Tổng quan luận án
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái của Việt Nam, bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Khu vực này có tổng diện tích tự nhiên 54.639 km², dân số khoảng 5,4 triệu người, địa hình cao từ 500 m đến 2.000 m so với mực nước biển, tiếp giáp Lào và Campuchia. Nơi đây đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn và là vùng phân bố tài nguyên rừng đa dạng của cả nước. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm 5 tỉnh Tây Nguyên, trong giai đoạn 2007 - 2014, diện tích rừng tại khu vực đã suy giảm hơn 30%. Trong gần 10 năm, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý hơn 9.000 vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp, bao gồm các hành vi hủy hoại rừng. Thực trạng chuyển đổi đất rừng phục vụ canh tác cây công nghiệp (cà phê, cao su), phát triển hạ tầng, khai khoáng bô-xít, cùng áp lực di dân tự do đã làm suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là trước thời điểm công trình thực hiện, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ tội phạm học đối với tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Tác giả Nguyễn Văn Nghiệp đã thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: "Đấu tranh phòng, chống tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên".
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các thông số thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất và phần ẩn của tình hình tội hủy hoại rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014; phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm; dự báo xu hướng vận động và xây dựng hệ thống biện pháp phòng ngừa chuyên biệt, phù hợp với đặc thù của vùng.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước có liên quan để xác định cơ sở kế thừa và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Phân tích làm rõ tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014 thông qua các thông số định lượng và định tính.
- Phân tích làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn nghiên cứu.
- Dự báo tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn tiếp theo.
- Kiến nghị hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm hủy hoại rừng tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy luật phản ánh tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014, các quy luật về nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và các quy luật vận hành của hoạt động phòng ngừa tội phạm này.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về nội dung: Tiếp cận dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm; không đi sâu vào khía cạnh định tội danh thuần túy của luật hình sự mà tập trung vào thông số tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân xã hội và biện pháp phòng ngừa.
- Về thời gian: Thu thập và xử lý các số liệu thống kê tư pháp, hành chính trong mốc thời gian 8 năm, từ năm 2007 đến hết năm 2014.
- Về không gian: Giới hạn trong địa giới hành chính của 5 tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm nội dung cụ thể:
Nhóm nghiên cứu về lý luận tội phạm học tại Việt Nam:
Tác giả kế thừa các khái niệm cơ bản về tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, phòng ngừa tội phạm từ các giáo trình và chuyên khảo nền tảng: "Giáo trình Tội phạm học" của Võ Khánh Vinh (Nxb Công an nhân dân, 2013); "Giáo trình Tội phạm học" của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, 2006); công trình "Tội phạm ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" (Nxb Công an nhân dân, 1994); "Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (Nxb Công an nhân dân, 2000); cuốn "Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm" của Nguyễn Xuân Yêm (Nxb Công an nhân dân, 2001); sách "Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam" của Phạm Văn Tỉnh (Nxb Tư pháp, 2007) cùng các bài viết chuyên đề của Phạm Văn Tỉnh như "Cơ chế hành vi phạm tội - cơ sở để xác định nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm" (Tạp chí Kiểm sát, số 03/1996) và "Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay - mô hình lý luận" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2008); công trình "Nạn nhân của tội phạm" của Trần Hữu Tráng (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011); bài viết "Phòng ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân" của Trần Đại Quang đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Nhóm nghiên cứu về đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm cụ thể:
Luận án tiếp thu kinh nghiệm phân tích tội phạm học thực nghiệm từ các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ luật học: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Bình (2010) về tội phạm có sử dụng bạo lực; luận án tiến sĩ của Lê Hữu Du (2015) về tội hiếp dâm trẻ em giai đoạn 2007 - 2013; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo (2016) về tội tuyên truyền chống Nhà nước; luận án tiến sĩ của Huỳnh Văn Em (2015) về tội phạm ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh; luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Kim Tuyến (2001) về tội cướp tài sản tại Hà Nội; luận văn thạc sĩ của Đỗ Bá Cỡ (1996) về người chưa thành niên phạm tội; luận văn thạc sĩ của Cao Thị Oanh (2002) về tội cờ bạc tại Hà Nội.
