Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Hoàng Mai tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp), thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số đào tạo 9 38 01 07, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Ngọc Dũng và PGS.TS Vũ Thị Lan Anh, bảo vệ năm 2020.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, hợp đồng Thiết kế – Cung cấp thiết bị công nghệ – Thi công xây dựng công trình (EPC) là một hình thức cụ thể của phương thức Thiết kế – Xây dựng (Design – Build, viết tắt là DB), khác biệt với phương thức truyền thống Thiết kế – Đấu thầu – Xây dựng (Design – Bid – Build, viết tắt là DBB). Thuật ngữ EPC bắt nguồn từ ngành công nghiệp dầu khí tại Hoa Kỳ và nhanh chóng trở thành mô hình phổ biến trong các dự án hạ tầng, công nghiệp quy mô lớn trên thế giới. Tại Việt Nam, hợp đồng EPC lần đầu được ghi nhận tại Nghị định số 07/2003/NĐ-CP và hiện được điều chỉnh bởi Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 bởi Luật số 62/2020/QH14), Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP và Thông tư số 30/2016/TT-BXD. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai các dự án EPC tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ nhiều sự cố chậm tiến độ, vượt dự toán tổng mức đầu tư, phát sinh tranh chấp phức tạp. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc cơ chế, chính sách và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng EPC còn thiếu đồng bộ, chưa cụ thể và chưa tương thích với thông lệ quốc tế. Trước khi luận án này được công bố, các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế chủ yếu tiếp cận hợp đồng EPC dưới góc độ kinh tế – kỹ thuật và quản lý dự án đơn thuần, để lại một khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về phương diện pháp lý và lý luận lập pháp đối với hợp đồng EPC.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể, đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng EPC, đồng thời nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về loại hợp đồng này tại Việt Nam, bảo đảm sự tương thích giữa quy định pháp luật với thực tiễn giao kết, thực hiện và xử lý tranh chấp.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích làm rõ đặc điểm lý luận của hợp đồng EPC, phân biệt hợp đồng EPC với các hợp đồng xây dựng truyền thống và xác lập cấu trúc nội dung năm nhóm quy phạm cơ bản của pháp luật về hợp đồng EPC.
- Trình bày, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hợp đồng EPC tại Việt Nam, chỉ ra các hạn chế, bất cập và nguyên nhân phát sinh.
- Nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý và thực tiễn thực thi hợp đồng EPC của các quốc gia và thông lệ quốc tế.
- Xây dựng định hướng và các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng EPC ở Việt Nam.
Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Quy định pháp luật về hợp đồng EPC ở Việt Nam đã đầy đủ và phù hợp với bản chất (đặc trưng) của loại hợp đồng này cũng như thông lệ quốc tế hay chưa?
- Câu hỏi 2: Thực trạng áp dụng hợp đồng EPC ở Việt Nam đã và đang nảy sinh những vấn đề gì từ góc độ pháp luật và những vấn đề đó đã được giải quyết chưa, giải quyết ở mức độ nào; các quốc gia khác đã giải quyết những vấn đề này như thế nào?
- Câu hỏi 3: Các giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng EPC và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng EPC ở Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Khung pháp lý điều chỉnh quan hệ hợp đồng EPC tại Việt Nam hiện còn nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ và chưa tương thích với thông lệ quốc tế, dẫn tới việc mô hình EPC chưa phát huy được các ưu thế vốn có trong quản lý chi phí, tiến độ và chất lượng dự án đầu tư xây dựng.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm: Các quan điểm khoa học kinh tế – kỹ thuật và pháp lý về hợp đồng EPC; các quy định pháp luật thực định của Việt Nam về hợp đồng EPC; thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này; kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật về hợp đồng EPC tại một số quốc gia.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Tập trung vào năm nhóm quy định pháp lý gồm chủ thể, giao kết hợp đồng, nội dung hợp đồng, hình thức hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn được giới hạn trong các dự án EPC sử dụng nguồn vốn đầu tư công.
- Về không gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định Việt Nam và đối chiếu có chọn lọc với pháp luật một số quốc gia cùng các mẫu hợp đồng quốc tế.
