Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử với đề tài "Làng Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình) từ thành lập đến giữa thế kỷ XIX" do nghiên cứu sinh Đinh Văn Viễn thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Duy Bính và PGS.TS Đào Tố Uyên, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, làng xã giữ vai trò nền tảng trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Nghiên cứu làng xã ở từng địa phương cụ thể là yêu cầu khoa học nhằm bổ sung dữ liệu thực chứng cho nhận thức chung về làng Việt cổ truyền. Làng Côi Trì (nay thuộc xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) là một làng nông nghiệp được hình thành vào cuối thế kỷ XV gắn liền với công cuộc khai hoang theo chính sách chiếm xạ thời Lê sơ và sự ra đời của đê Hồng Đức, sau đó phát triển thành một làng tiêu biểu về truyền thống học hành, khoa cử vào thế kỷ XIX.

Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu làng truyền thống cung cấp cơ sở khoa học phục vụ các chương trình chiến lược quốc gia như Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Về mặt học thuật, khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận làng xã ở trạng thái tĩnh hoặc tại một thời điểm cắt ngang cụ thể, rất ít công trình khảo sát toàn diện sự vận động và xu hướng phát triển xuyên suốt của một làng từ cuối thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX. Đồng thời, các tài liệu ghi chép trước đó về Côi Trì còn tồn tại nhiều điểm thiếu đồng bộ và sai sót về mặt lịch sử cần được khảo chứng lại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  1. Làm rõ quá trình hình thành, tình hình và xu hướng phát triển của kinh tế, xã hội, văn hóa làng Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX.
  2. Xác định một số đặc trưng về kinh tế, xã hội, văn hóa của làng Côi Trì trong sự so sánh, đối chiếu với một số làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ cùng thời kỳ.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể:

  • Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu, phục dựng lại quá trình khai hoang lập làng Côi Đàm vào cuối thế kỷ XV.
  • Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu, phân tích các nét cơ bản về thực trạng và xu hướng biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa làng Côi Trì giai đoạn từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX.
  • Nhiệm vụ 3: Phân tích, so sánh với các làng xã khác cùng thời ở đồng bằng Bắc Bộ để xác định những nét đặc thù của làng Côi Trì.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hình thành, tình hình và xu hướng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa làng Côi Trì từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX.
  • Phạm vi không gian: Làng Côi Trì trong lịch sử, tương ứng với địa bàn xã Côi Trì, tổng Yên Mô, huyện Yên Mô (nay là thôn Côi Trì, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình).
  • Phạm vi thời gian: Từ khi thành lập vào cuối thế kỷ XV (mốc niên hiệu Hồng Đức nguyên niên - 1470 và sự kiện đắp đê Hồng Đức năm 1472) đến giữa thế kỷ XIX (thời điểm trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào công cuộc khẩn hoang thành lập làng; chế độ sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp; cơ cấu tổ chức quản lý, phân tầng dân cư, các thiết chế tự quản (giáp, dòng họ, hội tư văn, hội tư võ, lão hội); tín ngưỡng, tôn giáo (đình, chùa, thờ tổ tiên), phong tục tập quán và truyền thống giáo dục, khoa cử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu chung về làng xã Việt Nam:
    • Học giả nước ngoài: Các ghi chép sơ kỳ của J.B. Tavernier (1675/2005), D. William (1688/2011); khảo cứu thời thuộc địa của P. Ory (La Commune Annamite au Tonkin, 1894), Y. Henry (L’Economie Agricole de l’Indochine, 1932), P. Bernard (Le problème economique Indochinois, 1934), P. Gourou (Les paysans du Delta Tonkinois, 1936). Giai đoạn sau năm 1945 có G.C. Hickey (Village in Vietnam, 1964), J.C. Scott (The Moral Economy of the Peasant, 1976), S.L. Popkin (The Rational Peasant, 1979), P. Brocheux (1983), Insun Yu (Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII, 1994), J. Kleinen (Facing the Future, Reviving the Past, 2013), U. Shinya (2011, 2012, 2013). Các chương trình hợp tác quốc tế gồm Chương trình Việt - Pháp về 4 làng châu thổ sông Hồng (P. Papin và O. Tessier chủ biên) và Chương trình Việt - Nhật nghiên cứu làng Bách Cốc (1993–2013).
    • Học giả trong nước: Giai đoạn trước 1945 có Phan Kế Bính (1915), Vũ Văn Hiền (1939), Nguyễn Văn Huyên (1939, 1941, 1944), Qua Ninh và Vân Đình (1937). Sau năm 1945 có Vũ Quốc Thúc (1951), Toan Ánh (1968), Nguyễn Hồng Phong (1959), Phan Huy Lê (1959), Viện Sử học (1977, 1978), Trần Từ (1984). Giai đoạn từ 1986 có Hà Văn Tấn (1987), Diệp Đình Hoa (1990), Phan Đại Doãn (1992, 2004), Trương Hữu Quýnh (1982, 1983), Vũ Huy Phúc (1979), Bùi Xuân Đính (1998), Nguyễn Quang Ngọc (2006, 2009), Vũ Duy Mền (2010), Đào Tố Uyên (1990, 1993, 2009). Các chuyên khảo nghiên cứu trường hợp tiêu biểu gồm làng Dục Tú (Nguyễn Hải Kế), làng buôn Đa Ngưu, Phù Lưu (Nguyễn Quang Ngọc), làng Lưu Phương (Nguyễn Hồng Dương), làng Cự Đà (Huỳnh Phương Lan), huyện La Sơn (Lê Hiến Chương), làng Hoằng Lộc (Mai Phương Ngọc), làng Vân (Ngô Văn Cường).
  2. Nghiên cứu về Ninh Bình và làng Côi Trì:
    • Tác phẩm nước ngoài: Merlo (Notice sur la province de Ninh-Binh, 1929), Yao Takao (bài giảng năm 2011 về chế độ đồn điền và phép chiếm xạ ở Côi Trì).
    • Thư tịch cổ và địa chí trong nước: Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút), Nguyễn Tử Mẫn (Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện), Phạm Đình Nhân (Danh nhân Ninh Bình, 2000), Trương Đình Tưởng (Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình), Tỉnh ủy Ninh Bình - Viện KHXHVN (Địa chí Ninh Bình, 2010), Trần Đình Hồng (Địa chí văn hóa dân gian xã Yên Mạc, 2011), Lê Văn Dậu (2000).
    • Tài liệu trực tiếp về Côi Trì: Ninh Tốn (Ninh thị khảo đính), Nguyễn Đình Tuyên (Côi Trì lịch sử giải âm, 1911), Hoàng Lê (Thơ văn Ninh Tốn, 1984), Phan Đại Doãn và Vũ Văn Quân (bài báo tạp chí năm 1999 về công cuộc khẩn hoang Côi Trì), Lê Văn Tấn (2015), và Luận văn Thạc sĩ của Đinh Văn Viễn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây về Côi Trì mới chỉ dừng lại ở từng lát cắt ngắn hạn (chủ yếu là công cuộc khẩn hoang thế kỷ XV hoặc một số nhân vật lịch sử như Ninh Tốn, Tạ Uyên) mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, phục dựng đầy đủ tiến trình lịch sử, sự phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa từ khi lập làng đến giữa thế kỷ XIX. Đồng thời, luận án đặt mục tiêu đính chính các nhầm lẫn về niên đại, địa danh, dòng họ đã tồn tại trong các tài liệu địa chí trước đó.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

Luận án vận dụng phép biện chứng duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng phương pháp luận để nghiên cứu sự hình thành, phát triển và biến đổi của làng Côi Trì trong mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế, thể chế chính trị và văn hóa - xã hội. Làng được tiếp cận như một tiểu hệ thống kinh tế - xã hội nằm trong tổng thể cấu trúc xã hội truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp lịch sử và logic: Sử dụng để tái hiện quá trình hình thành, biến đổi của làng Côi Trì theo tiến trình thời gian tuyến tính, đồng thời rút ra các quy luật, đặc điểm bản chất của thiết chế làng xã.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Tiếp cận làng Côi Trì như một chỉnh thể gồm ba phân hệ gắn kết chặt chẽ: kinh tế (nông nghiệp, thủ công, thương nghiệp), xã hội (tổ chức hành chính, cơ cấu dân cư, dòng họ, giáp, hội) và văn hóa (tín ngưỡng, Phật giáo, phong tục, giáo dục khoa cử); đồng thời đặt Côi Trì trong hệ thống so sánh với các làng xã khác thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và đồng bằng Bắc Bộ.
  • Phương pháp liên ngành và kỹ thuật thực địa: Kết hợp phương pháp nghiên cứu văn bản học Hán Nôm (sưu tầm, sao lục, dập thác bản, dịch thuật và đối chiếu văn bản) với phương pháp điền dã dân tộc học/lịch sử (khảo sát thực địa, phỏng vấn nhân chứng cao tuổi, đo vẽ và chụp ảnh di tích kiến trúc, văn bia, chuông khánh).
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng thống kê mô tả để phân loại, định lượng dữ liệu từ địa bạ, đinh bạ, bảng ngạch khoa cử và phân bố sở hữu ruộng đất.

