cụ kinh tế, các biện pháp kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội và yếu tố thị trường. trong đó các yếu tố thị trường, yếu tố xã hội ngày càng được quan tâm cân nhắc, lựa chọn. Nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới giác độ pháp lý gồm: thu thập, quản lý và công bố các thông tin về môi trường, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm; ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường; quản lý chất thải; xử lý, khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm,.
Trong khi đó Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội lý giải kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới hai giác độ: Một là, kiểm tra về phương diện môi trường của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh kể từ khi đi vào hoạt động cho tới khi chấm dứt hoạt động và quá trình tự kiểm tra, tự giám sát của chính cơ sở sản xuất, kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của mình; hai là, quá trình theo dõi, kiểm tra về phương diện môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh kể từ thời điểm các cơ sở này được cấp quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường đến thời điểm được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. Không chỉ đưa ra cách hiểu về kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới các giác độ khác nhau, một số công trình nghiên cứu còn xác định nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường. Trong Luận án tiến sĩ: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, của Lưu Ngọc Tố Tâm đã liệt kê kiểm soát ô nhiễm môi trường, gồm: đánh giá môi trường, quản lý chất thải, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường; giải quyết các tranh chấp môi trường; kiểm soát ô nhiễm môi trường trong các hoạt động cụ thể. Trong Dự án Nhiệm vụ điều tra, khảo sát, xây dựng các bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm và đề xuất dự án xây dựng bản đồ ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc của Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng Cục Môi trường đã xác định, kiểm soát ô nhiễm bao gồm: kiểm soát các nguồn thải gây ra ô nhiễm môi trường (nguồn thải khí ô nhiễm, nguồn thải nước ô nhiễm, nguồn thải chất thải rắn, nguồn thải tiếng ồn, nguồn thải bức xạ), kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, kiểm soát ô nhiễm môi trường các ngành sản xuất công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm môi trường xung quanh ở các khu vực đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, các làng nghề.
và kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước mặt, nước ngầm và môi trường nước biển ven bờ [91]. 9 Các khái niệm ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường được nêu và phân tích ở trên là những kết quả nghiên cứu quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu. Tác giả sẽ có sự kế thừa hợp lý trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình. Thứ hai, tổng quan các công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Một là, về xuất xứ của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.