Tổng quan luận án

Công trình "Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Lê Đăng Doanh được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2008, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Quang Vinh và TS. Từ Văn Nhị. Luận án thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm, mã số 62 38 70 01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong giai đoạn đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân. Tác giả dẫn chứng hàng loạt vụ án điển hình gây hậu quả đặc biệt lớn: vụ Epco - Minh Phụng lừa đảo chiếm đoạt gần 350 tỷ đồng; vụ Nguyễn Tôn Văn và đồng bọn chiếm đoạt của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Đô trên 129 tỷ đồng (xét xử năm 2003); vụ Trần Phi Hùng tại Hà Nội (năm 2003) chiếm đoạt gần 21 tỷ đồng. Báo cáo của Chính phủ năm 2002 ghi nhận 152 vụ lừa đảo tiền hoàn thuế giá trị gia tăng gây thất thoát 530 tỷ đồng (trung bình mỗi vụ chiếm đoạt gần 3,5 tỷ đồng).

Hoạt động lừa đảo xuất khẩu lao động cũng xảy ra trên diện rộng, tiêu biểu như vụ Chu Thị Thuý Hằng (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử năm 2005) lừa đảo 321 người bị hại tại 12 tỉnh, thành phố. Cùng với đó, phương thức lừa đảo qua mạng Internet xuất hiện dưới dạng đầu tư vào công ty ảo như ColonyInvest, hoặc các thủ đoạn mới như sử dụng thẻ tín dụng giả, hợp đồng thương mại điện tử, bán hàng đa cấp, giả thuê mượn tài sản rồi mang cầm cố. Trước diễn biến đó, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng vẫn còn khiếm khuyết, các nghiên cứu khoa học trước đó mang tính ứng dụng hạn chế và chưa giải quyết bài toán phòng ngừa trên quy mô toàn quốc. Việc nghiên cứu đề tài đáp ứng yêu cầu cấp bách của lý luận và thực tiễn, đồng thời bám sát tinh thần Nghị quyết 09/CP của Chính phủ về phòng, chống tội phạm.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá đầy đủ tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong phạm vi 1996 - 2006 trên cơ sở số liệu thực tế được thống kê và thu thập, từ đó tìm ra đặc điểm, tính chất và quy luật diễn biến của tội phạm.
  2. Đánh giá tình hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giai đoạn 1996 - 2006, rút ra những tồn tại, thiếu sót để xác định phương hướng khắc phục.
  3. Phân tích làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội và cơ chế hình thành hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  4. Phân tích các cơ sở, yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tội phạm và đưa ra dự báo về hệ số tội phạm cũng như xu hướng diễn biến của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tương lai.
  5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, các số liệu thống kê về vụ án và người phạm tội, các vụ án thực tế nhằm rút ra đặc điểm tội phạm học, cùng thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 11 năm liên tục, từ năm 1996 đến năm 2006.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao (1996 - 2006), có đối chiếu số liệu từ Cục Thống kê tội phạm thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cục Cảnh sát điều tra (C16) Bộ Công an, và hồ sơ 594 vụ án hình sự sơ thẩm thu thập tại Tòa án nhân dân các địa phương từ năm 1999 đến 2005.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm chuyên môn:

  • Hướng điều tra hình sự và phòng ngừa nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Mao An (1996) về "Phương pháp điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Yên (1997) về "Tổ chức hoạt động điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; luận án tiến sĩ của Phạm Quang Phúc (2004) về "Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Hướng nghiên cứu theo lĩnh vực chuyên biệt: Đề tài khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân (1999) về tội phạm lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng; đề tài của Học viện Cảnh sát nhân dân (2005) do ThS. Đinh Anh Tuấn chủ nhiệm về hoạt động đưa người đi lao động ở nước ngoài; đề tài của ThS. Lưu Đức Dương (2005) và sách chuyên khảo của TS. Trần Phương Đạt - ThS. Nguyễn Giang Nam (2005) về điều tra tội phạm lừa đảo hoàn thuế giá trị gia tăng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Hướng nghiên cứu tội phạm học và luật hình sự: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Sỹ Lí (1997) về "Đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảo theo luật hình sự Việt Nam"; luận văn thạc sĩ của Phạm Quang Phúc (1999) về đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; cùng các giáo trình và bình luận của Đinh Văn Quế.
  • Nghiên cứu pháp luật quốc tế: Tác giả khảo sát các cơ sở đào tạo luật lớn trong nước và ghi nhận không có công trình nước ngoài nào nghiên cứu trực tiếp về đấu tranh phòng ngừa tội danh này tại Việt Nam. Đồng thời, tác giả khảo cứu quy định hình sự nước ngoài như Điều 159 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996, Điều 415 Bộ luật Hình sự Malaysia, và quy định của Bộ luật Hình sự Thụy Điển để chỉ ra sự khác biệt về cấu thành tội phạm và kỹ thuật lập pháp (nhiều nước quy định tội danh riêng cho lừa đảo máy tính, bảo hiểm, tín dụng).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua điểm luận tài liệu, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước năm 1999 chủ yếu căn cứ vào Bộ luật Hình sự năm 1985, tập trung vào mặt pháp lý hoặc biện pháp nghiệp vụ trinh sát nội bộ của lực lượng Công an (điều tra cơ bản, sưu tra, xây dựng mạng lưới bí mật), phạm vi bó hẹp trong từng ngành hoặc địa bàn đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống sau:

  1. Đánh giá toàn diện, có hệ thống tình hình tội phạm trên phạm vi cả nước trong giai đoạn chuyển giao giữa Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999.
  2. Đo lường và phân tích bản chất của phần tội phạm ẩn (thời gian ẩn, vùng ẩn, mức độ ẩn, lý do ẩn).
  3. Đánh giá khách quan kết quả và hạn chế của các cơ quan tư pháp giai đoạn 1996 - 2006.
  4. Xây dựng mô hình cơ chế phát sinh tội phạm và đưa ra dự báo khoa học về xu hướng biến động trong tương lai.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể, kết hợp kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước, nghiệp vụ tư pháp và hoàn thiện pháp luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa hiện tượng xã hội, con người và hoàn cảnh khách quan; bám sát đường lối, chính sách phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước. Tội phạm được xác định là hiện tượng xã hội tiêu cực, có nguồn gốc từ xã hội, chịu sự tác động tương hỗ giữa hoàn cảnh khách quan bên ngoài và ý thức chủ quan bên trong của cá nhân người phạm tội.

Khung phân tích tội phạm học vận dụng cấu trúc gồm: thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm; mô hình cơ chế hình thành hành vi phạm tội (Mô hình 2.1); hệ thống nguyên nhân - điều kiện; dự báo tội phạm học và hệ thống biện pháp phòng ngừa. Cơ sở pháp lý đối chiếu gồm các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 134, Điều 134a, Điều 157) và Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; cùng các quy định thẩm quyền xét xử tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu tội phạm học:

  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh: Phân tích chuỗi số liệu 11 năm của Tòa án nhân dân tối cao, đối chiếu dữ liệu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cục C16 Bộ Công an. Tác giả sử dụng công thức tính tốc độ tăng giảm bình quân hàng năm dựa trên mức phát triển liên hoàn (căn bậc $n-1$ của tích các tỷ lệ liên hoàn) để xác định xu hướng vận động của tình hình tội phạm.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án: Khảo sát ngẫu nhiên hồ sơ 594 vụ án hình sự sơ thẩm (mỗi năm chọn ngẫu nhiên khoảng 85 vụ) với 1.002 bị cáo tại Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố từ năm 1999 đến năm 2005 để phân tích các yếu tố không có trong thống kê chung (thời gian ẩn, địa bàn gây án, thủ đoạn gian dối, hình thức đồng phạm, đặc điểm nhân thân).
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (xã hội học tư pháp):
    • Thực hiện khảo sát 610 phiếu hỏi đối với học viên các lớp Đại học Luật hệ tại chức tại nhiều địa phương để đánh giá tâm lý xã hội và mức độ trình báo cơ quan công an khi bị thiệt hại tài sản theo các hạn mức giá trị khác nhau.
    • Khảo sát 310 phiếu ý kiến chuyên gia (thu về từ trên 250 phiếu ban đầu) gồm Điều tra viên, Trinh sát viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để đánh giá tỷ lệ tội phạm ẩn và hiệu quả của các giải pháp phòng ngừa.
  • Phương pháp chuyên gia: Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia luật học, Thẩm phán và Điều tra viên giàu kinh nghiệm về các vướng mắc lý luận, khó khăn khi định tội danh và nhận diện các thủ đoạn phạm tội công nghệ cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam

Chương 1 tập trung giải phẫu bức tranh thực trạng, diễn biến, cơ cấu và nhân thân của tội phạm trong giai đoạn 1996 - 2006.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| Bảng tổng hợp số vụ án và bị cáo lừa đảo CĐTS đã xét xử sơ thẩm (1996 - 2006) |
| (Nguồn: TANDTC thống kê án HSST theo Mẫu 1A)                                  |
+-------------------+--------------------+--------------------------------------+
| Năm               | Số vụ án xét xử    | Số bị cáo xét xử                     |
+-------------------+--------------------+--------------------------------------+
| 1996              | 1.900              | 2.502                                |
| 1997              | 1.945              | 3.023                                |
| 1998              | 2.378              | 3.069                                |
| 1999              | 2.441              | 3.328                                |
| 2000              | 2.334              | 2.802                                |
| 2001              | 1.650              | 2.088                                |
| 2002              | 1.636              | 2.174                                |
| 2003              | 1.995              | 2.590                                |
| 2004              | 1.537              | 2.276                                |
| 2005              | 1.831              | 2.080                                |
| 2006              | 2.015              | 2.968                                |
+-------------------+--------------------+--------------------------------------+
| Tổng số           | 21.662 vụ          | 28.900 người                         |
| Trung bình/năm    | 1.970 vụ/năm       | 2.630 người/năm                      |
+-------------------+--------------------+--------------------------------------+
  • Thực trạng và hệ số tội phạm: Trung bình mỗi năm Tòa án các cấp xét xử 1.970 vụ với 2.630 bị cáo. Giai đoạn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985 (1996 - 2000) có số lượng cao hơn (2.200 vụ và 2.945 người/năm) so với giai đoạn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (2001 - 2006: 1.777 vụ và 2.367 người/năm). Hệ số tội phạm trung bình cả thời kỳ là 2,53 vụ và 3,37 người phạm tội trên 100.000 dân. So sánh giai đoạn 2001 - 2006, hệ số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản (2,19 vụ/100.000 dân) đứng mức cao trong nhóm tội chiếm đoạt, chỉ xếp sau trộm cắp tài sản (16,6 vụ/100.000 dân) và cướp tài sản (2,45 vụ/100.000 dân).
  • Vị trí trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt: Về số vụ, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm 9,6% (đứng thứ 2 sau trộm cắp tài sản với 63%). Về số người, tội danh này chiếm 8,4% (sau trộm cắp 61% và cướp tài sản 13%).
  • Phần tội phạm ẩn: Tác giả phân tích và ước tính tỷ lệ tội phạm ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 30% đến 40% (tương đương khoảng 6.500 vụ chưa có trong thống kê Tòa án giai đoạn 1996 - 2006, trung bình hơn 590 vụ/năm). Khảo sát 310 cán bộ tư pháp cho thấy 66% nhận định tỷ lệ án chưa phát hiện chiếm từ 21% đến 40% (trung bình 30%). Khảo sát thực tế tỷ lệ không khám phá được của cơ quan công an: Công an TP. Hồ Chí Minh không khám phá được gần 26% (phát hiện 1.921 vụ, khám phá 1.428 vụ); Công an tỉnh Thanh Hóa không khám phá được 22% (176 vụ phát hiện, khám phá 137 vụ); Công an tỉnh Bắc Giang không khám phá được 42% (111 vụ phát hiện, khám phá 64 vụ). Số vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố nhưng không đưa ra xét xử được giai đoạn 1996 - 2005 là 2.819 vụ (chiếm 12,3%).
  • Thời gian và vùng ẩn: Khảo sát 355 vụ án cho thấy 60% vụ việc được phát hiện trong vòng 1 năm kể từ thời điểm thực hiện hành vi đầu tiên (từ 1 - 3 tháng chiếm 29,6%; từ 3 tháng đến 1 năm chiếm 30,4%; từ 1 - 3 năm chiếm 29%). Khảo sát 594 bản án cho thấy 81% vụ phạm tội xảy ra tại khu vực đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn: 483 vụ).
  • Lý do ẩn: Người bị hại không trình báo (chiếm 64% nguồn tin ban đầu). Khảo sát 610 người dân cho thấy: thiệt hại dưới 500 nghìn đồng có 95% không báo; từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng có 88% không báo hoặc ít khi báo; từ 1 đến 5 triệu đồng có 57% không hoặc ít khi báo. Tỷ lệ trình báo tội phạm xâm phạm tài sản Nhà nước chỉ đạt 6,3% (10/158 vụ), trong khi xâm phạm tài sản công dân đạt 85% (369/436 vụ). Bên cạnh đó là các yếu tố từ thủ đoạn tinh vi của thủ phạm (văn phòng ảo, lừa đảo việc làm) và hạn chế từ cơ quan tư pháp (bệnh thành tích, đùn đẩy trách nhiệm địa bàn giáp ranh, hạn chế định lượng 500 nghìn đồng).
  • Quy luật diễn biến: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm toàn giai đoạn 1996 - 2006 là 0,8%/năm về số vụ và 1,6%/năm về số người. Riêng giai đoạn 2001 - 2006, số vụ tăng bình quân 4,5%/năm và số người tăng 7,3%/năm. Đáng chú ý, nhóm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng tăng bình quân 9,9%/năm về số vụ và 17%/năm về số người. Tỷ lệ phạm tội có tổ chức và đồng phạm tăng mạnh qua 594 vụ khảo sát: năm 2000 - 2001 đồng phạm chiếm 18,3% (3 vụ có tổ chức); năm 2004 - 2005 tăng lên 42,4% (72 vụ đồng phạm, 14 vụ có tổ chức). Ngược lại, số đối tượng tái phạm, tái phạm nguy hiểm giảm bình quân 4,1%/năm. Số người chưa thành niên phạm tội tăng nhẹ 3,5%/năm, nhưng đối tượng dưới 16 tuổi chỉ chiếm 0,4%.

Chương 2: Tình hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm này ở Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống tư pháp và bóc tách các nhóm nguyên nhân - điều kiện phát sinh tội phạm.

  • Thực tiễn đấu tranh phòng, chống: Hoạt động tiếp nhận tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đã có nhiều chuyển biến, kiềm chế sự gia tăng đột biến của tội phạm. Tuy nhiên, tỷ lệ điều tra khám phá trung bình của công an địa phương chỉ đạt khoảng 70%; việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt đạt tỷ lệ thấp; còn hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm hoặc hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế và ngược lại.
  • Các nhóm nguyên nhân và điều kiện:
    1. Tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế - xã hội: Mặt trái của nền kinh tế thị trường, phân hóa giàu nghèo, sức ép thất nghiệp, nhu cầu tìm việc làm và xuất khẩu lao động tăng cao khiến người dân dễ sập bẫy.
    2. Yếu tố tâm lý xã hội và hạn chế giáo dục, tuyên truyền pháp luật: Lòng tham, hám lợi nhuận cao, tâm lý nhẹ dạ cả tin; công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật còn hình thức, chưa tiếp cận sâu đến vùng nông thôn.
    3. Tồn tại, thiếu sót trong quản lý kinh tế và an ninh trật tự: Kẽ hở trong quản lý ngân sách và hoàn thuế giá trị gia tăng; sơ hở trong quy trình xét duyệt hồ sơ tín dụng ngân hàng; sự buông lỏng quản lý đối với các doanh nghiệp đưa người đi lao động nước ngoài; thiếu kiểm soát trong kinh doanh mạng Internet, thương mại điện tử và bán hàng đa cấp.
    4. Bất cập từ công tác của các cơ quan tư pháp: Trình độ nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát, thẩm phán còn hạn chế; trang thiết bị phương tiện kỹ thuật giám định còn lạc hậu; bệnh thành tích dẫn đến né tránh thụ lý án ít nghiêm trọng.
    5. Hạn chế trong quy định của pháp luật: Quy định mức định lượng khởi tố 500 nghìn đồng tại Điều 139 BLHS 1999 gặp vướng mắc khi xác định giá trị tài sản trong các vụ việc chiếm đoạt nhiều lần; ranh giới phân định chưa thật rõ ràng giữa lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các tranh chấp hợp đồng kinh tế, dân sự.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam

Chương 3 đưa ra các định hướng dự báo và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Dự báo tình hình tội phạm: Dự báo các vụ việc lừa đảo có quy mô lớn, tính chất nghiêm trọng, mức độ thiệt hại tài sản lớn tiếp tục gia tăng; phương thức gây án bằng công nghệ cao, giao dịch ngân hàng điện tử, mạng viễn thông và các yếu tố cấu kết xuyên quốc gia sẽ diễn biến phức tạp.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Giải pháp kinh tế - xã hội: Giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người có tiền án nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phạm.
    2. Cải cách hành chính và tuyên truyền pháp luật: Đơn giản hóa thủ tục hành chính để triệt tiêu đất dung dưỡng cho hành vi lừa đảo chạy việc, chạy dự án; đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật, tập trung cảnh báo các thủ đoạn lừa đảo việc làm, đầu tư ảo tại khu vực nông thôn và sinh viên.
    3. Nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, trật tự xã hội: Siết chặt quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng, quy chuẩn thẩm định tài sản thế chấp tại ngân hàng; tăng cường thanh tra các doanh nghiệp xuất khẩu lao động; kiểm soát hoạt động thương mại điện tử, dịch vụ Internet và kinh doanh đa cấp.
    4. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp: Kiện toàn bộ máy điều tra và các cơ quan giám định tư pháp; đổi mới công tác thu thập, xử lý tố giác tin báo tội phạm nhằm hạn chế tội phạm ẩn; tăng cường phối hợp liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Tòa án; trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ khám phá án lừa đảo công nghệ cao.
    5. Hoàn thiện cơ sở pháp lý: Sửa đổi, bổ sung Điều 139 BLHS 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự; hướng dẫn cụ thể việc xử lý hành vi lừa đảo nhiều lần có giá trị dưới 500 nghìn đồng; hoàn thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại điện tử, thanh toán thẻ tín dụng và chữ ký điện tử.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn áp dụng như sau:

  • Đánh giá toàn diện và có hệ thống: Luận án là công trình đầu tiên trong chuyên ngành tội phạm học đánh giá bức tranh tổng thể về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi toàn quốc trong 11 năm liên tục (1996 - 2006), phân tích rõ sự chuyển biến về cơ cấu, tính chất khi chuyển đổi áp dụng giữa Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm ẩn: Tác giả đã lượng hóa phần tội phạm ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (ở mức 30% - 40%), phân tích khoa học trên 4 khía cạnh: mức độ ẩn, thời gian ẩn, vùng ẩn và nguyên nhân ẩn; cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm qua 610 phiếu khảo sát nhân dân và 310 phiếu khảo sát cán bộ tư pháp.
  • Làm rõ cơ chế và nguyên nhân: Phân tích bản chất cơ chế hình thành hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gắn liền với các kẽ hở quản lý nhà nước trong thời kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị lập pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng mang tính khả thi cao, chú trọng phòng ngừa lừa đảo công nghệ cao và tội phạm có yếu tố nước ngoài; kiến nghị cải tiến tổ chức bộ máy cơ quan điều tra, cơ quan giám định và đề xuất sửa đổi cụ thể các quy định trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận từ văn bản:
    • Tiêu chí thống kê tội phạm giữa các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an) chưa đồng bộ và còn độ lệch nhất định (giai đoạn 2001 - 2006, dữ liệu Viện kiểm sát ít hơn Tòa án 210 vụ và 964 bị cáo).
    • Thống kê tư pháp hiện hành chỉ tính theo đầu vụ án xét xử chứ chưa phản ánh chính xác tổng số lần phạm tội thực tế (nhiều vụ án đối tượng lừa đảo hàng trăm lần nhưng chỉ tính là một vụ), làm phát sinh sai số thống kê.
    • Sự thay đổi cách phân loại tội phạm giữa hai thời kỳ (Bộ luật Hình sự năm 1985 chia 2 loại tội; Bộ luật Hình sự năm 1999 chia 4 loại tội; việc tách các tội xâm phạm sở hữu có yếu tố chức vụ sang nhóm tội phạm về chức vụ từ tháng 7/2000) gây khó khăn cho việc so sánh chuỗi thời gian liên tục.
    • Việc đánh giá phần tội phạm ẩn và tỷ lệ điều tra khám phá chỉ mang tính xác suất tương đối dựa trên mẫu khảo sát 594 bản án và số liệu thu thập tại một số địa phương trọng điểm (TP. Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Bắc Giang).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu về hoàn thiện bộ chỉ số thống kê tội phạm học liên ngành; phát triển lý luận và biện pháp đấu tranh phòng chống đối với các phương thức lừa đảo sử dụng công nghệ cao, giao dịch tài chính xuyên biên giới trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Luận án cung cấp phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm trong tội phạm học, đặc biệt là kỹ thuật xử lý chuỗi số liệu thống kê liên hoàn, phương pháp đo lường tội phạm ẩn và phân tích hồ sơ bản án thực tế.
  • Đối với cán bộ điều tra, Thẩm phán và Kiểm sát viên: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn về nhận diện phương thức, thủ đoạn lừa dối mới (hoàn thuế giá trị gia tăng, tín dụng ngân hàng, xuất khẩu lao động, bán hàng đa cấp), hỗ trợ nâng cao kỹ năng thu thập chứng cứ và định tội danh chính xác.
  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách và pháp luật: Cung cấp luận cứ thực chứng phục vụ sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và xây dựng quy chế phối hợp chia sẻ dữ liệu thống kê tội phạm quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ số tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2006 là bao nhiêu?
Trả lời: Hệ số tội phạm trung bình toàn giai đoạn là 2,53 vụ và 3,37 người phạm tội trên 100.000 dân. Giai đoạn 1996 - 2000 có hệ số cao hơn (2,93 vụ và 3,93 người/100.000 dân), giai đoạn 2001 - 2006 giảm xuống mức 2,19 vụ và 2,90 người/100.000 dân.

2. Tỷ lệ tội phạm ẩn của tội danh này được luận án ước tính dựa trên những căn cứ thực tế nào?
Trả lời: Luận án ước tính tỷ lệ tội phạm ẩn chiếm khoảng 30% - 40% số vụ xảy ra trên thực tế (khoảng trên 590 vụ/năm không có trong thống kê TANDTC). Căn cứ dựa trên: 66% ý kiến của 310 cán bộ tư pháp ước lượng tỷ lệ ẩn từ 21% - 40%; tỷ lệ án không khám phá được của cơ quan công an một số tỉnh đạt trung bình khoảng 30% (TP.HCM: gần 26%, Thanh Hóa: 22%, Bắc Giang: 42%); cùng 12,3% số vụ án Viện kiểm sát đã khởi tố nhưng không đưa ra xét xử được giai đoạn 1996 - 2005.

3. Khảo sát 594 bản án thực tế chỉ ra đặc điểm gì về thời gian ẩn và địa bàn ẩn của tội phạm?
Trả lời: Về thời gian ẩn, 60% số vụ án được phát hiện trong vòng 1 năm kể từ khi thực hiện hành vi phạm tội đầu tiên (1 - 3 tháng chiếm 29,6%; 3 tháng đến 1 năm chiếm 30,4%; 1 - 3 năm chiếm 29%). Về địa bàn ẩn, 81% số vụ án xảy ra tại khu vực đô thị gồm thành phố, thị xã và thị trấn (483/594 vụ).

4. Vì sao số người phạm tội có tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm lại có xu hướng giảm bình quân 4,1%/năm?
Trả lời: Xu hướng giảm xuất phát từ: sự thay đổi trong quy định xác định điều kiện tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật Hình sự năm 1999; tác động tích cực của phát triển kinh tế giúp giải quyết việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù; và hiệu quả các biện pháp phòng ngừa của cơ quan tư pháp.

5. Trong giai đoạn 2001 - 2006, nhóm tội phạm nào có mức độ gia tăng hàng năm cao nhất?
Trả lời: Nhóm tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng có mức tăng cao nhất, đạt bình quân 9,9%/năm về số vụ và 17%/năm về số người phạm tội (riêng năm 2003 số vụ tăng trên 150%, năm 2004 số người phạm tội tăng hơn 150% so với năm 2001).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Đăng Doanh là công trình nghiên cứu toàn diện về tội phạm học đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam giai đoạn 1996 - 2006. Bằng việc kết hợp thống kê tư pháp 11 năm của Tòa án nhân dân tối cao với khảo sát thực nghiệm 594 bản án sơ thẩm và lấy ý kiến xã hội học tư pháp, tác giả đã làm rõ quy luật diễn biến, cơ cấu và lượng hóa phần tội phạm ẩn của loại tội này. Các phát hiện về nguyên nhân quản lý kinh tế - xã hội cùng hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất là cơ sở thực tế có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong thực tiễn.