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án

Luận án khai thác hệ thống tư liệu đa dạng, bao gồm:

  1. Thư tịch cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí (Tập 3), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đồng Khánh địa dư chí, Quốc triều hương khoa lục (Cao Xuân Dục).
  2. Địa bạ, Đinh bạ và Hương ước:
    • Côi Trì xã địa bạ lập năm Minh Mạng thứ 13 (1832), gồm 306 tờ chữ Hán (ký hiệu Q3939 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I).
    • Côi Trì thông lệ lập năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), gồm 146 trang chữ Hán - Nôm với 209 điều lệ (ký hiệu AF-a4/48 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
    • Côi Trì Đinh bạ năm 1669 (8 tờ) và năm 1722 (9 tờ) được sao chép trong sách Ninh thị khảo đính.
  3. Văn bia và chuông khánh (14 văn bia và cụm bia): Côi Trì Bút thị bi ký (1761), Côi Trì Lão hội bi ký (1765), Côi Trì bi ký (1769), Hoàng Giáp công từ bi ký (1780), Hoàng giáp công bản truyền (1780), Lịch đại tiên hiền biên thứ (1780), Dã Hiên tiên sinh mộ biểu (1781), Bia Vũ vu thiển thuyết (1781), cụm bia ma nhai Vũ Vu (1781), bia ma nhai Chuyết sơn thi tự (1781), Côi Trì Võ hội bi ký (1797), Tạ tộc đại tôn bi ký (1883), Tạ tộc thứ chi bi ký, Yên Mô sơn xuyên nhân vật bi kí (1873), Thọ Thái xã bi ký (1928), Văn bia đắp đê Yên Mô (1472). Chuông đồng chùa Ninh Thái (Côi Trì xã Ninh Thái tự hồng chung bi ký, 1775) và khánh đồng chùa An Thái (Côi Trì xã An Thái tự khánh, 1846).
  4. Gia phả, sắc phong và thần tích: Gia phả 7 dòng họ (họ Ngô lập 1859, họ Nguyễn xóm Trung Hậu Bắc lập 1931, họ Nguyễn xóm Cự Phú, họ Tạ lập 1945, họ Phạm, họ Hoàng, họ Ninh); 11 đạo sắc phong gốc cho các nhân vật lịch sử (Ninh Địch, Ninh Tốn); 2 tập hồ sơ Thần tích - thần sắc (ký hiệu TTTS016397 của Côi Trì và TTTS016383 của Thọ Thái tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội).
  5. Tư liệu vật chất và truyền miệng: Hòn đá chiếm xạ (kích thước 50 cm x 60 cm mang dấu tích 89 vết dao chém thề); tác phẩm diễn ca lịch sử dân gian Hương sử (247 câu thơ lục bát) và các truyền thuyết địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu vấn đề

Chương này tập trung thống kê, phân loại và đánh giá giá trị khoa học của các nhóm nguồn tư liệu phục vụ đề tài, đồng thời điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về làng xã Việt Nam truyền thống nói chung, vùng đất Ninh Bình và làng Côi Trì nói riêng. Tác giả chỉ ra các điểm thành công của các công trình đi trước, đồng thời xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ và những sai sót tư liệu cần được khảo chứng lại trong các chương sau.

