Phần mở đầu (cho biết đơn vị hành chính, người lập, 1 : http://honinh.vn/bvct/donghoninh-dong-ho-ninh-la-xuyen-cham-khac-go/55/gia-pha-ho-ninh-tai-coi-tri.html 2 : Xem thêm Phụ lục 4: Côi Trì xã địa bạ (trích, chữ Hán) và Phụ lục 5: Côi Trì xã địa bạ (bản dịch) 10 lý do lập địa bạ), phần nội dung chính (nêu tổng số ruộng đất, liệt kê từng loại ruộng đất của Côi Trì), phần thứ ba (thông tin về niên đại hoàn thành, chữ ký của chức sắc, dấu triện của các cơ quan quản lý). Đây là nguồn tư liệu giá trị giúp cho việc khôi phục nhiều vấn đề về Côi Trì giai đoạn thế kỷ XIX. Về Hương ước Hương ước ở Côi Trì với tên gọi Côi Trì thông lệ3 (瑰 池 通 例) [171], hiện được lưu giữ tại Viện Hán Nôm (ký hiệu AF–a4/48). Bản hương ước gồm 146 trang, khổ 32 x 22, được viết bằng chữ Hán, lẫn chữ Nôm.
Côi Trì thông lệ có 209 lệ, lập ngày 26 tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), đề cập đến nhiều mặt như: lệ ở công đình, lệ giới cấm, lệ bảo vệ mùa màng, lệ lễ tiết, lệ tuần phòng, lệ dưỡng lão (lần đầu đặt lệ là năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764), được bổ sung nhiều lần vào các năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773),.), lệ nạp cheo,. Cuối bản Côi Trì thông lệ còn ghi họ tên, học vị, chức tước của những người tham gia soạn thảo,… Côi Trì thông lệ cung cấp nhiều thông tin giá trị về Côi Trì nhất là văn hóa, phong tục,… truyền thống, nhất là giai đoạn thế kỷ XVIII. Về Đinh bạ Chúng tôi sưu tầm được hai bản đinh bạ của làng Côi Trì năm 1669 và 1722. Cả hai bản Côi Trì Đinh bạ (瑰 池 丁簿) (1669) [169] và Côi Trì Đinh bạ (瑰 池 丁 簿) (1722) [170] đều được sao chép trong quyển Ninh thị khảo đính.
Phần Côi Trì Đinh bạ (1669) được chép trong 8 tờ, phần chép Côi Trì Đinh bạ (1722) chép trong 9 tờ. Mỗi tên người đều đánh dấu khuyên tròn, bằng son đỏ. Hai bản đinh bạ ghi chép số lượng đinh nam, học vị, chức tước của những người đỗ đạt, tên xã trưởng, tên những đinh nam của Côi Trì ở hai thời điểm (năm 1669 và năm 1722). Về văn bia ở Côi Trì: Tác giả sưu tầm được 14 bia ở Côi Trì và tác giả là người Côi Trì, trong đó có cả cụm bia ma nhai (số lượng bia sẽ lớn hơn).
3 : Xem thêm Phụ lục 8: Côi Trì thông lệ (trích, chữ Hán) và Phụ lục 9: Côi Trì thông lệ (bản dịch) 11 Bia Côi Trì Bút thị bi ký4 (Cảnh Hưng thứ 22 (1761)) [173] hiện nay dựng trong khuôn viên đền Bút Thị (làng Côi Trì, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Bia có kích thước 59 cm x 118 cm. Trán bia hình nửa ô van cao 37 cm, chạm rồng chầu mặt trời. Diềm bia chạm hoa dây.
Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, gồm 23 dòng, khoảng 500 chữ. Tên bia khắc kiểu chữ triện. Bia bị gãy ngang, đã được gắn lại, bị mất một số chữ. Tác giả luận án đã so sánh với một số nội dung trong quyển Ninh thị khảo đính thì văn bia đã được chép lại trong sách này nên đã khôi phục được đầy đủ nội dung của văn bia.
Bia ghi việc năm 1755, dân xã Côi Trì và làng Yên Mô Thượng chôn cột đá phân ranh giới. Sau đó Ninh Ngạn, người Côi Trì dùng nơi giáp ranh lập chợ, … Văn bia Côi Trì Lão hội bi ký (Cảnh Hưng thứ 25 (1765)) [174] hiện dựng tại Đình Tây, làng Côi Trì. Bia hai mặt, cao 155 cm, rộng 100 cm. (Mặt 1: Côi Trì lão hội bi ký.
