Luận án tiến sĩ luật học về đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích chiến lược đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Tội phạm học và Điều tra tội phạm

Tác giả

Lê Đăng Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2008

254
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở VIỆT NAM. THỰC TRẠNG CỦA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (1996 - 2006)

1.1. Diễn biến của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1996 - 2006)

1.2. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1996 - 2006)

1.3. Một số đặc điểm nhân thân người phạm tội

1.4. Người bị hại trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.5. Kết luận chương

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI PHẠM NÀY Ở VIỆT NAM

2.1. Tình hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1996 - 2006)

2.2. Nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.2.1. Nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ những tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế - xã hội

2.2.2. Nguyên nhân và điều kiện bắt nguồn từ yếu tố tâm lí xã hội và những hạn chế trong cải cách hành chính, trong công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật

2.2.3. Nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động quản lí kinh tế, quản lí trật tự, an ninh xã hội

2.2.4. Nguyên nhân và điều kiện xét từ góc độ những bất cập, tồn tại trong công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.2.5. Nguyên nhân và điều kiện do những hạn chế trong quy định của pháp luật

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

3.1. Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3.2. Giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế - xã hội

3.3. Giải pháp đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí kinh tế, quản lí trật tự an ninh xã hội trong một số lĩnh vực cụ thể

3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan Tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

3.6. Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường cơ sở pháp lí cho công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3.7. Kết luận chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học này tập trung phân tích tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam từ năm 1996 đến 2006. Tội phạm này đã diễn biến phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và ảnh hưởng đến an ninh xã hội. Các vụ án điển hình như vụ Trần Phi Hùng (Hà Nội) và Epco - Minh Phụng (TP.HCM) cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Pháp luật hình sự hiện hành cần được đánh giá lại để đối phó hiệu quả hơn với các thủ đoạn tinh vi của tội phạm.

1.1. Diễn biến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1996 2006

Giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng đáng kể số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, từ lừa đảo qua mạng Internet đến các hợp đồng thương mại điện tử. Hệ thống pháp luật Việt Nam cần cập nhật để đối phó với các hình thức phạm tội mới.

1.2. Cơ cấu và tính chất của tội phạm

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xảy ra ở khu vực thành thị mà còn lan rộng đến nông thôn. Các vụ án thường liên quan đến các lĩnh vực như ngân hàng, xuất khẩu lao động và thuế giá trị gia tăng. Bảo vệ tài sản của công dân và nhà nước cần được ưu tiên hàng đầu.

II. Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo là một nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, hiệu quả công tác này còn hạn chế do những bất cập trong quy định pháp luật và thiếu sót trong quản lý kinh tế - xã hội. Chính sách pháp luật cần được hoàn thiện để tăng cường hiệu quả đấu tranh.

2.1. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Nguyên nhân chính của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xuất phát từ những tác động tiêu cực của kinh tế - xã hội và hạn chế trong cải cách hành chính. An ninh xã hội cần được củng cố để ngăn chặn các điều kiện thuận lợi cho tội phạm.

2.2. Hạn chế trong quy định pháp luật

Các quy định hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Nghiên cứu pháp lý cần được đẩy mạnh để hoàn thiện hệ thống pháp luật.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội lừa đảo

Luận án tiến sĩ luật học đề xuất các giải pháp toàn diện để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các giải pháp bao gồm cải cách hành chính, tăng cường giáo dục pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Phòng chống tội phạm cần được thực hiện đồng bộ từ nhiều phía.

3.1. Giải pháp kinh tế xã hội

Cần khắc phục những tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững. Tội phạm kinh tế cần được kiểm soát chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ lừa đảo.

3.2. Hoàn thiện pháp luật

Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để tăng cường cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh. Luật học cần được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TINH HÌNH TOI LUA ĐẢO CHIEM DOAT TÀI SAN Ở VIET NAM 3 Tình hình tội lừa dao CDTS là bức tranh được khắc hoa bởi toàn bộ tội lừa đảo CĐTS đã xảy ra trên thực tế trong khoảng thời gian, không gian nhất định. Trong giới hạn nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ đánh giá tình hình tội lừa đảo CDTS từ năm 1996 đến nam 2006 trên phạm vi cả nước. Trong giai đoạn 1996 — 2006, tình hình tội phạm được đánh giá trên cơ sở tội lừa đảo CDTS theo quy định của BLHS 1985 với các tội lừa đảo CDTS XHCN (D134); tội lợi dụng chức vụ quyền han lừa đảo CDTS XHCN (ĐÐ134a); tội lừa đảo CDTS của công dân (D157) và theo quy định của BLHS 1999 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài san (D139). Tình hình tội lừa dao CDTS được được chúng tôi nghiên cứu với các nội dung về thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của THTP.

THỰC TRANG CUA TINH HÌNH TOI LUA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TAI SAN (1996 — 2006) Thực trạng của tội lừa đảo CDTS với nội dung phan ánh đặc tinh về lượng của tội lừa đảo CDTS, bao gồm: thứ nhất, số vụ và số người phạm tội bị xét xử thể hiện bằng các bản án sơ thẩm của Toà án các cấp và có trong số liệu thống kê của TANDTC. Thứ hai số vụ và số người phạm tội lừa đảo CDTS không có trong số liệu thống kê, bao gồm: sai số thống kê; phần tội phạm ẩn; số tội phạm phát hiện được nhưng không điều tra, khám phá được; một phần số vụ phạm tội do cơ quan Công an, Viện kiểm sát đình chỉ theo thẩm quyền hoặc đã đề nghị truy tố nhưng không xét xử được v. Số liệu chúng tôi nghiên cứu dựa vào nguồn thống kê chính thức của TANDTC vẻ số vị án. số bị cáo được các Toà án xét xử sơ thẩm.

Day là cơ sở có tính hiện thực và quan trọng nhất phản ánh thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn dựa vào các số liệu thống kê của VKSNDTC và một số cơ quan của Bộ Công an. để làm rõ hơn thực 14 trạng của tội lừa đảo CĐTS. Số vụ và số người phạm tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được xét xử và có trong số liệu thống kê * Số lượng vụ phạm lội lừa đảo chiếm đoạt tài sadn Bảng 1.

Số vu án lừa đảo CĐTS mà Toà án đã giải quyết ( 1996 — 2006) Số lượng vụ án do TA xét xử có trong thống | Số vụ | Tổng số kê của TANDTC do | vụ án đã Năm D134 Đ134a| D157 | Đ139 | Tổng số | TA xét XỬ BLHS | BLHS |BLHS | BLHS | vụ án đã! đình | và đình 1985 | 1985 | 1985 1999 xét xu chỉ chỉ 1996 145 0 1.793 Trun < binh/ nia 1970 vu/nam (Nguồn: TANDTC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mẫu 1A) Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo CDTS, chúng tôi nghiên cứu số liệu thống kê liên tục từ năm 1996 đến năm 2006 của TANDTC. Đây là khoảng thời gian cần thiết đủ để đánh giá những đặc điểm cơ bản chủ yếu của THTP. Đồng thời, những đặc điểm khác của tình hình tội lừa đảo CĐTS không có trong thống kê còn được chúng tôi nghiên cứu qua 594 vụ án thực tế do thu thập ngẫu nhiên trong phạm vi cả nước từ 1999 — 2005 tại một số TAND. Việc nghiên cứu số lượng các vụ án thực tế mang tính xác xuất, cho phép chúng tôi rút ra những kết luận về một số nội dung như thời gian ẩn, vùng ẩn, cơ cấu, tính chất, diễn biến về một số dac điểm.

Trong luận án này, khi sử dụng số liệu của TANDTC làm cơ sở nghiên cứu, 15 chung tôi có đối chiếu so sánh với số liệu do VKSNDTC cung cap trong những trường hợp cần thiết. Theo số liệu của TANDTC (bảng 1.1) cho thấy, trung bình mỗi năm có gần 2.000 vụ lừa đảo CDTS được xét xử.537 vu và năm cao nhất có 2. Nếu chia thành hai giai đoạn trước và sau BLHS 1999 có hiệu lực. thì giai đoạn 1996 — 2000, mỗi năm trung bình có khoảng gần 2.200 vụ được xét xử.

