Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền đối với bất động sản liền kề theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hường, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hà Thị Mai Hiên, tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9 38 01 07, bảo vệ năm 2019).

Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Tên đề tài: Quyền đối với bất động sản liền kề theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế | Mã số: 9 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: PGS. Hà Thị Mai Hiên
Năm hoàn thành: 2019

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quyền đối với bất động sản liền kề (nguồn gốc từ chế định địa dịch - servitudes trong luật La Mã cổ đại) là một loại vật quyền phát sinh từ nhu cầu thực tiễn nhằm khai thác giá trị sử dụng của thửa đất hoặc công trình bị vây bọc thông qua việc sử dụng bất động sản liền kề. Về mặt nguyên tắc, quyền sở hữu mang tính tuyệt đối, song khi áp dụng vào lĩnh vực bất động sản, việc thực hiện quyền năng của chủ sở hữu này không được làm tổn hại đến lợi ích của chủ sở hữu khác và lợi ích cộng đồng. Do đó, quyền sở hữu chịu những hạn chế cần thiết trong mối quan hệ láng giềng.

Tại Việt Nam, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 chỉ quy định quyền này tại một tiểu mục gồm 7 điều (Điều 273 đến Điều 279) trong Chương XVI về quyền sở hữu dưới tên gọi "Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề". Đến BLDS năm 2015, chế định này được nâng lên thành một mục độc lập gồm 12 điều (Điều 245 đến Điều 256) thuộc Chương XIV "Quyền khác đối với tài sản". Tuy nhiên, sự ra đời của hàng loạt luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Tài nguyên nước đã làm nảy sinh sự đan xen phức tạp về hình thức pháp lý công nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng bất động sản. Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu đơn lẻ từng khía cạnh trong phạm vi hẹp của luật dân sự, chưa xem xét toàn diện mối quan hệ giữa BLDS và các luật chuyên ngành trong việc xác lập, thực thi, giới hạn và bảo vệ quyền đối với bất động sản liền kề.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền đối với bất động sản liền kề, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của quyền đối với bất động sản liền kề.
  2. Nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề (nguyên tắc, nội dung và hình thức điều chỉnh).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề ở Việt Nam hiện nay.
  4. Nghiên cứu đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học trong và ngoài nước; hệ thống chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền sở hữu và quyền đối với bất động sản liền kề; các quy định của pháp luật thực định Việt Nam; các vụ việc và thực tiễn thi hành pháp luật, giải quyết tranh chấp tại Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung vào 4 nhóm quy định cốt lõi gồm căn cứ xác lập và chấm dứt quyền; các trường hợp phổ biến của quyền (lối đi qua, cấp thoát nước, tưới tiêu nước trong canh tác, mắc đường dây tải điện và thông tin liên lạc); giới hạn quyền; và bảo vệ quyền trong mối tương quan giữa pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ môi trường).
    • Về không gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh với pháp luật La Mã cổ đại, pháp luật quốc tế (Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada, Thái Lan, Nga) và lịch sử pháp luật Việt Nam (Hoàng Việt luật lệ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính trong y văn