Mặt 2: Bản xã viên nhân tiến cúng) Trán bia hình nửa ô van cao 35 cm, chạm rồng chầu mặt trời. Bia ghi danh sách hội viên làng lão Côi Trì, Hội ước của Lão hội làng Côi Trì. Văn bia Côi Trì bi ký5 (Cảnh Hưng thứ 30 (1769)) [172] hiện không còn nhưng bản dập, của Bia (kí hiệu 9531, 9532) hiện ở Thư viện, Viện Hán Nôm. Bia 2 mặt, đều khổ 58x104 cm.
Mặt 1 (kí hiệu 9531) của bia có trán hình bán nguyệt, chạm mây, mặt trời, lồng chữ Thọ. Lòng bia gồm 20 dòng, khoảng gần 1000 chữ Hán, xen lẫn chữ Nôm, ghi Chiếm xạ tiên tổ tính tự, họ tên, thời điểm đến của 89 quan chiếm xạ, danh sách những người đóng góp tiền để khắc bia. Mặt 2 (kí hiệu 9532) của bia có trán hình bán nguyệt, chạm mây, mặt trời. Phần tên bia được chạm to, rõ ràng, gồm 4 chữ: Côi Trì bi ký.
Ở hai bên của tên bia ghi hai chữ niên đại: Kỷ Sửu. Diềm bia chạm hoa văn ô trám. Toàn văn chữ Hán, xen lẫn chữ Nôm, khắc chân phương, gồm 18 dòng, khoảng 900 chữ, ghi sự tích chiếm xạ, khai hoang lập làng Côi Trì, một số tục lệ của Côi Trì. Ở cả hai mặt có một số chữ bị mờ.
Nhưng qua nghiên cứu bản ghi chép trong Ninh thị khảo đính 4 : Xem thêm Phụ lục 13: Côi Trì lão hội bi ký và Hình 11 (Ảnh Bia Côi Trì lão hội bi), Phụ lục 26 5 : Xem thêm Phụ lục 12: Côi Trì bi ký 12 thì thấy nội dung bia đã được chép lại trong cuốn sách này. Vì vậy, bằng các thao tác so sánh, đối chiếu, nghiên cứu sinh xác định được các chữ bị mờ, phục hồi được toàn bộ văn bia. Văn bia Hoàng Giáp công từ bi ký6 (Cảnh Hưng thứ 41(1780)) [187], hiện dựng tại nhà thờ họ Ninh ở Côi Trì. Bia cao 110 cm, rộng 70 cm.
Trán bia hình nửa ô van cao 30 cm, hoa văn lá, dây. Nội dung bia ghi lại tiểu sử, sự nghiệp của Hoàng giáp Ninh Địch, người Côi Trì. Văn bia Hoàng giáp công bản truyền7 (Cảnh Hưng thứ 41 (1780)) [186] hiện dựng tại nhà thờ họ Ninh ở Côi Trì. Bia cao 110 cm, rộng 70 cm.
Trán bia hình nửa ô van cao 30 cm. Nội dung bia ghi lại sự nghiệp, công trạng của Hoàng giáp Ninh Địch, người Côi Trì. Văn bia Lịch đại tiên hiền biên thứ8 (Cảnh Hưng thứ 41 (1780)) [189] hiện dựng tại Đình Tây, làng Côi Trì. Bia cao 160 cm, rộng 108 cm.
Trán bia hình nửa ô van, cao 0,30 cm, chạm rồng chầu mặt trời. Chân bia bậc tam cấp, dài 150 cm, rộng 65cm. Bia ghi danh sách hội viên hội Tư văn, danh sách người và số ruộng cúng cho hội Tư văn Côi Trì. Văn bia Dã Hiên tiên sinh mộ biểu9 (Cảnh Hưng thứ 42 (1781)) [177] hiện dựng tại nhà thờ họ Ninh.
Bia hai mặt, cao 160 cm rộng 100 cm. Chạm rồng chầu mặt nguyệt. Toàn văn chữ Hán, gồm 26 dòng, khoảng 900 chữ. Bia ghi hành trạng của Ninh Ngạn (1715-1781).
Ông học giỏi, đỗ Hương cống, làm Hiến sát phó sứ. Về ở ẩn làm sách Vũ vu thiển thuyết, Phong vịnh tập. Ông có công mở chợ Bút, vạch rõ cương giới làng xã, đặt lệ dưỡng lão,. Văn bia Vũ vu thiển thuyết10 (Cảnh Hưng thứ 42 (1781)) [201] dựng tại nhà thờ họ Ninh làng Côi Trì.