- Về thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành tính đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan theo từng nhóm chủ đề chuyên biệt:
- Nhóm giáo trình và nghiên cứu lý luận nền tảng về hợp đồng:
- Trong nước: "Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung)" của Ngô Huy Cương (2013); "Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án" của Đỗ Văn Đại (2017); "Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Khánh (2007); "Sổ tay luật sư – Tập 3 – Chương 6: Tư vấn lĩnh vực xây dựng" của Lê Nết (2017); "Pháp luật về hợp đồng – Các vấn đề pháp lý cơ bản" của Trương Nhật Quang (2020).
- Quốc tế: Các công trình về luật hợp đồng xây dựng của John Adriaanse ("Construction Contract Law", 2010), Lukas Klee ("International Construction Contract Law", 2015), Douglas D. Molenaar ("Preparing for Design-Built Projects", 2006), Jeffrey L. Wundram ("Design-Built Planning through Development", 2001), Joseph A. Huse ("Understanding and Negotiating Turnkey and EPC Contracts", 2002), Howard M. Steinberg ("Understanding and Negotiating EPC Contracts", 2016).
- Nhóm nghiên cứu về lý thuyết hợp đồng quan hệ và quản trị quan hệ đối tác trong xây dựng:
- Công trình tiêu biểu của Albert P. Chan và John F. ("Relational Contracting for Construction Excellence"); các nghiên cứu của Yan Ning và Florence Yean Yng Ling (2013, 2015); Cheng Zusong (2013); Albertus Laan, Hans Voordijk và Geert Dewulf (2011); M. Motiar Rahman, Mohan M. Kumaraswamy và Florence Yean Yng Ling (2007); Seyed Y. Banihashemi và Li Liu (2014); Hemanta Doloi (2009).
- Nghiên cứu thực nghiệm áp dụng hợp đồng quan hệ tại các quốc gia như Trung Quốc (Florence Y. Ling, Yongjian Ke, Mohan M. Kumaraswamy, ShouQing Wang, 2013), Singapore (Florence Y. Ling, Peng Chong Tan, Yan Ning, Albert Teo, Asanga Gunawansa, 2015), Úc (John F. Chan, Daniel W. Chan, 2012).
- Nhóm nghiên cứu về giao kết hợp đồng và áp dụng hợp đồng mẫu:
- Đánh giá lựa chọn nhà thầu EPC qua mô phỏng Monte Carlo của Pramendra Srivastava (2011), phương pháp entropy TOPSIS của Cui Herui và Liang Lihua (2010), ứng dụng VBA của Jun Liang và Tianyong Niu (2010); đề tài cấp Bộ về lựa chọn nhà thầu và hình thức tổng thầu của Nguyễn Anh Tuấn (2010).
- Nghiên cứu hợp đồng mẫu FIDIC của Andy Hewitt (2014); hợp đồng mẫu NEC3 của Brian Eggleston (2006), Michael Rowlinson (2011) và bài viết giới thiệu NEC3 của Nguyễn Thế Quân (2015).
- Nhóm nghiên cứu về nội dung hợp đồng, quản lý thực hiện, rủi ro, nhà thầu phụ, chi phí và công nghệ:
- Nhận diện và phân bổ rủi ro: George E. (2005), Huaiping Feng và cộng sự (2013), Zheng Yang và Shuibo Zhang (2011), Hui An và Qin Shuai (2011), Yunna Wu và cộng sự (2010), Xing BI và Hai-tao TAN (2010), Jun'e Liu và cộng sự, Enrico Cagno và Guido J.L Micheli, Weike Chen và Chun Wang.
- Quản lý nhà thầu phụ: Kenneth L. (1968), Chunlin Wu và cộng sự (2016), Emmanuel Manu và cộng sự (2015), Weifang Li (2014) và đề tài cấp Bộ của Hà Đức Thắng (2013).
- Chi phí và thanh toán: Chao Wang và Lingling Zhang (2011), Xiangbai Gu và cộng sự (2011), Nobuaki Ishii và cộng sự (2014), Roderick Pettigrew (2005).
