chương I, mục III “Mô hình tổ chức quản lý trong các xí nghiệp quốc doanh nông nghiệp”, từ trang 49 đến trang 53, tác giả tập trung phân tích và đánh giá về tổ chức quản lý của hệ thống NTQD ở miền Bắc. Từ nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra quan điểm như sau: “Cơ chế quản lý trong khu 15 vực này làm cho các nông trường hàng năm đều được đánh giá là hoàn thành hoặc hoàn thành vượt kế hoạch Nhà nước nhưng thực ra lại bị thua lỗ nếu hạch toán đúng và đủ. Mặc dù Nhà nước đã đầu tư một số vốn khá lớn cho kinh tế quốc doanh, nhưng “lãi giả lỗ thật” là hiện tượng phổ biến” [235, tr. Nhận định này được nghiên cứu sinh kế thừa trong đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên số trang viết về nông trường là rất ít ỏi, khoảng 4/260 trang. Đó là những nhận định, đánh giá chung nhất, khái quát nhất về hiệu quả sản xuất, kinh doanh của NTQD. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kết luận: “Trong nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể đại diện là các HTX nông nghiệp quản lý phần lớn đất đai và lao động ở nông thôn, thành phần kinh tế quốc doanh đại diện là các NTQD, trại trạm chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Các đơn vị kinh tế cơ sở không được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và chịu sự quản lý của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp ở cả cấp vi mô lẫn vĩ mô-một cơ chế quản lý chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính.
Cơ chế này đã trói buộc sức sản xuất, triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, nông nghiệp đã rơi vào tình trạng khủng hoảng. Theo quan điểm của tác giả, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng trở thành nhu cầu bức xúc [235, tr. Công trình là một tài liệu tham khảo rất quan trọng của luận án.
Công trình “Lịch sử kinh tế Việt Nam (1945 - 2000)”, tập II (1955 - 1975). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội do Đặng Phong chủ biên. Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu và đồ sộ với tổng số 1. NTQD được nhóm tác giả tập trung viết ở mục 2.
“Thành lập các NTQD” (từ trang 280 đến trang 282), mục 3. “Tổ chức ở các NTQD” (trang 288) và mục 5. Các tác giả khái quát quá trình thành lập NTQD ở miền Bắc. Theo đó, NTQD được hình thành trên ba cơ sở: NTQD-xây dựng trên cơ sở các doanh điền tịch thu được trong cải cách ruộng đất; Nông trường quân đội-thành lập theo chủ trương chuyển ngành hàng loạt bộ đội sang làm kinh tế; Liên đoàn sản xuất nông nghiệp miền Nam-tổ chức từ lực lượng cán bộ, nhân dân miền Nam tập kết ra miền Bắc.
Các tác giả phân tích sơ lược về vốn đầu tư cho nông trường và hiệu quả kinh tế của các NTQD. 16 Từ nghiên cứu, nhóm các giả đã chỉ ra một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sản xuất kém hiệu quả. Theo quan điểm của nhóm tác giả, về tổ chức, NTQD tổ chức sản xuất hoàn toàn theo những chỉ tiêu kế hoạch được Bộ Nông trường (Nhà nước) giao cho, tức là được cung cấp toàn bộ vốn đầu vào và bao tiêu sản phẩm; Sự chuẩn bị các điều kiện tiền đề xây dựng NTQD không được chu đáo. Về vị trí của các NTQD không thuận lợi, giao thông đi lại khó khăn, chi phí đầu tư đều tăng lên; Lực lượng lao động trong các NTQD không quen với sản xuất nông nghiệp nên không thể có năng suất cao; Việc đầu tư không tập trung, dàn trải nên không đem lại lợi ích kinh tế; Việc quản lý ngày công lao động không nghiêm túc; bộ máy tổ chức thì cồng kềnh.
Vì vậy, NTQD không đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn. Những nhận định này của các tác giả giúp cho nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để nhận xét, đánh giá về NTQD. Do NTQD không phải là đối tượng chính của công trình, nên không tập trung nghiên cứu, phân tích chuyên sâu. Nội dung viết về NTQD chiếm khoảng 4-5/1.178 trang, còn rất nhiều nội dung cần nghiên cứu chuyên sâu.
Những công trình kể trên, NTQD có được các tác giả đề cập đến, nhưng đều chiếm dung lượng rất ít ỏi, chủ yếu là giới thiệu khái quát, sơ lược về NTQD. Tuy vậy, đó là những phân tích, đánh giá về NTQD rất có giá trị để tác giả luận án tham khảo và kế thừa. Nghiên cứu về NTQD khá tản mạn ở một số công trình lịch sử địa phương như Lịch sử Đảng bộ tỉnh, Lịch sử Đảng bộ huyện, thị trấn, xã. Có thể kể đến như: Công trình “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh B nh, tập 1, (1930-1975)”.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình xuất bản. Công trình không trực tiếp viết về lịch sử Nông trường Đồng Giao giai đoạn 1955-1975 nhưng có nội dung viết về sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình với Đảng bộ Nông trường Đồng Giao. Công trình “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, (1954-1975)”. tập 2, Nxb Nghệ An, của các tác giả.
Công trình có viết về NTQD ở miền Tây Nghệ An trong giai đoạn 1955-1975, cụ thể là viết về Nông trường Tây Hiếu I. Công trình “Lịch sử Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000”. Nxb Chính trị Quốc gia, của nhóm tác giả do Trần Văn Thức 17 chủ biên, có đề cập một cách sơ lược về sự ra đời của các NTQD ở miền Tây Nghệ An: Nông trường Đông Hiếu, Nông trường Tây Hiếu, Nông trường Trình Môn, Nông trường Bãi Phủ, Nông trường Sông Con. Nhóm tác giả mới chỉ trình bày khái quát về sự ra đời của các nông trường.
Những nội dung như: tổ chức bộ máy, lực lượng lao động, hoạt động sản xuất, quan hệ sản xuất, đóng góp. của các nông trường chưa được đề cập đến. Công trình “Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn (1930-2008)”. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Chương IV và chương VI khái quát về sự ra đời của các nông trường ở Nghĩa Đàn; vai trò của nông trường Tây Hiếu trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; sự chuyển đổi cơ chế của các NTQD ở Nghĩa Đàn. Tuy nhiên, công trình chỉ dừng lại ở mức sơ lược quá trình ra đời của các nông trường, chưa có sự phân tích, đánh giá cụ thể các hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông trường. Công trình “Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Rạng Đông (1958-2017)”. Nxb Nam Định.
Công trình phục dựng lại quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của thị trấn Rạng Đông theo tiến trình lịch sử từ năm 1958 đến năm 2017. Chương I và chương II viết về Nông trường Rạng Đông giai đoạn 1958-1975 liên quan trực tiếp đến luận án. Đối với những công trình này, do NTQD không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên thường chiếm dung lượng rất khiêm tốn. Tuy nhiên, đây cũng là một nguồn tài liệu có giá trị giúp cho tác giả luận án tham khảo.
* Nh m công tr nh nghiên cứu tr c tiếp về NTQD Công trình “Ra sức xây d ng và củng cố nông trường quốc doanh”. Nxb Sự Thật, Hà Nội, của Trần Hữu Dực. Tác giả tập trung phân tích các nội dung sau: Tính chất và vai trò NTQD trong sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN; Ba nhiệm vụ lớn của NTQD; Trên cơ sở những thắng lợi bước đầu, ra sức xây dựng và củng cố NTQD; Tăng cường chỉ đạo NTQD. Công trình có một số nội dung liên quan trực tiếp đến luận án.
Tác giả đã chỉ ra tính chất căn bản của NTQD là cơ sở kinh tế nông nghiệp hoàn toàn XHCN, các tài sản và tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu Nhà nước. Về vai trò của NTQD, tác giả kh ng định các NTQD có vai trò rất lớn về mặt chính trị, làm “tăng cường lực lượng đội ngũ giai cấp công nhân, xây dựng hạt nhân 18 lãnh đạo trong nông nghiệp”, về kinh tế “góp phần xóa bỏ tính chất nhiều thành phần trong nền kinh tế quốc dân”, là nhân tố quan trọng để thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), góp phần bố trí lực lượng lao động giữa miền núi và đồng bằng [139, tr. Tác giả phân tích rất kĩ ba nhiệm vụ trọng tâm của NTQD, cơ sở hình thành NTQD ở miền Bắc Việt Nam và một số kết quả NTQD đạt được từ năm 1955 đến năm 1962. Công trình cũng cung cấp nhiều số liệu về NTQD có nguồn tin cậy cao.
Có thể nói đây là công trình nghiên cứu ít ỏi, có tính chuyên sâu về đề tài NTQD và là nguồn tài liệu tham khảo quý cho luận án. Song với dung lượng 50 trang, công trình mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, trình bày một cách khái quát, cơ bản nhất về NTQD và hoạt động sản xuất, kinh doanh của NTQD từ năm 1955 đến năm 1962. Công trình công bố vào năm 1963, thời điểm miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, NTQD được đẩy mạnh xây dựng. Do vậy, cuốn sách chủ yếu nhằm mục đích tuyên truyền việc xây dựng và mở rộng NTQD.
Công trình “Nông trường Đồng Giao 30 năm xây d ng và trưởng thành”. Nông trường Đồng Giao xuất bản, Hà Nam Ninh, của Nguyễn Đăng Trình. Công trình nghiên cứu về sự ra đời và phát triển của Nông trường Đồng Giao thuộc tỉnh Ninh Bình từ năm 1955 đến năm 1985. Công trình gồm 12 chương, bắt đầu từ năm 1955, tỉnh đón 105 người đầu tiên về xây dựng nông trường Đồng Giao trên cơ sở Doanh điền Hữu Viện.
Bên cạnh đó hoạt động sản xuất, tác giả còn phân tích, hoạt động chiến đấu của nông trường. Đây là cuốn sách viết theo thể ký sự lịch sử. Bản thân Nguyễn Đăng Trình là cựu cán bộ, công nhân viên của Nông trường Đồng Giao, từng có một thời gian dài tuổi trẻ làm việc tại và gắn nông trường cho nên không tránh được cảm xúc cá nhân của tác giả. Công trình “Công tác hạch toán trong nông trường quốc doanh”.
Nxb Thống kê, Hà Nội, của Nguyễn Hòa Bình, đã giới thiệu về các cách thức hạch toán tại một NTQD. Nội dung gồm 6 chương: Hạch toán lao động và tiền lương; hạch toán tài sản cố định; hạch toán vật liệu và công cụ lao động thuộc tài sản lưu động; hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; hạch toán thành phẩm, tiêu thụ, kết quả tài chính và lãi nộp ngân sách; hạch toán các loại vốn, quỹ của xí nghiệp.