Bia hai mặt khổ 120 x 160 cm. Chạm rồng chầu mặt trời. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương gồm 31 dòng, khoảng 3000 chữ. Trán bia 6 : Xem thêm Phụ lục 17: Hoàng giáp công từ bi ký 7 : Xem thêm Phụ lục 18: Hoàng giáp công bản truyền 8 : Xem thêm Hình 12 (ảnh bia Lịch đại tiên hiền biên thứ), Phụ lục 26 9 : Xem thêm Phụ lục 11: Bia Dã Hiên tiên sinh mộ biểu 10 : Xem thêm Phụ lục 10: Bia Vũ vu thiển thuyết 13 mặt 1 có thêm chữ Thượng, mặt 2 có thêm chữ Hạ cùng hàng với tên bia.
Bia khắc toàn văn cuốn sách Vũ vu thiển thuyết của Ninh Ngạn. Văn cụm bia ma nhai Vũ Vu11 (Cảnh Hưng thứ 42 (1781)). Bia ở vườn Vải, bãi Vũ Vu, người dân địa phương gọi là Cồn Bia, nay thuộc thôn Đồi Vải Khê Hạ, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, Ninh Bình. Cụm bia gồm 3 bia khắc trên phiến đá lộ đầu.
Phiến đá lộ đầu khá lớn có hình như một trái núi vòng cung thu nhỏ, có chiều dài khoảng hơn 3 mét, chiều rộng gần một mét và chiều cao khoảng 1,3 mét, uốn lượn, bên trong tạo thành một “thung lũng” nhỏ. Khi những bước chân đầu tiên chạm “thung lũng” ta nhìn sang vách đá cửa thung bên trái thấy có 2 chữ Hán “Vũ Vu” có kích thước chữ 20 cm x 20 cm, đó là đầu đề bài thơ. Tiếp đến, ta bước vào trong “thung lũng”, nơi chạm khắc 2 bài thơ ở phía Tây và phía Bắc của “vách núi”. Bia Chữ Hán khắc chìm, rõ ràng.
Bia phía Bắc sau phần lời tựa khắc bên phải, tiếp đến là bài thơ “Kỳ nhất” (Bài thứ nhất). Bia phía Tây khắc bài thơ “Kỳ nhị”. Nội dung bia khắc lời đề tựa bài thơ “Vũ Vu” của Ninh Ngạn làm khi về đây ở ẩn. Văn bia ma nhai Chuyết sơn thi tự (Cảnh Hưng thứ 42 (1781)).
Bia khắc ở núi Chuyết (còn gọi là núi Voi) ở thôn Phượng Trì xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Bia có niên đại năm 1781. Khổ bia 138 cm x 124 cm. Toàn văn chữ Hán, có 31 dòng, khắc chân phương.
Bia không trang trí đường diềm. Dòng đầu tiên khắc đầu đề bài ký, cũng là đầu đề bài thơ “Chuyết Sơn thi tự”, tiếp đó là lời tựa, dòng thứ 3 và thứ 4 khắc nội dung bài thơ, giữa bia là phần ký và cuối dòng thứ 30 và dòng 31 là lạc khoản. Nội dung bia nói về việc Ninh Tốn về núi Chuyết ở ẩn, bài thơ do Ninh Tốn làm. Văn bia Côi Trì Võ hội bi ký12 (Cảnh Thịnh thứ 5 (1797)) [176] hiện dựng tại Đình Tây, làng Côi Trì.
Bia hai mặt (mặt 1: Côi Trì xã Võ hội bi kí. Mặt 2: Dự tịch chư viên phẩm tự). Bia cao 180 cm, rộng 108 cm. Trán bia hình nửa ô van cao 0,30cm, chạm lưỡng long chầu nguyệt.
Chữ tiêu đề bia là loại chữ Triện. Chân bia 11 : Xem thêm Hình 16 (ảnh bia ma nhai Kỳ nhất), Hình 17 (Ảnh bia ma nhai Kỳ nhị), Phụ lục 26 12 : Xem thêm Phụ lục 14: Côi Trì Võ hội bi ký và Hình 10 (Ảnh Côi Trì Võ hội bi ký), Phụ lục 26 14 bậc tam cấp, dài 148 cm, rộng 65cm. Mặt phải bia bị đục mất 08 chữ, mặt trái bị vỡ một mảng 40cm x 33cm. Hai mặt bên hông bia khắc số ruộng, vị trí ruộng của Võ hội.
Bia ghi danh sách hội viên, hội ước của Hội tư võ Côi Trì, danh sách người và số ruộng cúng cho làng võ. Văn bia Tạ tộc đại tôn bi ký13 (1883), hiện đặt ở nhà thờ họ Tạ (chị đệ nhất), làng Côi Trì.