Nhóm công trình về quản lý bảo vệ rừng và tội phạm liên quan đến rừng:
Các công trình được tác giả tham khảo trực tiếp gồm: Luận án tiến sĩ luật học của Hà Công Tuấn (2006) về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng; luận án tiến sĩ của Lê Văn Từ (2015) về quản lý nhà nước đối với xã hội hóa bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên; luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Hoàng (2009) về các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng Tây Nguyên; sách "Quản lý cháy rừng ở Việt Nam" của Phạm Ngọc Hưng (Nxb Nghệ An, 2004); luận văn của Lê Thị Lộc (2008) về chứng chỉ rừng; luận văn của Nguyễn Thị Ngọc Bích (2010) về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng; luận văn của Nguyễn Văn Vân (2001) về tổ chức hoạt động kiểm lâm; luận văn của Lê Văn Hà (2002) về tội vi phạm quy định khai thác và bảo vệ rừng tại Gia Lai; luận văn của Nguyễn Thanh Huyền (2004) và Nguyễn Hải Âu (2001) về pháp luật bảo vệ rừng và môi trường; báo cáo khoa học của Trần Hữu Sơn về tri thức bản địa bảo vệ rừng của người Hà Nhì; công trình của Trần Đức Viên (Nxb Nông nghiệp, 2005) về phân cấp quản lý tài nguyên rừng và sinh kế; các tài liệu Hội nghị lâm nghiệp Tây Nguyên (Gia Lai, 21/9/2012) và Hội nghị bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên (Đắk Lắk, 14/3/2013 do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Thứ trưởng Hà Công Tuấn chủ trì).
Các công trình nghiên cứu quốc tế:
Tác giả khảo sát lý thuyết giai cấp của tội phạm học cổ điển xã hội chủ nghĩa qua tác phẩm "Kế hoạch lập pháp hình sự" của J. Marat; nghiên cứu về sở hữu rừng tư nhân tại Mỹ qua tác phẩm "American’s Private forests - Status and Stewardship" của Constance Best và Laurie A. Wayburn (Island Press, 2001); sách "Community forestry in the United States – Learning from the Past, Crafting the Future" của Mark Baker và Jonathan Kusel; sách "Deforestation" của Richard Spilsbury (The Rosen Publishing Group, 2012) nghiên cứu về suy thoái rừng tại Indonesia, Phần Lan, Nepal, Brazil, Malaysia; Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, tháng 8/2006) về tăng cường pháp luật rừng và thực trạng quản lý; nghiên cứu của Viện Tài nguyên Washington về thực thi pháp luật lâm nghiệp.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các lý thuyết tội phạm học đại cương và dữ liệu quản lý nhà nước lâm nghiệp, nhưng tập trung giải quyết khoảng trống học thuật chưa được xử lý: khảo sát độc lập, toàn diện về tội hủy hoại rừng tại khu vực Tây Nguyên dưới lăng kính tội phạm học thực nghiệm, phân tích dữ liệu tư pháp giai đoạn 2007 - 2014 và lượng hóa thực trạng tội phạm ẩn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác - Lênin, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phòng chống tội phạm môi trường. Các lý thuyết tội phạm học cốt lõi được áp dụng gồm: lý thuyết về tình hình tội phạm và bốn thông số cơ bản (thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất); lý thuyết về tội phạm ẩn (phần ẩn của tình hình tội phạm); lý thuyết về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm (sự tương tác giữa môi trường xã hội tiêu cực và nhân thân người phạm tội); và lý thuyết phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa xã hội kết hợp phòng ngừa nghiệp vụ).
Về phương pháp tiếp cận, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tiếp cận lịch sử và phương pháp tiếp cận liên ngành giữa luật học, tội phạm học, xã hội học và lâm nghiệp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, tổng hợp và xử lý chuỗi số liệu từ năm 2007 đến 2014 của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra các cấp trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ tài liệu: Tác giả tiến hành khảo sát và phân tích 200 bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến 247 bị cáo bị xét xử về tội hủy hoại rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập thông tin thực tế về đặc điểm sinh kế, tập quán du canh du cư, việc quản lý đất đai và hoàn cảnh gia đình của các đối tượng phạm tội.