- Quản trị hợp đồng: Greg Goldfayl (2004, phân tích mẫu hợp đồng ABIC MW-1 và AS4000), Edward Whitticks (2005), Hồ Ngọc Sơn (2013), Trương Thị Thu Thanh (2015).
- Ứng dụng BIM và Lean Construction: Lijia Wang và cộng sự (2012), Zhou Yang và Li Wenhua (2014), Zhu Jiong và Han Weigang (2013), Yan Chen (2012).
- Nhóm nghiên cứu về tranh chấp và giải quyết tranh chấp xây dựng:
- Các tài liệu về khiếu nại và hòa giải: David Chappell (2011), John Redmond (2001); nhân chứng chuyên gia của Robert Horne và John Mullen (2013), Jennifer Charlson và James Smalley (2015); cơ chế Ban xử lý tranh chấp (Dispute Boards) của Cyril Chern (2008), Li Weifang (2014); báo cáo thống kê tranh chấp của Graham Taylor (Arcadis / EC Harris, 2016); nghiên cứu giải quyết tranh chấp theo FIDIC tại Việt Nam của Nguyễn Mai Linh (2019).
- Nhóm nghiên cứu về thực tiễn và bài học kinh nghiệm:
- Nghiên cứu thực tiễn tại Indonesia (Adhi Cahyono và Yanki Hartijasti, 2012), Đài Loan (Nie-Jia Yau và Jyh-Bin Yang), Hàn Quốc (Young Cho, 2016), Ấn Độ (R. Krishnaswamy, 1997), Congo (Wancai Xu và cộng sự), Canada (George E. Baram và David M. Barken, 2001; Janaka Y. Ruwanpura và cộng sự, 2006), Hồng Kông (Edmond W. Chan và Daniel W. Chan), Trung Quốc (Zhang Jing-xiao và cộng sự, 2010; Lei Du và cộng sự, 2016).
- Nghiên cứu thực trạng EPC tại Việt Nam: Linh Hong Pham và Harimurti Hadikusumo (2014), Chuan Chen và cộng sự (2013, nghiên cứu trường hợp Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng II), Mai Sy Hung và cộng sự; các luận văn thạc sĩ kinh tế của Vũ Ngọc Phương (2009), Bùi Thị Bích Diệp (2010), Bùi Hồng Minh (2014), Nguyễn Ngọc Anh (2015), Nguyễn Kim Tuấn (2015), Đỗ Gia Lương (2015); cùng các luận án, luận văn quốc tế của Dominique R. Williams (2015), Tarek Haggag (2006).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận hợp đồng EPC từ góc độ kinh tế kỹ thuật hoặc quản lý điều hành dự án cụ thể. Luận án của Đặng Hoàng Mai là công trình khoa học đầu tiên giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận pháp lý về hợp đồng EPC, làm rõ sự chi phối của đặc thù kỹ thuật tới cấu trúc năm nhóm quy phạm pháp luật và đề xuất khung giải pháp hoàn thiện thể chế điều chỉnh hợp đồng EPC trong các dự án sử dụng vốn đầu tư công tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nội dung dựa trên ba trụ cột lý thuyết và nguyên tắc pháp lý căn bản:
- Lý thuyết hợp đồng quan hệ (Relational Contract Theory): Khác với lý thuyết hợp đồng cổ điển vốn coi hợp đồng là một giao dịch đóng băng và rời rạc, lý thuyết hợp đồng quan hệ nhìn nhận hợp đồng xây dựng phức tạp, dài hạn như EPC là một quan hệ hợp tác động, chú trọng sự giao tiếp, niềm tin, giải quyết tranh chấp nội bộ linh hoạt và quản trị biến đổi trong suốt vòng đời dự án.
- Lý thuyết chia sẻ rủi ro (Theory of Risk Sharing): Xác lập nguyên tắc phân bổ rủi ro cho bên có khả năng kiểm soát và gánh chịu rủi ro tốt nhất với chi phí thấp nhất, tránh việc dồn ép toàn bộ rủi ro không lường trước lên tổng thầu.