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm vấn đề chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung học thuật chính đã tiếp cận
Khái niệm và bản chất của bất động sản liền kề và quyền địa dịch John R. Barlow II & Donald M. Von Cannon; Phạm Công Lạc (2006); Trần Thị Huệ (2010); Nguyễn Văn Hợi; Lê Đăng Khoa (2017, 2018); Nguyễn Thanh Thư & Nguyễn Tấn Hoàng Hải (2019); Nguyễn Thị Minh Phượng (2012); Nguyễn Ngọc Điện; Bùi Thị Thanh Hằng (2016); Chu Thị Trinh & Đặng Thị Phương Linh (2016); Lê Nguyễn Gia Thiện & Nguyễn Thị Thùy Linh; Christian Hertel; R. D. Melville (1915); Lê Thị Liên Hương (2010). Phân tích khái niệm địa dịch (servitudes, jus in rem), bất động sản theo nghĩa hẹp (tiếp giáp, sát cạnh) và nghĩa rộng (tiếp giáp qua ranh giới, cột mốc, vùng lân cận); bàn luận về bản chất là quan hệ giữa hai bất động sản hay giữa các chủ sở hữu.
Đặc điểm pháp lý của quyền đối với bất động sản liền kề F. Rudden; Bùi Thị Thanh Hằng; Trần Thị Huệ (2010); Phạm Công Lạc (2006); Lê Đăng Khoa (2017); Nguyễn Minh Oanh (2018); Nguyễn Thị Minh Phượng (2012); Phạm Văn Tuyết (2019). Xác định các thuộc tính: tính đối vật (vật quyền), tính phụ thuộc vào sự tồn tại của bất động sản, tính bất khả phân, nghĩa vụ tiêu cực/thụ động của chủ sở hữu bất động sản chịu quyền.
Các trường hợp phổ biến và tranh chấp thực tiễn Phạm Công Lạc (2006); Trần Thị Huệ (2010); Nguyễn Thị Mận; Chu Thị Trinh & Đặng Thị Phương Linh (2016); Nguyễn Tấn Hoàng Hải (2017, 2019); Nguyễn Đăng Liêm; Lê Thị Giang (2019); Dương Tấn Thanh (2019). Đánh giá quy định và thực trạng xét xử về lối đi qua, cấp thoát nước, tưới tiêu nông nghiệp, mắc đường dây tải điện/thông tin liên lạc; các vấn đề bồi hoàn, đền bù chi phí và thẩm quyền hòa giải tại UBND cấp xã.
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Nguyễn Ngọc Điện; Nguyễn Thị Minh Phượng (2012); Nguyễn Thị Mận; Phạm Công Lạc (2006); Lê Đăng Khoa (2017, 2018); Dương Tấn Thanh (2019); Nguyễn Thanh Thư; Lê Thị Hải Yến (2019); Đỗ Văn Đại. Đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý ("địa dịch" so với "quyền đối với bất động sản liền kề"), cơ chế đăng ký quyền đối vật vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm trong quan hệ láng giềng.

Những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo và khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra 4 khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết:

  1. Bất đồng về thuật ngữ và bản chất pháp lý: Chưa có sự thống nhất giữa việc sử dụng thuật ngữ "quyền địa dịch", "quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề" hay "quyền đối với bất động sản liền kề", cũng như chưa ngã ngũ quan điểm coi đây là quan hệ giữa tài sản với tài sản hay quan hệ giữa chủ thể với chủ thể.
  2. Thiếu tính đồng bộ liên ngành: Các công trình chủ yếu tiếp cận thuần túy dưới góc độ luật dân sự, chưa phân tích tổng thể mối quan hệ giữa BLDS với hệ thống luật kinh tế và luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường).
  3. Chưa bao quát các giới hạn thực tế: Nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ một vài giới hạn quyền, chưa nghiên cứu toàn diện thực trạng giới hạn quyền liên quan đến quy chuẩn xây dựng, tiếng ồn, thoát mùi, xả thải trong đời sống đô thị và nông thôn hiện đại.
  4. Thiếu hụt cơ chế bảo vệ chuyên biệt: Vấn đề bảo vệ quyền đối với bất động sản liền kề chưa được mổ xẻ trực diện như một nhóm quy định độc lập trong hệ thống bảo vệ vật quyền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết nền tảng của khoa học pháp lý dân sự và kinh tế:

  • Lý thuyết về tài sản và quyền sở hữu: Quyền sở hữu là quyền đối vật cốt lõi nhưng bị giới hạn bởi chức năng xã hội nhằm bảo đảm trật tự cộng đồng và lợi ích công cộng.
  • Lý thuyết về vật quyền (Jus in rem): Xác lập hiệu lực đối kháng tuyệt đối của quyền đối với tài sản với mọi chủ thể thứ ba, gắn liền quyền năng với vật thể thay vì nhân thân của chủ thể.
  • Lý thuyết về quyền địa dịch (Servitudes): Khung lý thuyết xuất phát từ luật La Mã cổ đại và luật so sánh hiện đại, giải thích mối quan hệ pháp lý phụ thuộc giữa bất động sản thụ hưởng (praedium dominans) và bất động sản phục vụ (praedium serviens).
  • Lý thuyết về bảo vệ quyền sở hữu và quyền đối vật: Các phương thức tự bảo vệ, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án thiết lập các cặp câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu có cấu trúc:

  • Câu hỏi 1: Quyền đối với bất động sản liền kề được hiểu như thế nào?
    Giả thuyết 1: Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc, trong những điều kiện luật định, được sử dụng bất động sản của người khác trong phạm vi xác định để thỏa mãn việc khai thác, sử dụng hợp lý bất động sản thuộc sở hữu của mình.
  • Câu hỏi 2: Nguyên tắc nào điều chỉnh các quan hệ pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề?
    Giả thuyết 2: Quan hệ này chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự kết hợp với các nguyên tắc đặc thù của vật quyền như nguyên tắc tuyệt đối và nguyên tắc xác định theo vật.
  • Câu hỏi 3: Nội dung của pháp luật về quyền đối với bất động sản liền kề bao gồm những nhóm quy định cơ bản nào?
    Giả thuyết 3: Nội dung bao gồm 4 nhóm: căn cứ xác lập và chấm dứt quyền; các trường hợp phổ biến; giới hạn quyền; và bảo vệ quyền đối với bất động sản liền kề.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích: Dùng để mổ xẻ, giải thích và hệ thống hóa các quy phạm pháp luật trong BLDS và các luật chuyên ngành.
  • Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng từ Chương 2 đến Chương 4 để khái quát hóa bản chất lý luận và cung cấp bức tranh đa chiều về thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và so sánh với pháp luật quốc tế nhằm tìm ra các điểm tương đồng, khác biệt làm luận cứ cho kiến nghị hoàn thiện.
  • Phương pháp nghiên cứu phân tích tình huống thực tiễn: Lựa chọn và phân tích các vụ việc tranh chấp, bản án thực tế để đánh giá tính khả thi và bất cập của quy định hiện hành.
  • Phương pháp diễn giải, quy nạp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 4 để khái quát các giải pháp lập pháp từ dữ liệu thực tiễn.
  • Phương pháp biện chứng lịch sử: Khảo sát sự phát triển của chế định địa dịch từ luật La Mã, thời kỳ phong kiến Việt Nam đến các bộ luật dân sự năm 1995, 2005 và 2015.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng thuật toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra sự vận động của nhận thức pháp lý về địa dịch qua các thời kỳ, phân loại các luồng quan điểm về định danh quyền, chỉ rõ những kết quả đã đạt được cần kế thừa và làm nổi bật 4 khoảng trống nghiên cứu mà luận án trực tiếp giải quyết. Chương 1 cũng trình bày toàn bộ cơ sở lý thuyết, các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp luận của luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về Quyền đối với bất động sản liền kề

Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về quyền đối với bất động sản liền kề với các nội dung trọng tâm:

  1. Khái niệm: Luận án định nghĩa quyền đối với bất động sản liền kề là quyền của chủ sở hữu bất động sản trong những điều kiện do pháp luật quy định, được sử dụng bất động sản của người khác trong phạm vi xác định để thỏa mãn việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý bất động sản thuộc sở hữu của mình.
  2. Chín đặc điểm pháp lý cơ bản:
    • Cấu thành từ 3 yếu tố: bất động sản phục vụ, bất động sản thụ hưởng và hai bất động sản phải thuộc hai chủ sở hữu khác nhau (tuân thủ nguyên tắc Nulli res sua servitus - không ai có quyền địa dịch trên chính tài sản của mình).
    • Là một dạng vật quyền (jus in rem) đối với tài sản của người khác, mang tính đối kháng với mọi chủ thể.
    • Xác lập chủ yếu giữa các bất động sản liền kề (tiếp giáp trực tiếp) hoặc bất động sản xung quanh có liên quan.
    • Mang tính tổng quát và không thể phân chia (tính bất khả phân), gắn liền với sự tồn tại của bất động sản chứ không phục vụ riêng cho nhân thân chủ thể.
    • Gắn liền với bất động sản về mặt bản chất (không di dời được như đất đai, công trình kiên cố).
    • Việc thụ hưởng quyền phải thực hiện trên tinh thần thiện chí, hợp lý, không gây thiệt hại cho bên chịu quyền.
    • Tạo ra nghĩa vụ thụ động/tiêu cực cho chủ sở hữu bất động sản chịu quyền (servitus in faciendo consistere non potest - bên chịu quyền chỉ chịu sự phiền lụy hoặc không được thực hiện hành vi ngăn cản, không bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ tích cực).
    • Về bản chất là quan hệ giữa các bất động sản với nhau, việc thay đổi chủ sở hữu không làm chấm dứt quyền.
    • Không mang giá trị kinh tế trực tiếp, không nhằm mục đích sinh lời mà nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, khai thác thông thường.
  3. Lý luận về điều chỉnh pháp luật: Phân tích nguyên tắc điều chỉnh, nội dung quy phạm và mối quan hệ giữa luật chung (BLDS) với các luật chuyên ngành trong việc quản lý và thực thi quyền.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về Quyền đối với bất động sản liền kề ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn xét xử theo 4 nhóm quy định:

  • Căn cứ xác lập và chấm dứt quyền: Phân tích các căn cứ xác lập theo địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc; chỉ ra sự thiếu vắng các quy định cụ thể về đăng ký quyền đối với bất động sản liền kề trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Các trường hợp phổ biến:
    • Quyền về lối đi qua: Đây là loại quyền phát sinh nhiều tranh chấp nhất tại Tòa án; bất cập về tiêu chí xác định "lối đi thuận tiện và hợp lý", cách tính mức đền bù và xử lý trường hợp lối đi đã có nhưng không đủ điều kiện sử dụng.
    • Quyền về cấp, thoát nước: Phân định rõ quyền thoát nước tự nhiên và thoát nước thải sinh hoạt; phân tích nghĩa vụ không được cản trở dòng chảy tự nhiên và trách nhiệm bồi thường khi gây ô nhiễm, ngập úng.
    • Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác: Đánh giá việc áp dụng tập quán nông nghiệp và quy chuẩn thủy lợi trong bối cảnh thu hẹp sản xuất nông nghiệp.
    • Quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc: Trách nhiệm bảo đảm an toàn kỹ thuật và giải quyết vướng mắc về bồi thường thiệt hại khi lắp đặt công trình qua không gian bất động sản liền kề.
  • Giới hạn quyền đối với bất động sản liền kề: Đánh giá các giới hạn xây dựng công trình, mở cửa sổ, khoảng cách ranh giới, kiểm soát tiếng ồn, độ rung, mùi hôi và xả thải qua bất động sản liền kề.
  • Bảo vệ quyền đối với bất động sản liền kề: Đánh giá các phương thức bảo vệ bằng biện pháp dân sự, hành chính và thủ tục tố tụng tại Tòa án; nêu rõ khó khăn trong việc thi hành án và vai trò của thủ tục hòa giải cơ sở tại UBND cấp xã.

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Quyền đối với bất động sản liền kề ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đưa ra các luận điểm hoàn thiện chính sách và pháp luật:

  • Định hướng hoàn thiện: Thể chế hóa chủ trương của Đảng và tinh thần Hiến pháp về bảo vệ quyền sở hữu; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa BLDS năm 2015 và các đạo luật chuyên ngành; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp quốc tế về chế định địa dịch; nâng cao hiệu quả thực thi trong nền kinh tế thị trường.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    • Chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ giữa Luật Đất đai và BLDS (sửa đổi cụm từ "quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề" thành "quyền đối với thửa đất liền kề" hoặc "quyền địa dịch").
    • Xây dựng quy trình đăng ký bắt buộc đối với quyền đối với bất động sản liền kề để tạo hiệu lực đối kháng với người thứ ba và ghi nhận chính thức trên hồ sơ địa chính.
    • Quy định rõ ràng các tiêu chí định lượng về "lối đi hợp lý", "bất động sản bị vây bọc", nguyên tắc và khung giá đền bù tài chính khi mở lối đi qua hoặc mắc đường dây.
    • Bổ sung quy định chi tiết về giới hạn quyền láng giềng liên quan đến môi trường, tiếng ồn, tầm nhìn, ánh sáng và xả thải.
    • Hoàn thiện trình tự giải quyết tranh chấp, quy định rõ cơ chế phối hợp giữa hòa giải tại cơ sở và xét xử tại Tòa án.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  1. Về phương pháp tiếp cận: Luận án là công trình tiếp cận chế định quyền đối với bất động sản liền kề không chỉ dưới lăng kính luật dân sự thuần túy mà mở rộng sang góc độ luật kinh tế và các luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường), tạo cái nhìn toàn diện về cơ chế điều chỉnh tài sản.
  2. Về lý luận chuyên sâu: Luận án làm sáng tỏ hệ thống khái niệm, phân tích sâu sắc 9 đặc điểm pháp lý của quyền đối với bất động sản liền kề dưới bản chất vật quyền; xác định rõ các nguyên tắc, nội dung và hình thức điều chỉnh pháp luật đối với loại quyền này.
  3. Về đánh giá thực trạng: Phát hiện và chỉ rõ những khiếm khuyết, mâu thuẫn giữa BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành; đồng thời chỉ ra các bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp ranh giới, lối đi, cấp thoát nước tại Tòa án.
  4. Về giải pháp: Xây dựng hệ thống các định hướng và nhóm giải pháp có căn cứ khoa học, bám sát đòi hỏi thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội nhằm hoàn thiện chế định quyền đối với bất động sản liền kề tại Việt Nam.

Kiến nghị và đề xuất lập pháp

  • Bổ sung quy định chi tiết về thủ tục đăng ký quyền đối với bất động sản liền kề vào Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Quy định cụ thể cách thức xác định mức bồi hoàn, đền bù chi phí khi bên hưởng quyền xây dựng lối đi hoặc lắp đặt hạ tầng kỹ thuật qua bất động sản chịu quyền.
  • Luật hóa các dạng địa dịch đặc thù phát sinh từ thực tiễn đô thị hóa như quyền về khoảng không, ánh sáng, tầm nhìn và hạn chế độ cao xây dựng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do nguồn dữ liệu thực tiễn và phạm vi đề tài, luận án tập trung chủ yếu vào không gian địa lý và hệ thống pháp luật Việt Nam, các dẫn chiếu pháp luật quốc tế và luật La Mã dừng lại ở mức độ so sánh làm sáng tỏ lý luận chứ chưa phân tích chuyên sâu mô hình tư pháp của từng quốc gia.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký quyền đối vật đối với bất động sản liền kề trong hệ thống thông tin đất đai điện tử.
    • Nghiên cứu sâu hơn về các loại địa dịch công (phục vụ mục đích công cộng, hạ tầng năng lượng, quy hoạch vùng) trong mối quan hệ với địa dịch tư giữa các cá nhân.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về lý thuyết vật quyền và lịch sử lập pháp chế định địa dịch từ thời La Mã cổ đại đến pháp luật Việt Nam hiện đại.
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Luật Dân sự (chế định quyền khác đối với tài sản), Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường): Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi các bất cập, mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và hệ thống pháp luật đất đai, xây dựng.
  • Thẩm phán, Hội thẩm, Luật sư và Chuyên viên tư pháp: Cung cấp các tiêu chí pháp lý và phân tích án lệ thực tế trong quá trình giải quyết các tranh chấp về quyền lối đi qua, tranh chấp ranh giới, cấp thoát nước và lắp đặt hạ tầng kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Quyền đối với bất động sản liền kề" trong BLDS năm 2015 khác gì so với BLDS năm 2005?

Trong BLDS năm 2005, quyền này được gọi là "Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề" và chỉ được xếp trong nhóm nghĩa vụ của chủ sở hữu (Chương XVI). BLDS năm 2015 đã đổi tên thành "Quyền đối với bất động sản liền kề" và nâng lên thành một mục độc lập trong Chương XIV "Quyền khác đối với tài sản", xác định rõ đây là một dạng vật quyền phái sinh gắn liền với bất động sản chứ không đơn thuần là một quyền cá nhân hay trái quyền.

2. Nguyên tắc "Nulli res sua servitus" được thể hiện như thế nào trong luận án?

Nguyên tắc Nulli res sua servitus (không ai có quyền địa dịch trên chính tài sản của mình) là một điều kiện bắt buộc để quan hệ quyền đối với bất động sản liền kề tồn tại. Hai bất động sản liên quan (bất động sản thụ hưởng và bất động sản phục vụ) bắt buộc phải thuộc quyền sở hữu của hai chủ thể khác nhau. Nếu hai bất động sản sau đó được sáp nhập hoặc chuyển giao về cùng một chủ sở hữu, quan hệ quyền đối với bất động sản liền kề đương nhiên chấm dứt.

3. Chủ sở hữu bất động sản chịu quyền có phải thực hiện nghĩa vụ tích cực nào không?

Theo nguyên tắc servitus in faciendo consistere non potest, quyền đối với bất động sản liền kề chỉ tạo ra nghĩa vụ thụ động (tiêu cực) cho chủ sở hữu bất động sản phục vụ. Chủ sở hữu này chỉ phải chịu đựng sự phiền lụy hợp lý hoặc không được thực hiện hành vi ngăn cản, cản trở việc thụ hưởng của bên kia; luật không buộc họ phải thực hiện các hành vi hay nghĩa vụ mang tính tích cực (trừ một số ngoại lệ hỗ trợ công trình liên kề đã được thỏa thuận hoặc luật định).

4. Tại sao quyền đối với bất động sản liền kề mang tính bất khả phân?

Tính bất khả phân thể hiện ở chỗ quyền này gắn liền toàn vẹn với bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu quyền. Khi một trong hai bất động sản bị phân chia thành nhiều phần cho nhiều người sở hữu chung, quyền này vẫn tồn tại nguyên vẹn cho từng phần bất động sản đó mà không bị chia nhỏ tương ứng với phần quyền sở hữu của từng cá nhân.

5. Những tranh chấp thực tiễn nào về quyền đối với bất động sản liền kề phát sinh nhiều nhất tại Tòa án?

Theo phân tích của luận án, tranh chấp về "quyền về lối đi qua" là loại việc chiếm số lượng lớn nhất và phức tạp nhất tại Tòa án. Các vướng mắc chủ yếu xoay quanh việc xác định thế nào là lối đi "thuận tiện và hợp lý", tính chất bị vây bọc của thửa đất, việc bồi hoàn giá trị đất làm lối đi và giá trị pháp lý của việc đăng ký quyền vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hường đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định quyền đối với bất động sản liền kề dưới góc độ vật quyền và mối quan hệ liên ngành giữa luật dân sự với luật kinh tế. Bằng việc phân tích sâu sắc 9 đặc tính pháp lý, chỉ rõ các bất cập trong 4 nhóm quy phạm thực định và thực tiễn xét xử, công trình đã khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế tài sản trong nền kinh tế thị trường. Hệ thống các giải pháp đồng bộ về chuẩn hóa thuật ngữ, đăng ký quyền đối vật và cơ chế giải quyết tranh chấp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng cao cho công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử tại Việt Nam.