Chương 2: Quá trình hình thành làng Côi Đàm

Nội dung chương 2 tập trung phân tích bối cảnh tự nhiên, chính sách nhà nước và diễn trình khẩn hoang lập làng:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Làng Côi Trì nằm ở phía Đông Nam huyện Yên Mô, diện tích cư trú và canh tác ổn định khoảng 1,5 km² (chiều dài Bắc - Nam 1,5 km, chiều rộng Đông - Tây 1 km), gồm ba thôn cư trú: Côi Đàm, Mỹ Côi, Thọ Thái. Địa bàn là vùng trũng ngập nước dạng "ao" bồi tụ ven biển kẹt giữa các dải cồn đất cao, đất có độ chua mặn cao (độ pH từ 4,5 đến 5,5), chịu quá trình gờ-lây hóa. Làng được bao bọc bởi hệ thống sông Thần Phù (dòng chảy cổ qua xóm Tân Thứ có chiều rộng 60 m), sông Trinh Nữ, sông Bút và sông Trà Tu; tiếp giáp tuyến đê Hồng Đức (trục đường 480B).
  • Chủ trương khai hoang thời Lê sơ: Sau kháng chiến chống Minh, triều đình nhà Lê ban hành các chính sách đồn điền, ruộng thông cáo và đặc biệt là phép chiếm xạ dưới triều vua Lê Thánh Tông (Hồng Đức) nhằm huy động sức dân khẩn hoang vùng ven biển, bãi bồi. Theo quy định chiếm xạ, người dân được phép xin khai phá đất hoang; sau khi thành ruộng, một nửa diện tích được công nhận là ruộng tư vĩnh nghiệp (chịu thuế nhẹ và truyền cho con cháu), một nửa làm ruộng công của làng nhưng không áp dụng lệ quân cấp định kỳ mà giao cho các dòng họ cày cấy, đóng thuế tiền.
  • Công cuộc khai hoang lập làng Côi Đàm: Diễn ra tại bãi bồi giữa sông Thần Phù và sông Càn (xứ Côi Khê, Cửa Phan). Thời điểm bắt đầu khai khẩn được xác định vào tháng 8 năm Hồng Đức nguyên niên (1470) và mở rộng mạnh mẽ sau sự kiện đắp đê Hồng Đức ngăn mặn qua Yên Mô năm 1472.

Lực lượng ban đầu gồm 89 người (gọi là 89 "quan chiếm xạ"). Phân bố quê quán và cơ cấu thành phần xuất thân của lực lượng khai hoang được tổng hợp trong các bảng sau:

STT Huyện quê gốc (thời Lê sơ) Địa bàn tương ứng hiện nay Số lượng người Các xã cụ thể ghi nhận trong tài liệu
1 Huyện Đại An Nghĩa Hưng, Nam Định 40 Quỹ Thượng, Quỹ Hạ, Phúc Long, Cổ Liêu, Đông Cao, Chân Mỹ
2 Huyện Vọng Doanh Ý Yên, Nam Định 36 Ninh Xá, Bộc Cô
3 Huyện Nam Chân Trực Ninh, Nam Định 9 Khang Cù
4 Huyện Yên Mô Yên Mô, Ninh Bình 4 Trinh Nữ, Nộn Khê
Tổng 4 huyện Ninh Bình & Nam Định 89 11 làng xã
Nhóm thành phần xuất thân Số lượng Nhân vật tiêu biểu / Ghi chú
Quan lại, địa chủ giàu có (chủ xướng) 3 Ngô Công Lược (Cẩm y vệ), Nguyễn Điểm, Phạm Nhân Lão
Trí thức nho học (thầy đồ) 1 Ninh Doãn Trung
Binh lính 3 Tạ Lỗi, Nguyễn Đại, Ngô Liệt
Nông dân nghèo, phiêu tán 82 Lực lượng lao động trực tiếp khai phá, thau chua rửa mặn
Tổng cộng 89 Tập hợp thành cộng đồng khai hoang Côi Đàm

Chương 3: Kinh tế làng Côi Trì

Chương 3 tái hiện bức tranh kinh tế làng xã thông qua việc xử lý số liệu địa bạ và hương ước:

  • Tình hình ruộng đất và chế độ sở hữu: Theo tư liệu Côi Trì xã địa bạ (1832), tổng diện tích ruộng đất của làng là 1061 mẫu, 2 thước, 6 tấc, 7 phân, 4 ly (viết tắt trong văn bản là 1061.04). Do đặc thù hình thành từ phép chiếm xạ, cơ cấu ruộng đất tại Côi Trì có sự đan xen đặc biệt giữa ruộng công và ruộng tư:
    • Ruộng công: Được phân bổ tại các xứ đồng, chia thành nhiều hạng; ruộng công tại đây là ruộng vĩnh nghiệp do các họ khai khẩn truyền lại, không áp dụng tục chia đều (quân cấp) như nhiều làng xã đồng bằng Bắc Bộ mà đóng thuế bằng tiền.
    • Ruộng tư: Chiếm tỷ lệ đáng kể, thuộc quyền sở hữu của các dòng họ lớn (Ninh, Ngô, Nguyễn, Tạ, Phạm, Hoàng), các tầng lớp chức dịch, người có học vị khoa bảng và cả phụ nữ (được ghi nhận danh tính chủ sở hữu trong địa bạ). Luận án cũng thống kê diện tích ruộng xâm canh giữa Côi Trì với các xã lân cận và các loại ruộng họ (tộc điền).
  • Sản xuất nông nghiệp: Cơ cấu mùa vụ gồm ruộng chiêm và ruộng mùa; việc canh tác gắn liền với công tác trị thủy, đắp đê ngăn mặn, thau chua rửa mặn và bảo vệ mùa màng (được quy định nghiêm ngặt qua các điều lệ trong Côi Trì thông lệ).
  • Thủ công nghiệp và thương nghiệp: Các nghề thủ công phục vụ đời sống nông nghiệp tại chỗ; hoạt động thương nghiệp có bước phát triển nổi bật với sự kiện lập chợ Bút (Bút Thị) năm 1755 do Ninh Ngạn khởi xướng trên khu đất giáp ranh giữa làng Côi Trì và làng Yên Mô Thượng (được khắc ghi trong văn bia Côi Trì Bút thị bi ký năm 1761), tạo điều kiện giao thương đường sông và đường bộ trong vùng.

Chương 4: Đời sống xã hội, văn hóa làng Côi Trì

Chương 4 khảo sát các thiết chế xã hội và đời sống tinh thần của cộng đồng làng:

  • Tổ chức quản lý và kết cấu dân cư: Bộ máy chức dịch làng xã qua hai giai đoạn (trước thế kỷ XIX và trong thế kỷ XIX). Biến động dân cư được khảo sát qua hai mốc đinh bạ: Đinh bạ năm 1669 và Đinh bạ năm 1722 (sao lục trong Ninh thị khảo đính), phản ánh số lượng đinh nam, các bậc phẩm trật, chức tước và danh tính xã trưởng.
  • Các hình thức tổ chức và tập hợp dân cư:
    • Tổ chức giáp: Phân chia dân cư theo lớp tuổi và khu vực cư trú.
    • Tổ chức dòng họ: Mạng lưới các dòng họ đa đinh, có nhà thờ họ và ruộng họ riêng.
    • Các tổ chức hội: Hội Tư văn (tập hợp người có học vấn, sinh hoạt tại Đình Tây theo bia Lịch đại tiên hiền biên thứ 1780); Hội Tư võ (tổ chức của những người theo nghiệp võ, sở hữu ruộng đất và hội ước riêng ghi trên bia Côi Trì Võ hội bi ký 1797); Lão hội (tổ chức người cao tuổi, đặt lệ dưỡng lão từ năm 1764-1765 ghi trên bia Côi Trì Lão hội bi ký 1765).
  • Tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục: Hệ thống thiết chế văn hóa gồm Đình Tây (thờ Thành hoàng làng và bảo lưu hòn Đá chiếm xạ), Chùa An Thái và Chùa Ninh Thái (sinh hoạt Phật giáo gắn với minh chuông năm 1775 và khánh đồng năm 1846), nhà thờ các dòng họ. Phong tục làng xã gồm tục nạp cheo, lệ tuần phòng, tế tự và các quy ước ứng xử cộng đồng ghi chép trong 209 điều của Côi Trì thông lệ (1783).
  • Giáo dục và khoa cử: Côi Trì là trung tâm học vấn tiêu biểu của huyện Yên Mô và tỉnh Ninh Bình thời trung đại. Luận án thống kê các danh nhân khoa bảng tiêu biểu như: Hoàng giáp Ninh Địch, Danh nhân Ninh Tốn (thế kỷ XVIII), Phó bảng Nguyễn Đình Tuyên (tác giả Côi Trì lịch sử giải âm, Án sát Hải Dương), cùng các Cử nhân/Hương cống triều Nguyễn ghi trong Quốc triều hương khoa lục như Nguyễn Ái, Nguyễn Khôi, Nguyễn Đình Chuyên, Ninh Tuyên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và thực tiễn