- Nguyên tắc thiện chí (Good Faith): Đóng vai trò là chuẩn mực xử sự xuyên suốt quá trình đàm phán, giao kết, thực hiện hợp đồng và thương lượng khi có phát sinh thay đổi.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với việc quán triệt đường lối, chính sách của Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và quản lý đầu tư xây dựng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật thực định và đánh giá các ưu, nhược điểm của cơ chế điều chỉnh pháp luật hiện hành.
- Phương pháp thống kê: Thu thập dữ liệu thực tế từ các dự án EPC tại Việt Nam (đặc biệt trong các lĩnh vực dầu khí, nhiệt điện, hạ tầng giao thông) nhằm nhận diện các vướng mắc, tồn tại.
- Phương pháp so sánh luật học: Được vận dụng xuyên suốt nhằm đối chiếu pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế như FIDIC Silver Book, NEC3, cũng như kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc.
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Bộ luật Dân sự, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn); các mẫu hợp đồng chuẩn quốc tế (FIDIC, NEC, ABIC, AS4000); các báo cáo tổng kết, hồ sơ thực tiễn dự án đầu tư công và các tài liệu chuyên khảo trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng Thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ, thi công xây dựng công trình và pháp luật về hợp đồng Thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ, thi công xây dựng công trình
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về bản chất pháp lý của hợp đồng EPC và pháp luật điều chỉnh hợp đồng EPC. Tác giả phân tích hợp đồng EPC là dạng hợp đồng phức hợp thuộc phương thức Design – Build (DB).
Bảng so sánh giữa mô hình hợp đồng xây dựng truyền thống (DBB) và mô hình hợp đồng EPC:
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình truyền thống (Design – Bid – Build - DBB) |
Mô hình EPC (Design – Build - DB) |
| Đầu mối chịu trách nhiệm |
Chủ đầu tư ký nhiều hợp đồng riêng rẽ với nhà thầu thiết kế, nhà thầu cung cấp thiết bị và nhà thầu thi công. |
Tổng thầu EPC là một đầu mối chịu trách nhiệm duy nhất (Single Point of Responsibility) đối với toàn bộ chuỗi công việc E, P và C. |
| Chuẩn mực thực hiện nghĩa vụ |
Nhà thầu thiết kế chịu trách nhiệm thận trọng nghề nghiệp (Reasonable skill and care); nhà thầu thi công chỉ chịu trách nhiệm thi công đúng bản vẽ. |
Tổng thầu EPC chịu trách nhiệm bàn giao công trình hoàn chỉnh đạt kết quả "phù hợp với mục đích sử dụng" (Fitness for purpose). |
| Xác định giá hợp đồng |
Giá hợp đồng thường được xác định sau khi thiết kế kỹ thuật/thi công đã hoàn tất toàn bộ. |
Giá hợp đồng thường là giá trọn gói cố định, được chốt không muộn hơn giai đoạn giữa của thiết kế ban đầu. |
| Mức độ can thiệp của chủ đầu tư |
Chủ đầu tư trực tiếp kiểm soát, điều phối từng khâu thiết kế và thi công. |
Chủ đầu tư chủ yếu quản lý thông qua văn kiện "Các yêu cầu của chủ đầu tư" (Employer's Requirements), giảm can thiệp trực tiếp vào quy trình kỹ thuật. |
Luận án chỉ ra hai điểm mấu chốt cấu thành bản chất hợp đồng EPC:
- Nguyên tắc một đầu mối chịu trách nhiệm duy nhất: Chủ đầu tư chỉ chuyển giao toàn bộ giao diện công việc cho tổng thầu EPC.
- Nghĩa vụ bảo đảm kết quả "phù hợp với mục đích sử dụng" (Fitness for purpose): Đây là chuẩn mực pháp lý cao hơn chuẩn mực thận trọng nghề nghiệp thông thường, ràng buộc tổng thầu phải bàn giao một công trình sẵn sàng vận hành thương mại đạt các chỉ số đầu ra quy định trong hợp đồng.