Giai đoạn 2001 - 2006, mỗi năm trung bình có khoảng 1.777 vụ lừa đảo CĐTS được xét xử. Có thể nói, giai đoạn sau khi BLHS 1999 có hiệu lực số vụ phạm tội đã giảm đáng kể so với giai đoạn trước đó. Thực trạng của THTP không chỉ được phản ánh qua số liệu các vụ án được Toà án xét xử sơ thẩm mà còn một phần những vụ án được giải quyết không qua thủ tục xét xử. Đó là số lượng vụ án do các cơ quan Công an, Viện kiểm sát đình chỉ hoặc miễn TNHS theo thẩm quyền.

Chúng tôi nghiên cứu số liệu từ năm 1998 đến năm 2004 theo thống kê của C16 Bộ công an cho thấy, trong toàn quốc đã thụ lí 4496 vụ lừa đảo CDTS với 5.759 người, trong đó cơ quan Công an đình chỉ điều tra 123 vụ với 153 người, chiếm 2,7% về số vụ và 2,65% về số người. Như vậy, mỗi năm trung bình khoảng 0,38% về số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS được đình chỉ [9]. Trong số liệu thông kê của TANDTC, số liệu các vu án lừa dao CDTS da được cơ quan VKS đề nghị truy tố, nhưng cơ quan Toà án đã ra quyết định đình chỉ vụ án theo thẩm quyền (bảng 1.1) và trong giai đoạn 1996 - 2006 cơ quan Toà án đình chỉ 131 vụ án với 169 bị cáo. Can cứ din đến đình chỉ vu án có thể có nhiều lí do khác nhau, như người phạm tội đã chết, hoặc vu án đã hết thời hiệu truy cứu TNHS v.

nên chúng tôi cho rằng trong số vu án đình chỉ có một phần vụ phạm tội lừa đảo CDTS đã xảy ra. Nếu so sánh với tổng số vụ án đã xét xử thì số vụ án đình chỉ bằng 0,6% số vụ mà Toà án đã xét xử, mỗi năm có gần 0,06%. Như vậy, cả cơ quan Công an và Toà án đình chỉ mỗi năm trung bình vào khoảng 0,44% (86 vụ) trong đó có một phần số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS. Theo chúng tôi số lượng này là không lớn, do vậy không ảnh hưởng gì nhiều đến quá trình đánh giá “HTP.

16 * Số lượng người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Số lượng người phạm tội lừa đảo CĐTS đã bị xét xử (1996 — 2006) Số lượng người phạm tội có trong Số Số Tổng = thống kê của TANDTC lượng ngudi | SỐ người Năm ¡ Đ134 | Đl34a Đ157 ( ĐI3 | ai bj | COTA | dã xét xử _BLHS| BLHS | BLHS, BLHS | „ | đình | vàđình _ 1985 1985 1985 | 1999 chỉ chi | 1996 | 271 0 2.630 ngudi/nam nam | (Nguồn: TANDTC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mẫu 1A) Theo nguồn thống kê của TANDTC, giai đoạn 1996 - 2006 có tổng số 28.900 người phạm tội lừa đảo CDTS, mỗi năm trung bình có khoảng gần 2.630 người bị xét xử. Nếu giai đoạn 1996 - 2000 mỗi năm trung bình có 2.945 người bị xét xử thì giai đoạn 2001 - 2006 mỗi năm trung bình có 2. Điều đó cho thấy, sau khi BLHS 1999 có hiệu lực, số lượng người phạm tội đã giảm đáng kể (giảm khoảng 580 ngudi/nam).

Nếu đối chiếu với nguồn thống kê của VKSNDTC cùng trong thời gian này, thì có sự chênh lệch cả về số vụ và số người phạm tội (ph luc/). Ví dụ, chỉ trong 6 năm gần đây (2001- 2006) theo số liệu của VKSNDTC, tổng số vụ lừa đảo CĐTS được xét xử sơ thẩm là 10.454 vụ và tổng số bị cáo là 13. Nhưng theo số liệu của TANDTC thì tổng số vụ án là 10.664 và tổng số bị cáo là 14. Như vậy, số liệu của VKSNDTC chỉ trong 6 năm chênh lệch ít hơn so với số liệu của TANDTC là 210 vụ và 964 người.

Sự chénh lệch này có thể xuất phát từ nhiều lí do khác nhau như thời điểm bát đầu và kết thúc thống kê hàng năm, cách thức thống kê v. Đây là mội trong những khó khăn cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và xử lí số liệu. Tổng hop số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 — 2006) Năm Tổng số vụ án đã xét xử Số lượng người bị xét xử _— 126 1916 _—_ 2.968 ___Tong _— 21/662 a — 28/900 7 bình nam 1.630 người/ nam (Nguồn: TANDTC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mâu 1A) Biểu đồ 1. Số vu và sốngười phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 — 2006) 3000.

ad ề, : 1996 1998 2000 2002 2004 2006 O Số vụ phạm tội & Số người phạm tội (Nguồn: TANDTC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mẫu 1A) Thông số về số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm có trong số liệu thống kê đã phản ánh cơ bản về lượng của tình hình tội lừa dao CDTS. Day là THU VIÊN 1 18 phần tội phạm rõ, có trong thống kê chính thức của cơ quan TANDTC và cũng là phần quan trọng nhất trong bức tranh tổng thể thực trạng của THTP hàng năm. cũng như trong cả khoảng thời gian 1996 - 2006. * Hệ số tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tai san Bang 1.

Hệ số về số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006) ] a TT DOM LE oe | Tổng số. Tổng số Số dân cư | HỆ sO ve | ri Be. Năm | vụ phạm người hàng năm | SẼ VN PHAN | người Phẩm tội | pham toi | (rriệu người | !ÔW 100.OU0 mm" dân dân 1996 1.900 aa nN PL (Nguồn: dân số theo số liệu công bố trên trang web của tổng cục thống kê ) Hệ số tội phạm là tỉ lệ giữa số vụ, số người phạm tội đã xảy ra với số lượng dân cư nhát định (hoặc với số người đủ tuổi chịu TNHS), trong khoảng thời gian va trong nkitng địa phương nhất định. Nhìn vào hệ số tội phạm cho phép chúng ta đánh giá diy đủ hơn thực trạng của THTP trong từng năm, từng thời điểm nghiên cứu và trorg từng địa phương cu thể.

Hệ số tội phạm của tội lừa đảo CDTS được chúng tôi xác định trên cơ sở số vụ và số người phạm tội đã được xét xử hàng năm và tím theo tỷ lệ trên 100.000 dân, trong mối tương quan với dân số trong thời kì 1995 - 2006 trên phạm vi cả nước [89]. Qua hé số tội phạm của tội lừa đảo CDTS cho chúng ta biết mức độ thực tế của thực tring THTP ở các thời điểm khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học: Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và giải pháp phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. Luận án không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn đưa ra những đánh giá thực tiễn, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Đọc giả sẽ được tiếp cận với những góc nhìn toàn diện, từ lý luận đến thực tiễn, giúp hiểu rõ hơn về cơ chế pháp lý và các thách thức trong công tác phòng ngừa, xử lý tội phạm lừa đảo.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ luật học pháp luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao những vấn đề đặt ra đối với việt nam, nghiên cứu về tội phạm công nghệ cao, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến tội lừa đảo. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh quảng bình cung cấp góc nhìn về các biện pháp phòng ngừa tội phạm liên quan đến tài sản, một chủ đề gần gũi với tội lừa đảo. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học tội buôn lậu từ thực tiễn địa bàn thành phố hà nội mang đến những phân tích về tội phạm kinh tế, một lĩnh vực có nhiều điểm tương đồng với tội lừa đảo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về các vấn đề pháp lý hiện nay.