  1. Nghiên cứu toàn diện tiến trình lịch sử một làng khai hoang ven biển: Lần đầu tiên quá trình hình thành, phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Côi Trì từ cuối thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX được phục dựng có hệ thống trên cơ sở khai thác tối đa nguồn tư liệu Hán Nôm địa phương (địa bạ, đinh bạ, hương ước, gia phả, 14 văn bia và chuông khánh).
  2. Làm rõ đặc trưng mô hình làng chiếm xạ: Luận án làm sáng tỏ tính chất đặc thù của một làng xã Bắc Bộ được lập nên từ chính sách khẩn hoang "chiếm xạ" thời Lê sơ: không thực hiện chế độ chia đều ruộng công (quân cấp) theo định kỳ mà duy trì sở hữu ruộng vĩnh nghiệp phân theo dòng họ nộp thuế tiền; đồng thời chỉ ra sự đa dạng trong cơ cấu tổ chức xã hội (sự tồn tại song song của Hội Tư văn, Hội Tư võ, Lão hội) và thành tựu khoa bảng nổi bật.
  3. Đính chính các sai sót trong các công trình lịch sử trước đây:
    • Đính chính ghi chép của Đại Nam nhất thống chí (Tập 3) khi ghi sai thời điểm và vị trí đắp đê Hồng Đức qua địa bàn Côi Trì, Yên Mô.
    • Đính chính nhận định của cuốn sách Thơ văn Ninh Tốn (1984) và một số tài liệu khác khi cho rằng quê gốc của họ Ninh ở Côi Trì là từ Vọng Doanh - Hải Dương (chứng minh chính xác là từ làng Ninh Xá, huyện Vọng Doanh, phủ Nghĩa Hưng, nay thuộc tỉnh Nam Định).
    • Đính chính ghi chép của Đồng Khánh địa dư chí cho rằng "xã Côi Trì trước đời Tự Đức là xã Thiên Trì, đổi tên từ năm Tự Đức thứ 14 (1861)" (chứng minh tên Côi Trì đã có từ thời trung đại, đổi từ Côi Đàm).
    • Đính chính ghi chép của cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Yên Mỹ về thời điểm đổi tên làng Côi Trì là năm 1473.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án đề xuất việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu lịch sử - văn hóa làng xã vào công tác quản lý thực tiễn:

  • Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đặc biệt là gắn kết với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa vật thể (Đình Tây, chùa An Thái, hòn Đá chiếm xạ, hệ thống văn bia cổ) và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể (truyền thống hiếu học, khuyến học của các dòng họ, tinh thần đoàn kết cộng đồng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu thành văn của làng Côi Trì phân bố không đồng đều qua các thế kỷ; các nguồn văn bản chi tiết (địa bạ, hương ước, văn bia) tập trung dày đặc ở giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, trong khi tư liệu thành văn của giai đoạn thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII còn hạn chế, chủ yếu dựa vào gia phả và hồi ức truyền miệng đã được điển chế hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu làng Côi Trì trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo (từ nửa sau thế kỷ XIX qua thời kỳ Pháp thuộc đến thời kỳ hiện đại); so sánh chuyên sâu mô hình làng chiếm xạ Côi Trì với các làng khai hoang cùng thời kỳ ở vùng ven biển Nam Định, Quảng Ninh và Thanh Hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Hán Nôm học: Cung cấp phương pháp tiếp cận nghiên cứu trường hợp (micro-history/case study) về làng xã truyền thống; quy trình sưu tầm, dập dịch và xử lý các nguồn tư liệu Hán Nôm làng xã (địa bạ, đinh bạ, hương ước, văn bia, sắc phong, gia phả).
  • Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tàng, giáo viên tại tỉnh Ninh Bình và huyện Yên Mô: Làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu địa chí, giảng dạy lịch sử địa phương trong trường phổ thông, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa.
  • Các nhà hoạch định chính sách nông thôn: Cung cấp bài học kinh nghiệm lịch sử về trị thủy, khai hoang lấn biển, tổ chức cộng đồng tự quản và quản lý tài nguyên đất đai.