Chương 1 cũng xác lập cấu trúc nội dung của pháp luật về hợp đồng EPC bao gồm năm nhóm quy phạm: (1) Quy định về chủ thể; (2) Quy định về giao kết hợp đồng; (3) Quy định về nội dung hợp đồng; (4) Quy định về hình thức hợp đồng; và (5) Quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng Thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ, thi công xây dựng công trình và thực tiễn thi hành tại Việt Nam
Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định của Việt Nam và đối chiếu với thực tiễn áp dụng tại các dự án EPC sử dụng vốn đầu tư công theo cấu trúc năm nhóm quy phạm đã xác định:
-
Quy định về chủ thể và thực tiễn thi hành: Đánh giá các điều kiện năng lực hành nghề của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và tổng thầu EPC; tư cách pháp lý của mô hình liên danh tổng thầu và mối quan hệ pháp lý phức tạp giữa chủ đầu tư, tổng thầu EPC và các nhà thầu phụ. Thực tiễn cho thấy nhiều nhà thầu trong nước chưa đủ năng lực tài chính và kinh nghiệm quản trị tổng thể chuỗi E-P-C, trong khi chủ đầu tư còn thiếu kinh nghiệm lập hồ sơ yêu cầu.
-
Quy định về giao kết hợp đồng và thực tiễn thi hành: Phân tích quy trình đấu thầu lựa chọn tổng thầu EPC theo Luật Đấu thầu, chất lượng lập hồ sơ "Các yêu cầu của chủ đầu tư" (Employer's Requirements), thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu và việc xác định ranh giới thiết kế ban đầu (Front-End Engineering Design – FEED). Thực tiễn cho thấy hồ sơ mời thầu thường thiếu chuẩn xác về số liệu khảo sát, đẩy rủi ro thiết kế cho nhà thầu hoặc làm phát sinh tranh chấp ngay từ giai đoạn chào thầu.
-
Quy định về nội dung hợp đồng và thực tiễn thi hành: Xem xét cơ chế điều chỉnh giá hợp đồng trọn gói, quy định về phân bổ rủi ro bất khả kháng, rủi ro điều kiện địa chất không lường trước, quy trình nghiệm thu chạy thử (Commissioning), bảo lãnh thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ chuyển giao công nghệ. Thực tiễn tại các dự án nhiệt điện, dầu khí cho thấy việc quy định giá trọn gói cứng nhắc trong điều kiện biến động kinh tế vĩ mô dẫn tới nhiều bế tắc pháp lý khi chi phí đầu vào tăng vọt.
-
Quy định về hình thức hợp đồng và thực tiễn thi hành: Đánh giá việc áp dụng hợp đồng mẫu theo Thông tư số 30/2016/TT-BXD và việc vận dụng các mẫu hợp đồng quốc tế như FIDIC Silver Book tại Việt Nam. Tác giả chỉ rõ sự thiếu đồng bộ giữa các điều khoản mẫu của Việt Nam với các cam kết và tập quán thương mại quốc tế.
-
Quy định về giải quyết tranh chấp và thực tiễn thi hành: Phân tích các cơ chế thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Đáng chú ý, chương này đánh giá khoảng trống pháp lý trong việc công nhận và thi hành phán quyết/khuyến nghị của Ban xử lý tranh chấp (Dispute Board / DAB) – một thiết chế giải quyết tranh chấp tiền tố tụng rất phổ biến trong các hợp đồng FIDIC nhưng chưa được quy định hoàn chỉnh trong tố tụng Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng Thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý và tổ chức thực hiện:
-
Định hướng hoàn thiện: Tiếp cận dựa trên lý thuyết hợp đồng quan hệ và nguyên tắc phân bổ rủi ro công bằng; hài hòa hóa pháp luật trong nước với thông lệ quốc tế (FIDIC, NEC3); xác định rõ phạm vi áp dụng bắt buộc hoặc khuyến khích đối với từng loại dự án đầu tư công.
-
Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Xây dựng và các Nghị định hướng dẫn về hợp đồng xây dựng nhằm ghi nhận chuẩn mực trách nhiệm "phù hợp với mục đích sử dụng" gắn liền với quyền tự chủ kỹ thuật của tổng thầu EPC.
- Hoàn thiện quy chế đấu thầu EPC trong Luật Đấu thầu, tiêu chuẩn hóa việc lập hồ sơ "Các yêu cầu của chủ đầu tư" và cơ chế đánh giá đề xuất kỹ thuật hai giai đoạn.
- Cụ thể hóa quy định về phân chia rủi ro địa chất và trượt giá trong hợp đồng EPC trọn gói, bảo đảm tính linh hoạt khi phát sinh các sự kiện bất khả kháng hoặc thay đổi chính sách pháp luật.
- Thể chế hóa mô hình Ban xử lý tranh chấp (DAB/DB) trong pháp luật xây dựng và pháp luật tố tụng/trọng tài tại Việt Nam, tạo cơ chế công nhận hiệu lực pháp lý của các quyết định của Ban xử lý tranh chấp.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
- Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ quản lý dự án thuộc các chủ đầu tư sử dụng vốn nhà nước.
- Khuyến khích áp dụng các công cụ quản lý dự án hiện đại như Mô hình Thông tin Công trình (BIM) và phương thức quản lý xây dựng tinh gọn (Lean Construction) để giảm thiểu xung đột giao diện kỹ thuật.
- Chuẩn hóa việc sử dụng các mẫu hợp đồng EPC tiêu chuẩn (Thông tư Bộ Xây dựng cập nhật tương thích với FIDIC Silver Book).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới chủ yếu sau:
Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận hợp đồng EPC dựa trên hệ thống lý thuyết hợp đồng quan hệ (Relational Contract Theory), lý thuyết chia sẻ rủi ro (Theory of Risk Sharing) và nguyên tắc thiện chí (Good Faith). Luận án đã làm rõ sự khác biệt bản chất giữa hợp đồng EPC và hợp đồng xây dựng truyền thống, luận giải yêu cầu pháp lý về nghĩa vụ "phù hợp với mục đích sử dụng" và phân tích các yếu tố chi phối việc điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng EPC. Luận án đã xây dựng cấu trúc nội dung năm nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng EPC.
Về mặt thực tiễn: Luận án đã hệ thống hóa và đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hợp đồng EPC theo cấu trúc năm nhóm quy phạm; chỉ rõ các bất cập, mâu thuẫn giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn thực hiện các dự án EPC sử dụng vốn đầu tư công; chỉ ra nguyên nhân dẫn tới các thất bại về tiến độ, chi phí và tranh chấp trong thực tiễn thi hành.
Về mặt giải pháp: Luận án đã đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp lập pháp đồng bộ, bao gồm việc hoàn thiện quy định về đấu thầu EPC, phân bổ rủi ro trong hợp đồng trọn gói, pháp điển hóa cơ chế Ban xử lý tranh chấp (DAB), cùng các giải pháp thực thi như ứng dụng công nghệ BIM, nâng cao năng lực chủ đầu tư và chuẩn hóa hệ thống hợp đồng mẫu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát và phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành trong phạm vi các dự án EPC sử dụng nguồn vốn đầu tư công tại Việt Nam; các dự án xây dựng thuần túy tư nhân hoặc các dạng hợp đồng phái sinh phức tạp ngoài nhóm công trình công nghiệp và hạ tầng chưa được đào sâu tương đương.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ cơ sở lý thuyết hợp đồng quan hệ và bối cảnh chuyển đổi số ngành xây dựng, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát mô hình liên minh dự án (Project Alliancing), cơ chế chia sẻ lợi ích - rủi ro trong các dự án đối tác công tư (PPP) áp dụng EPC, cũng như các khía cạnh pháp lý của việc ứng dụng hợp đồng thông minh (Smart Contracts) và dữ liệu BIM trong quản trị vòng đời hợp đồng xây dựng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp) trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn về hợp đồng xây dựng.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học tại các cơ sở đào tạo luật học và kinh tế - quản lý xây dựng (Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng, v.v.) phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật xây dựng.
- Các doanh nghiệp, chủ đầu tư, tổng thầu EPC, tổ chức tư vấn luật, luật sư và trọng tài viên trong việc đàm phán, soạn thảo, quản lý rủi ro và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng EPC.
Câu hỏi thường gặp
1. Hợp đồng EPC khác biệt căn bản như thế nào so với mô hình hợp đồng xây dựng truyền thống (DBB)?
Trong mô hình truyền thống (DBB), chủ đầu tư phải ký kết các hợp đồng riêng biệt với đơn vị thiết kế và đơn vị thi công, tự chịu trách nhiệm điều phối các giao diện công việc. Trong mô hình EPC, chủ đầu tư chỉ ký một hợp đồng duy nhất với tổng thầu EPC; tổng thầu là đầu mối chịu trách nhiệm duy nhất (Single Point of Responsibility) từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến thi công hoàn thiện công trình.
2. Trách nhiệm "phù hợp với mục đích sử dụng" (Fitness for purpose) của tổng thầu EPC có gì khác với trách nhiệm của nhà thầu thiết kế truyền thống?
Trong hợp đồng truyền thống, nhà thầu thiết kế chỉ chịu trách nhiệm tuân thủ kỹ năng và sự thận trọng nghề nghiệp hợp lý (Reasonable skill and care) theo phương pháp thực hiện. Ngược lại, tổng thầu EPC chịu trách nhiệm nghiêm ngặt về kết quả đầu ra: công trình khi bàn giao phải vận hành hoàn chỉnh, đáp ứng đúng mục đích sử dụng và các tiêu chuẩn hiệu quả đã thỏa thuận trong hợp đồng với chủ đầu tư.
3. Tại sao luận án lại sử dụng Lý thuyết hợp đồng quan hệ (Relational Contract Theory) để nghiên cứu hợp đồng EPC?
Hợp đồng EPC có thời gian thực hiện kéo dài, quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và nhiều rủi ro không thể dự liệu hết tại thời điểm ký kết. Lý thuyết hợp đồng quan hệ cung cấp cơ sở lý luận để tiếp cận hợp đồng như một quan hệ hợp tác động, nhấn mạnh yếu tố thiện chí, chia sẻ rủi ro, trao đổi thông tin liên tục và xử lý vướng mắc linh hoạt, khắc phục sự cứng nhắc của cách tiếp cận hợp đồng truyền thống.
4. Đóng góp của luận án đối với cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng EPC tại Việt Nam là gì?
Luận án chỉ ra khoảng trống pháp lý trong việc áp dụng mô hình Ban xử lý tranh chấp (Dispute Board / DAB) tại Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp pháp điển hóa và xây dựng quy chế công nhận giá trị pháp lý của các quyết định từ Ban xử lý tranh chấp trong hệ thống pháp luật xây dựng và tố tụng/trọng tài trong nước.
5. Luận án đề xuất giải pháp công nghệ nào để nâng cao hiệu quả thi hành hợp đồng EPC?
Luận án đề xuất thúc đẩy việc áp dụng Mô hình Thông tin Công trình (BIM) và phương thức quản lý xây dựng tinh gọn (Lean Construction) nhằm tăng cường tính minh bạch, kiểm soát xung đột kỹ thuật giữa các giai đoạn thiết kế, mua sắm và thi công, từ đó giảm thiểu các biến động chi phí và tranh chấp phát sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) ở Việt Nam" của tác giả Đặng Hoàng Mai là công trình khoa học chuyên sâu, tiếp cận toàn diện hợp đồng EPC dưới góc độ khoa học pháp lý. Thông qua việc vận dụng lý thuyết hợp đồng quan hệ, lý thuyết chia sẻ rủi ro và nguyên tắc thiện chí, luận án đã làm rõ cấu trúc năm nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng EPC và phân tích sâu sắc các bất cập trong thực tiễn áp dụng tại các dự án đầu tư công ở Việt Nam. Hệ thống các định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế cùng các biện pháp nâng cao năng lực thực thi do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo đối với công tác lập pháp và quản lý thực tiễn hoạt động đầu tư xây dựng.