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh đối chiếu và phương pháp dự báo khoa học được áp dụng xuyên suốt các chương để rút ra các kết luận lý luận và thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm:
- Số liệu xét xử chính thức từ hệ thống Tòa án nhân dân 5 tỉnh Tây Nguyên (2007 - 2014).
- Số liệu khởi tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân 5 tỉnh Tây Nguyên.
- Dữ liệu chi tiết cấp huyện và cấp tỉnh tại huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010 - 2013), huyện Ea Kar (tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2007 - 2013) và tổng hợp toàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn 2007 - 2012).
- Báo cáo thống kê diễn biến tài nguyên rừng từ Chi cục Kiểm lâm 5 tỉnh Tây Nguyên và Cục Kiểm lâm.
- Báo cáo kinh tế - xã hội của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên qua các năm (đặc biệt là báo cáo tổng kết năm 2014 do Bộ Công an chủ trì).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
Trong chương này, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm chuyên đề: lý luận tội phạm học, tội phạm học chuyên biệt và quản lý nhà nước về rừng. Đánh giá tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây đã cung cấp nền tảng vững chắc về lý luận tội phạm học, chỉ ra nhiều bất cập trong cơ chế quản lý bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp và chính quyền địa phương. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý hành chính, kinh tế nông lâm nghiệp hoặc pháp luật hình sự thuần túy. Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống về các thông số tội phạm học, cơ cấu nhân thân người phạm tội, mức độ tội phạm ẩn và các nguyên nhân đặc thù phát sinh tội hủy hoại rừng tại khu vực Tây Nguyên.
Từ đánh giá này, chương 1 xác lập bốn định hướng mà luận án tập trung thực hiện:
- Vận dụng lý luận tội phạm học phân tích toàn diện thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội hủy hoại rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014.
- Làm sáng tỏ các yếu tố khách quan và chủ quan đóng vai trò là nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm này.
- Dự báo xu hướng vận động của tội hủy hoại rừng trong giai đoạn tiếp theo dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
- Đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa toàn diện, có tính khả thi đối với vùng Tây Nguyên.
Chương 2: Tình hình tội hủy hoại rừng ở Tây Nguyên
Chương 2 làm rõ bản chất của tình hình tội hủy hoại rừng tại Tây Nguyên qua việc phân tích hai bộ phận: phần hiện và phần ẩn.
Tác giả xác định tình hình tội hủy hoại rừng mang bốn đặc điểm: tính xã hội, tính giai cấp, tính nguy hiểm cho xã hội và tính giới hạn về không gian - thời gian. Tội phạm này gây thiệt hại trực tiếp đến quyền sở hữu và trật tự quản lý lâm sản của Nhà nước, đồng thời đe dọa trực tiếp môi trường sống và không gian văn hóa cồng chiêng gắn liền với cộng đồng dân tộc bản địa.
1. Phần hiện của tình hình tội phạm (2007 - 2014):
Trong 8 năm, Tòa án nhân dân các cấp khu vực Tây Nguyên đã thụ lý 826 vụ án hủy hoại rừng với 1.686 người phạm tội; đưa ra xét xử sơ thẩm 702 vụ với 1.383 bị cáo (bình quân khoảng 100 vụ xét xử mỗi năm).
| Năm |
Số vụ thụ lý |
Số người thụ lý |
Số vụ xét xử |
Số bị cáo xét xử |
| 2007 |
73 |
131 |
62 |
106 |
| 2008 |
85 |
158 |
69 |
144 |
| 2009 |
89 |
224 |
70 |
167 |
| 2010 |
115 |
262 |
87 |
189 |
| 2011 |
149 |
308 |
133 |
269 |
| 2012 |
124 |
251 |
106 |
196 |
| 2013 |
93 |
200 |
83 |
171 |
| 2014 |
98 |
152 |
94 |
141 |
| Tổng |
826 |
1.686 |
702 |
1.383 |
So sánh với tội phạm chung và phạm vi cả nước:
- Tội hủy hoại rừng chiếm 1,84% tổng số vụ và 2,28% tổng số bị cáo của toàn bộ các loại tội phạm bị xét xử tại Tây Nguyên trong cùng thời kỳ.
- Khi so sánh với mức bình quân của 430 tội danh theo Bộ luật Hình sự năm 1999 trên phạm vi cả nước, tội hủy hoại rừng tại Tây Nguyên chiếm tỷ trọng rất cao. Điển hình như năm 2011, mức bình quân cả nước của một tội danh là 123 vụ và 216 bị cáo, trong khi riêng tội hủy hoại rừng tại Tây Nguyên đã có 133 vụ và 269 bị cáo.
- So với tổng số tội hủy hoại rừng trên phạm vi toàn quốc, các tỉnh Tây Nguyên chiếm tới 28,8% tổng số vụ và 48,1% tổng số người phạm tội. Riêng năm 2011, Tây Nguyên chiếm 47,7% số vụ xét xử cả nước (133/280 vụ).
Hệ số tội phạm, mật độ và hệ số tiêu cực theo tỉnh:
Dân số đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi trở lên) bình quân của Tây Nguyên giai đoạn này là khoảng 3,184 triệu người. Hệ số phạm tội hủy hoại rừng trung bình toàn vùng là 4,34 bị cáo trên 100.000 dân.
| Tỉnh |
Hệ số tội phạm (bị cáo/100.000 dân) |
Mật độ tội phạm (km²/01 bị cáo) |
Hệ số tiêu cực (Cấp độ nguy hiểm) |
| Kon Tum |
10,20 |
28,84 |
Cấp độ 1 |
| Đắk Nông |
9,95 |
19,39 |
Cấp độ 2 |
| Lâm Đồng |
2,86 |
46,76 |
Cấp độ 3 |
| Gia Lai |
3,47 |
51,13 |
Cấp độ 4 |
| Đắk Lắk |
2,72 |
46,88 |
Cấp độ 5 |
Diễn biến của tình hình tội phạm:
Lấy năm 2007 làm mốc 100%, tình hình tội phạm gia tăng đều qua các năm và đạt đỉnh vào năm 2011 (số vụ tăng 21,4%, số người phạm tội tăng 24,7% so với năm 2007). Bình quân mỗi năm tăng hơn 10%. Giai đoạn 2013 - 2014 có sự suy giảm về số vụ (83 vụ năm 2013 và 94 vụ năm 2014) do diện tích rừng tự nhiên tiếp cận được đã bị thu hẹp đáng kể, các khu rừng mới trồng chưa đến tuổi khai thác.
Cơ cấu tình hình tội phạm qua khảo sát 200 bản án với 247 bị cáo:
- Về hình phạt áp dụng: 156 bị cáo (63,0%) bị phạt tù từ 3 năm trở xuống (trong đó 31 bị cáo được hưởng án treo, chiếm 12,6%); 67 bị cáo (27,0%) chịu mức án từ trên 3 năm đến 7 năm; 24 bị cáo (khoảng 10,0%) chịu mức án trên 7 năm.
- Về độ tuổi: Không có người chưa thành niên (dưới 18 tuổi); nhóm tuổi từ 18 đến 30 chiếm đa số với 181 bị cáo (chiếm tỷ trọng 65,1% trong tổng số bị cáo theo thống kê tính chất tội phạm); nhóm trên 40 tuổi có 67 bị cáo.
- Về nghề nghiệp: Người thất nghiệp có 98 bị cáo (39,7%); lao động tự do không ổn định có 77 bị cáo (31,2%); làm nông, làm vườn có 65 bị cáo (26,3%); lái xe có 5 bị cáo (2,0%); cán bộ, công chức có 2 bị cáo (0,8%).
- Về trình độ văn hóa: 65 bị cáo mù chữ (26,3%); 85 bị cáo có trình độ tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 (34,4%); 74 bị cáo có trình độ trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (29,9%); 23 bị cáo có trình độ trung học phổ thông từ lớp 10 trở lên (9,4%).
- Về tiền án, tiền sự: 100% bị cáo phạm tội lần đầu; 83,3% chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng; 17,7% từng bị xử phạt hành chính trước đó.
- Về thành phần dân tộc: Đồng bào dân tộc thiểu số có 181 bị cáo (chiếm 73,2%); người Kinh có 66 bị cáo (chiếm 26,8%).
- Về động cơ, mục đích: 211 bị cáo phá rừng để lấy đất làm nương rẫy (85,4%); 24 bị cáo phá rừng lấy gỗ bán (9,8%); 12 bị cáo lấy gỗ làm nhà ở (4,9%). Động cơ 100% hướng đến lợi ích kinh tế.
- Hoàn cảnh gia đình: Khoảng 80% gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bần nông, thiếu đất canh tác nhưng đông con.
- Về hình thức phạm tội: Tỷ lệ đồng phạm chiếm tới 66,6% tổng số vụ án.
- Về phương thức, thủ đoạn: Phá rừng ban đêm để tránh tuần tra (như vụ Hồ Đắc Giang phá 2,752 ha rừng tại Công ty Lâm nghiệp Quảng Sơn, huyện Đắk G'long); sử dụng cưa xăng cơ giới hạ cây nhanh chóng (như vụ Giàng A Lu phá 7.520 m² rừng, thiệt hại 129,3 m³ gỗ trị giá 285 triệu đồng tại xã Phi Liêng, huyện Đam Rông); móc nối, hối lộ cán bộ kiểm lâm (như vụ cán bộ lâm trường Trần Văn Giang thông đồng với Trương Văn Nhất chặt phá 4,5 ha rừng tại huyện Đắk Nông); lợi dụng chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su để chiếm đất.
2. Phần ẩn của tình hình tội phạm:
Trong giai đoạn 2007 - 2014, cơ quan điều tra toàn vùng đã khởi tố 895 vụ (1.874 bị can), Viện kiểm sát truy tố 823 vụ (1.682 bị can, đạt 91% số vụ khởi tố), Tòa án xét xử sơ thẩm 702 vụ (1.383 bị cáo, đạt 83% số vụ truy tố). Tỷ lệ vụ án từ khởi tố đến xét xử đạt 78,8% về số vụ và 74,2% về số người. Có 21,2% số vụ án và 25,8% số người đã khởi tố không hoặc chưa bị đưa ra xét xử (do đình chỉ vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc không tìm ra bị can).
Khảo sát cục bộ phản ánh rõ nét mức độ ẩn:
- Tại huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông) giai đoạn 2010 - 2013: Xảy ra 523 vụ phá rừng thực tế, cơ quan chức năng chỉ khởi tố được 66 vụ (chiếm 12,6%), và chỉ đưa ra xét xử 2,6% tổng số vụ vi phạm.
- Tại huyện Ea Kar (tỉnh Đắk Lắk) giai đoạn 2007 - 2013: Xảy ra 315 vụ hủy hoại rừng nhưng chỉ đưa ra xét xử 18 vụ (đạt 5,7%). Riêng năm 2011 xảy ra 31 vụ nhưng không xét xử được vụ nào.
- Toàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2007 - 2012: Xảy ra 10.373 vụ hủy hoại rừng, gây thiệt hại 893,7 ha rừng. Tuy nhiên, xử lý hình sự chỉ có 149 vụ (1,4%), trong khi xử lý hành chính lên tới 9.546 vụ (chiếm 92,0%).
Nguyên nhân dẫn đến tội phạm ẩn được xác định gồm: lực lượng kiểm lâm mỏng (bình quân mỗi kiểm lâm viên quản lý từ 1.000 ha đến vài nghìn ha rừng trong địa hình hiểm trở); thủ đoạn tổ chức người canh gác cửa rừng và theo dõi trụ sở kiểm lâm; sức ép từ tình trạng di dân tự do (Tây Nguyên tiếp nhận gần 190.000 hộ với khoảng 1 triệu nhân khẩu di dân tự do từ năm 1975 đến quý 1/2014, trong đó gần 10.000 hộ sống phân tán ngoài quy hoạch); cùng sự tha hóa, thông đồng của một số cán bộ kiểm lâm, lâm trường.
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
Theo quan điểm tội phạm học Mác-xít, nguyên nhân của tình hình tội phạm là sự tương tác giữa các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tiêu cực thuộc cá nhân người phạm tội trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.
Luận án phân tích chi tiết các nguyên nhân và điều kiện kinh tế - xã hội khách quan:
- Chênh lệch kinh tế và tỷ lệ nghèo đói cao: Mặc dù tăng trưởng GDP vùng đạt bình quân 10,3%/năm (giai đoạn 2007 - 2014) và 8,74% vào năm 2014, thu nhập bình quân đầu người của Tây Nguyên năm 2014 (34,9 triệu đồng) chỉ bằng 81% mức bình quân chung của cả nước (năm 2010 là 15,5 triệu đồng). Tỷ lệ hộ nghèo của Tây Nguyên chiếm 22,2% (theo chuẩn nghèo 2011 - 2015), cao thứ hai trong số 6 vùng kinh tế của cả nước (sau vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 29,4%). Đến năm 2014, toàn vùng có 133.486 hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 12,56%) và 87.487 hộ cận nghèo. Tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới hàng năm chiếm khoảng 1/3 số hộ nghèo.
- Tình trạng thiếu đất sản xuất: Toàn vùng có hơn 30.000 hộ dân thiếu đất ở và đất sản xuất nông nghiệp. Thống kê tư pháp cho thấy có 66,43% tổng số vụ hủy hoại rừng phát sinh trực tiếp từ mục đích lấy đất làm nương rẫy (ví dụ vụ MBon K Lương tại huyện Đam Rông phá 4.489 m² rừng phòng hộ; vụ Cư Seo Sày và Cư Seo Dâu phá 10.000 m² rừng).
- Hạn chế trong chính sách hỗ trợ sản xuất: Khảo sát 200 bản án cho thấy có 53 bị cáo từng được Nhà nước giao đất sản xuất nhưng do thiếu vốn đầu tư, thiếu kiến thức canh tác nông nghiệp nên đã chuyển nhượng, bán đất để trang trải đời sống, sau đó lại tiếp tục phá rừng chiếm đất mới (điển hình như vụ nhóm K' Hùng, K' Tooih, K' Điệp, K' Tẹo tại huyện Đam Rông bán đất được cấp rồi phá 9.223 m² rừng phòng hộ tiểu khu 608 để bán lại).
- Tác động tiêu cực của mô hình phát triển kinh tế: Việc cấp phép chuyển đổi diện tích lớn đất lâm nghiệp sang trồng cao su hoặc xây dựng các dự án thủy điện thiếu kiểm soát đã tạo kẽ hở cho doanh nghiệp và người dân khai phá rừng ngoài quy hoạch.
Chương 4: Phòng ngừa tình hình tội hủy hoại rừng ở Tây Nguyên
Chương 4 tập trung giải quyết mục tiêu ứng dụng của luận án qua bốn nội dung:
- Dự báo khoa học về tình hình tội hủy hoại rừng: Đánh giá xu thế biến động của diện tích rừng tự nhiên, áp lực dân số, di dân tự do và biến động giá nông sản để dự báo quy mô, phương thức và địa bàn trọng điểm của tội phạm trong thời gian tới.
- Cơ sở lý luận về phòng ngừa: Hệ thống hóa các nguyên tắc, chức năng và cơ chế phối hợp trong công tác phòng ngừa tội hủy hoại rừng; phân định rõ giữa phòng ngừa xã hội (giải quyết tận gốc nguyên nhân) và phòng ngừa chuyên môn (hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật).
- Đánh giá thực trạng công tác phòng ngừa tại Tây Nguyên: Phân tích các mặt làm được cùng những tồn tại, hạn chế trong tuần tra kiểm soát rừng, điều tra, truy tố, xét xử và tuyên truyền phổ biến pháp luật thời gian qua.
- Hệ thống giải pháp tăng cường phòng ngừa: Xây dựng các nhóm giải pháp đồng bộ gồm:
- Giải pháp kinh tế - xã hội: Giải quyết dứt điểm đất sản xuất cho hơn 30.000 hộ dân thiếu đất; hỗ trợ vốn, kỹ thuật canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số sau khi giao đất để tránh tình trạng bán đất; sắp xếp và ổn định đời sống cho các hộ di dân tự do.
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật: Rà soát, sửa đổi các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến định lượng thiệt hại rừng; siết chặt cơ chế kiểm tra việc chuyển đổi đất rừng nghèo sang phát triển cây công nghiệp; xử lý nghiêm minh các vi phạm hành chính để tránh xu hướng xử lý hành chính hóa các hành vi có dấu hiệu tội phạm.
- Giải pháp tổ chức và quản lý nhà nước: Tăng cường biên chế, trang bị phương tiện kỹ thuật và chế độ đãi ngộ cho lực lượng kiểm lâm; nâng cao năng lực quản lý của các công ty lâm nghiệp nhà nước.
- Giải pháp nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án và Kiểm lâm; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực, bảo kê, tiếp tay của cán bộ kiểm lâm và chính quyền cơ sở; tổ chức xét xử lưu động tại các địa bàn điểm nóng để nâng cao tính răn đe.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:
Về mặt lý luận:
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầu tiên dưới góc độ tội phạm học đối với tình hình tội hủy hoại rừng tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên.
- Bổ sung và hoàn thiện lý luận tội phạm học về đặc điểm, thông số tình hình tội phạm, cơ cấu nhân thân và cơ chế phát sinh tội phạm môi trường trong điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Làm rõ bản chất và phương pháp tiếp cận để nhận diện, lượng hóa phần ẩn của tội hủy hoại rừng thông qua đối chiếu số liệu liên ngành giữa cơ quan hành chính lâm nghiệp và các cơ quan tư pháp.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh với chuỗi số liệu thống kê tư pháp 8 năm (2007 - 2014), cùng kết quả phân tích mẫu 200 bản án sơ thẩm về các đặc trưng nhân thân, nghề nghiệp, học vấn và phương thức phạm tội.
- Cung cấp cơ sở thực chứng giúp Quốc hội và các cơ quan lập pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về tội hủy hoại rừng và pháp luật bảo vệ, phát triển rừng.
- Cung cấp cơ sở khoa học để Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp 5 tỉnh Tây Nguyên tham khảo xây dựng các kế hoạch, chính sách kinh tế - xã hội, giải quyết vấn đề đất sản xuất cho đồng bào dân tộc và nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm hủy hoại rừng.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành Tội phạm học và Khoa học điều tra tội phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn chuỗi số liệu khảo sát từ năm 2007 đến năm 2014 trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên; việc phân tích mẫu chuyên sâu chỉ giới hạn ở 200 bản án hình sự sơ thẩm được lựa chọn. Một số tài liệu khảo sát cấp huyện chỉ lấy số liệu đại diện tại huyện Tuy Đức (Đắk Nông) và huyện Ea Kar (Đắk Lắk).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục khảo sát, cập nhật diễn biến tình hình tội hủy hoại rừng sau năm 2014 theo tinh thần các đạo luật mới (Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật Lâm nghiệp năm 2017); mở rộng đánh giá tác động của tội phạm hủy hoại rừng tại các hệ thống rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) và lực lượng Kiểm lâm tại 5 tỉnh Tây Nguyên trong công tác phát hiện, xử lý tội phạm và kiểm soát tỷ lệ tội phạm ẩn.
- Các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan tham mưu chính sách dân tộc trong việc hoạch định chính sách phân bổ đất sản xuất, xóa đói giảm nghèo và quản lý di dân tự do.
- Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo luật học và chuyên ngành tội phạm học sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về tội phạm môi trường.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống số liệu định lượng phong phú về hệ số tội phạm, mật độ tội phạm, các tỷ lệ cơ cấu xã hội của người phạm tội và Chương 3 về phân tích nguyên nhân kinh tế - xã hội từ góc độ thiếu đất sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Tình hình tội hủy hoại rừng tại Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014 chiếm tỷ lệ như thế nào so với cả nước?
Tây Nguyên là trọng điểm về tội hủy hoại rừng của cả nước. Trong giai đoạn 2007 - 2014, số vụ hủy hoại rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên chiếm 28,8% tổng số vụ của cả nước, và số người phạm tội chiếm tới 48,1% tổng số người phạm tội hủy hoại rừng của cả nước. Đỉnh điểm là năm 2011, số vụ xét xử tại Tây Nguyên chiếm tới 47,7% số vụ của toàn quốc (133/280 vụ).
2. Mẫu khảo sát 200 bản án hình sự chỉ ra những đặc điểm nhân thân nổi bật nào của người phạm tội?
Khảo sát 200 bản án với 247 bị cáo cho thấy: 100% phạm tội lần đầu; 73,2% là người dân tộc thiểu số; 65,1% trong độ tuổi từ 18 đến 30; 26,3% mù chữ và 34,4% chỉ học từ lớp 1 đến lớp 5; 70,9% thất nghiệp hoặc có việc làm bấp bênh; 80% thuộc diện hộ nghèo đông con; và 85,4% thực hiện hành vi nhằm mục đích lấy đất làm nương rẫy.
3. Tội phạm ẩn trong lĩnh vực hủy hoại rừng tại Tây Nguyên biểu hiện qua những số liệu thực tế nào?
Trong toàn vùng giai đoạn 2007 - 2014 có 21,2% số vụ án và 25,8% số bị can đã khởi tố nhưng không bị đưa ra xét xử. Khảo sát tại huyện Tuy Đức (2010 - 2013) cho thấy chỉ có 12,6% số vụ phá rừng thực tế bị khởi tố và 2,6% được đưa ra xét xử. Tại huyện Ea Kar (2007 - 2013), chỉ có 5,7% số vụ bị xử lý xét xử. Trên phạm vi toàn tỉnh Đắk Lắk (2007 - 2012), trong số 10.373 vụ việc hủy hoại rừng xảy ra, xử lý hình sự chỉ chiếm 1,4%, trong khi xử lý hành chính chiếm tới 92,0%.
4. Tỉnh nào ở Tây Nguyên có mức độ nguy hiểm của tình hình tội hủy hoại rừng cao nhất?
Theo kết quả tính toán hệ số tiêu cực (kết hợp giữa hệ số tội phạm trên 100.000 dân và mật độ tội phạm theo diện tích), tỉnh Kon Tum có mức độ nguy hiểm cao nhất (xếp cấp độ 1, hệ số tội phạm 10,2), tiếp theo là tỉnh Đắk Nông (cấp độ 2, mật độ cao nhất với 19,39 km²/01 bị cáo), Lâm Đồng xếp cấp độ 3, Gia Lai xếp cấp độ 4 và Đắk Lắk xếp cấp độ 5.
5. Vì sao tình hình tội hủy hoại rừng tại Tây Nguyên có xu hướng giảm nhẹ trong hai năm 2013 và 2014?
Nguyên nhân giảm số vụ xét xử trong năm 2013 (83 vụ) và 2014 (94 vụ) không phản ánh việc rừng đã được bảo vệ an toàn hoàn toàn, mà xuất phát từ việc diện tích rừng tự nhiên ở các vị trí thuận lợi đã bị khai thác cạn kiệt, các khu vực rừng trồng mới chưa đến tuổi thu hoạch, đồng thời các vụ việc xử lý trong giai đoạn này chủ yếu quy mô nhỏ do người dân phá rừng làm nương rẫy.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nghiệp đã hoàn thành việc khảo sát toàn diện và có hệ thống tình hình tội hủy hoại rừng tại 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2007 - 2014 dưới góc độ tội phạm học. Công trình đã làm rõ bức tranh tội phạm qua bốn thông số thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất, đồng thời chứng minh mức độ tội phạm ẩn rất lớn trên thực tế. Luận án đã chỉ ra mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa tội phạm hủy hoại rừng với các vấn đề xã hội như nghèo đói, thiếu đất canh tác của hơn 30.000 hộ dân, áp lực di dân tự do và những bất cập trong quản lý nhà nước về rừng. Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa đồng bộ, kết hợp giải quyết bài toán sinh kế, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc bản địa với nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật lâm nghiệp và tư pháp hình sự.