Câu hỏi thường gặp

1. Phép chiếm xạ thời Lê sơ quy định việc phân chia và quản lý ruộng đất như thế nào tại làng Côi Trì?

Theo văn bia Côi Trì bi ký (1769) và tư liệu của luận án, phép chiếm xạ cho phép người không có ruộng hoặc ít ruộng ở các địa phương khác tự tìm đất hoang xin khai khẩn. Sau khi thành ruộng, một nửa diện tích được báo cáo để chuyển thành ruộng tư vĩnh nghiệp chịu thuế nhẹ truyền cho con cháu, một nửa chuyển thành ruộng công của làng. Điểm đặc thù tại Côi Trì là ruộng công không áp dụng lệ quân cấp định kỳ như thông thường mà được giao cho con cháu các tổ tiên chiếm xạ tiếp tục cày cấy, đóng thuế bằng tiền và được phép mua bán quyền canh tác.

2. Lực lượng ban đầu tham gia khai hoang lập làng Côi Đàm gồm bao nhiêu người và có cơ cấu ra sao?

Lực lượng ban đầu gồm 89 người (gọi là 89 "quan chiếm xạ") đến từ 11 làng xã thuộc 4 huyện: Đại An (40 người), Vọng Doanh (36 người), Nam Chân (9 người) thuộc Nam Định ngày nay và Yên Mô (4 người) tại Ninh Bình. Về thành phần: 3 người giàu có đứng ra chủ xướng (Ngô Công Lược giữ chức Cẩm y vệ, Nguyễn Điểm, Phạm Nhân Lão), 1 thầy đồ (Ninh Doãn Trung), 3 binh lính (Tạ Lỗi, Nguyễn Đại, Ngô Liệt) và 82 nông dân nghèo.

3. Nguồn tư liệu Hán Nôm địa phương chủ yếu mà tác giả đã sử dụng gồm những gì?

Tác giả đã trực tiếp khai thác: tập Côi Trì xã địa bạ năm 1832 (306 tờ), bản hương ước Côi Trì thông lệ năm 1783 (146 trang, 209 điều lệ), 2 bản đinh bạ năm 1669 và năm 1722 trong sách Ninh thị khảo đính, gia phả của 7 dòng họ lớn, 11 đạo sắc phong gốc, 14 văn bia và cụm bia ma nhai (như bia Bút thị bi ký 1761, Lão hội bi ký 1765, Côi Trì bi ký 1769, Võ hội bi ký 1797), cùng bài minh trên chuông đồng (1775) và khánh đồng (1846).

4. Luận án đã đính chính những sai sót lịch sử cụ thể nào trong các tài liệu trước đây?

Luận án đính chính 4 sai sót chính:

  • Sai sót của Đại Nam nhất thống chí về thời điểm và vị trí đắp đê Hồng Đức tại Yên Mô.
  • Sai sót của sách Thơ văn Ninh Tốn khi ghi quê gốc họ Ninh ở Côi Trì là Vọng Doanh - Hải Dương (đúng là Vọng Doanh - Nam Định).
  • Sai sót của Đồng Khánh địa dư chí khi cho rằng Côi Trì trước thời Tự Đức có tên là Thiên Trì và đổi tên năm 1861.
  • Sai sót của cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Yên Mỹ khi xác định thời điểm đổi tên làng Côi Trì là năm 1473.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đinh Văn Viễn là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng bức tranh toàn diện về làng Côi Trì từ khi thành lập vào cuối thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX. Tác phẩm đã xử lý khối lượng tư liệu Hán Nôm địa phương phong phú nhằm làm sáng tỏ mô hình phát triển đặc thù của một làng khai hoang theo phép chiếm xạ thời Lê sơ trên các phương diện sở hữu ruộng đất, tổ chức xã hội và truyền thống khoa cử. Những kết quả nghiên cứu và việc đính chính các tư liệu lịch sử trong luận án đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy cho nghiên cứu làng xã truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng.