Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, trong đó nông nghiệp giữ vai trò là ngành kinh tế chủ đạo trước thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tuy nhiên, tiến trình phát triển của nông nghiệp ở từng địa phương và vùng miền có những nét khác biệt do sự quy định của các điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử cụ thể. Tại khu vực miền núi và biên viễn như Tây Bắc, đặc điểm tổ chức xã hội và môi trường tự nhiên đặc thù đã tạo nên những dấu ấn riêng biệt trong tình hình ruộng đất, kỹ thuật sản xuất, tập quán canh tác và phương thức trao đổi sản phẩm.

Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc, địa bàn cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng tộc người, trong đó người Thái chiếm đa số. Cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khu vực này chịu sự cai quản trực tiếp của các dòng họ quý tộc Thái thông qua thiết chế "phìa tạo". Mặc dù sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo nuôi sống tuyệt đại đa số cư dân địa phương, các công trình nghiên cứu lịch sử trước đây về kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La còn tương đối mờ nhạt và tản mát. Luận án được thực hiện nhằm phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La qua hai giai đoạn lịch sử (từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1895 và từ năm 1895 đến năm 1945), giải quyết khoảng trống tư liệu, góp phần lý giải nguyên nhân của sự phát triển chậm chạp ở khu vực miền núi, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử cho công tác quản lý đất đai và phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng lại tình hình kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945, đồng thời rút ra những đặc điểm cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp địa phương trong sự đối sánh với không gian chung vùng Tây Bắc và một số địa phương lân cận như Hòa Bình, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những yếu tố tác động tới kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La (từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945) bao gồm: sự thay đổi đơn vị hành chính, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, đời sống xã hội, chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn và chính sách của chính quyền thực dân Pháp.
  2. Phục dựng thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La qua hai giai đoạn: từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1895 (mốc thành lập tỉnh Sơn La) và từ năm 1895 đến năm 1945, trên các phương diện: tình hình ruộng đất, các phân ngành kinh tế (trồng trọt, chăn nuôi), hoạt động trao đổi buôn bán sản phẩm nông nghiệp, cùng các tác động tới đời sống nhân dân và tình hình chính trị - xã hội.
  3. Chỉ ra những biến đổi về kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La giữa hai giai đoạn nghiên cứu; rút ra các đặc điểm đặc thù của kinh tế nông nghiệp địa phương trên cơ sở đặt tỉnh Sơn La trong không gian chung của vùng Tây Bắc và so sánh có chọn lọc với một số địa phương miền núi phía Bắc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945, bao gồm chế độ sở hữu và phân bố ruộng đất, kinh tế trồng trọt, kinh tế chăn nuôi và hoạt động thương mại xuất khẩu nông sản.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sơn La theo các mốc địa giới lịch sử. Thời Gia Long (đầu thế kỷ XIX), Sơn La thuộc trấn Hưng Hóa gồm 6 châu: Thuận, Sơn La, Mộc, Phù Hoa, Mai Sơn, Việt. Thời Minh Mệnh, thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa gồm 6 châu: Phù Yên, Mộc, Thuận, Mai Sơn, Sơn La, Yên. Thời Pháp thuộc, theo Nghị định ngày 10/10/1895, tỉnh Sơn La gồm 12 châu; đến Nghị định ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương tách 5 châu để lập tỉnh Lai Châu và chuyển tổng Nghĩa Lộ về Yên Bái, địa giới Sơn La ổn định với 6 châu: Sơn La (Mường La/thành phố Sơn La ngày nay), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên (bao gồm cả Bắc Yên ngày nay). Đây là không gian nghiên cứu xuyên suốt của đề tài.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1805 (thời điểm triều Nguyễn tiến hành lập địa bạ trên đất Bắc Hà dưới triều vua Gia Long) đến năm 1945 (thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hai ngành sản xuất truyền thống cốt lõi là trồng trọt và chăn nuôi. Các hoạt động khai thác lâm sản và đánh bắt thủy sản chỉ được xem xét như sinh kế bổ sung do nguồn tư liệu ghi chép lịch sử không đủ hệ thống để đánh giá độc lập.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm lớn:

1. Nhóm nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945

  • Thời kỳ phong kiến:
    • Công trình Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (thế kỷ XV) của Phan Huy Lê (1959) đặt nền móng phương pháp luận cho việc nghiên cứu ruộng đất truyền thống.
    • Tác phẩm Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Kiến Giang (1959) phân tích quyền chiếm hữu ruộng đất tại các vùng tồn tại chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo.
    • Chuyên khảo Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Huy Phúc (1979) và Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn do Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang chủ biên (1997) hệ thống hóa chính sách ruộng đất, biểu ngạch tô thuế và thống kê địa bạ năm Gia Long 4 (1805) trên phạm vi cả nước.
    • Các luận án nghiên cứu địa phương của Bùi Quý Lộ (1987), Đào Tố Uyên (1995), Bùi Việt Hùng (1999), Trịnh Thị Thủy (2002), Thái Quang Trung (2009), Đàm Thị Uyên (2000), Lê Hiến Chương (2013), Nguyễn Thành Lương (2016) cung cấp mô hình đối sánh với các vùng đồng bằng và trung du.
  • Thời kỳ Pháp thuộc:
    • Các học giả Pháp: Albert Boudillon (1915, 1927) và P. de Feyssal (1931) nghiên cứu chế độ đất nhượng và cải cách ruộng đất tại Đông Dương; E. Rény (1931) khảo cứu địa bạ; Pierre Aquarone (1936) nghiên cứu an ninh bất động sản; Pierre Gourou (1940) phân tích hiện trạng sử dụng đất; Constantin (1918) và Pétayvin (1916) khảo cứu thủy lợi và lũ lụt; Henri Yves (1932) trong Économie Agricole de l'Indochine đưa ra các chỉ số thống kê về dân số, diện tích và ruộng đất tỉnh Sơn La; Charles Robequin (1939), André Hibon (1934) và André Touzet (1934) phân tích cấu trúc kinh tế và khủng hoảng nông nghiệp Đông Dương.
    • Các học giả trong nước: Tạ Thị Thúy (1996, 2001) nghiên cứu đồn điền và việc nhượng đất khẩn hoang ở Bắc Kỳ; Hồ Tuấn Dung (2001) nghiên cứu chế độ thuế khóa; Nguyễn Văn Khánh (2004, 2013) nghiên cứu cơ cấu kinh tế - xã hội thuộc địa và chính sách ruộng đất thời cận - hiện đại; Dương Kinh Quốc (1989) phân tích tổ chức chính quyền thuộc địa và cơ chế Đạo quan binh.

2. Nhóm nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và các tộc người ở Tây Bắc và Sơn La

  • Tài liệu thời Pháp thuộc: Edouar Petit (1887), Philippe Henri d’Orléans (1894), Auguste Pavie (1908), Maurice Abadie (1924), Léon Dussault (1924), Kunitz F. (1888-1889), Alfred Léon Bouchet ghi chép về giao thông thượng lưu sông Đà, phân bố tộc người và tập quán canh tác vùng thượng du.
  • Công trình lịch sử và dân tộc học hiện đại: Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm trong Điện Biên trong lịch sử (1979); Địa chí Sơn La 110 năm (1895 - 2005) (2005); Phạm Văn Lực (2008) nghiên cứu phong trào đấu tranh chống Pháp; Tống Thanh Bình (2016, 2017) với các bài viết chuyên đề và luận án tiến sĩ về kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La (1895 - 1945); Nguyễn Thị Thu Thủy (2018) khảo sát địa giới hành chính và tình hình ruộng đất Sơn La qua địa bạ Gia Long 4.
  • Nghiên cứu về cơ cấu xã hội và tập quán tộc người: Cầm Trọng, Bùi Tịnh, Nguyễn Hữu Ưng (1978) trong Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam; Khổng Diễn (1995, 1996) với các công trình về dân tộc Khơ mú và đặc điểm kinh tế - xã hội vùng núi phía Bắc; Trần Bình (2001) về tập quán kinh tế tộc người; Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968) nghiên cứu các nhóm Tày - Nùng - Thái; Cầm Trọng và Hữu Ưng (1975) phân tích chế độ ruộng công bản mường; Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh (1999) sưu tầm và dịch thuật tập Luật tục Thái ở Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Qua khảo sát, tác giả nhận thấy thời kỳ thuộc địa không có bất kỳ công trình địa chí hay chuyên khảo chuyên biệt nào của người Pháp viết riêng về kinh tế nông nghiệp Sơn La. Các nghiên cứu hiện đại thường tiếp cận dưới góc độ dân tộc học thuần túy hoặc nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội chung mà chưa đi sâu vào bức tranh nông nghiệp liên tục từ thời Nguyễn sang thời Pháp thuộc. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách: khai thác hệ thống 34 bản địa bạ triều Nguyễn kết hợp với tài liệu lưu trữ tiếng Pháp (phông RST, AFC) và luật tục bản địa, đối sánh giữa quy định pháp lý phong kiến với thực tế sở hữu ruộng đất mường bản, dựng lại bức tranh kinh tế nông nghiệp Sơn La từ năm 1805 đến năm 1945 một cách toàn diện và có căn cứ tư liệu xác thực.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích các mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện tự nhiên, cơ cấu xã hội, chính sách của chính quyền thống trị (triều Nguyễn và thực dân Pháp) và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Khung phân tích xem xét sự vận động của kinh tế nông nghiệp miền núi trong mối quan hệ giữa thể chế nhà nước trung ương và luật tục tự quản của cộng đồng bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Đây là hai phương pháp chủ đạo. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện tiến trình phát triển và biến đổi của kinh tế nông nghiệp Sơn La theo trình tự thời gian gắn với các bối cảnh lịch sử cụ thể (1805 - 1895 và 1895 - 1945). Phương pháp lôgic giúp khái quát hóa, tìm ra bản chất của quan hệ ruộng đất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và bản chất của phương thức bóc lột kinh tế.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh: Thống kê và phân tích các số liệu định lượng về diện tích ruộng đất, tỷ lệ bỏ hoang, quy mô sở hữu của các dòng họ, sản lượng và năng suất cây trồng (lúa, ngô), số lượng đàn gia súc, kim ngạch xuất khẩu nông sản; so sánh đối chiếu giữa số liệu ghi nhận trong địa bạ với tập quán truyền thống, giữa tỉnh Sơn La với các địa phương lân cận (Lai Châu, Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Giang).
  • Phương pháp liên ngành và điền dã dân tộc học: Kết hợp kiến thức dân tộc học, địa lý học lịch sử; tiến hành phỏng vấn chuyên gia Thái học, các nghệ nhân và người cao tuổi am hiểu lịch sử tại địa phương; khảo sát thực địa tại các châu mường nhằm kiểm chứng tư liệu thành văn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  1. Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội):
    • Tài liệu địa bạ Hán Nôm: Gồm 34 bản địa bạ của các động, xã thuộc tỉnh Sơn La. Trong đó có 19 bản lập năm Gia Long 4 (1805) thuộc 5 châu (Phù Yên, Thuận, Sơn La, Mai Sơn, Mộc); 11 bản lập năm Minh Mệnh 21 (1840) thuộc 5 châu (Phù Yên, Thuận, Yên, Sơn La, Mai Sơn); và các bản địa bạ đơn lẻ các năm Thiệu Trị 1 (1841), Thiệu Trị 3 (1843), Thiệu Trị 4 (1844), Tự Đức 1 (1848).
    • Tài liệu tiếng Pháp: Khai thác từ Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (RST) và Phông Nha Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thương mại Đông Dương (AFC), bao gồm các báo cáo kinh tế thường niên (1902 - 1941), báo cáo chính trị của Công sứ, biên bản hội đồng tỉnh, hồ sơ cấp nhượng đất và thống kê thuế khóa.
  2. Tài liệu địa phương và dân tộc học:
    • Các tập quán pháp và luật tục Thái, đặc biệt là bản Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu, Mai Sơn trích trong Luật tục Thái ở Việt Nam.
    • Sử thi, truyện kể bản mường (Quam tô mương) tại các mường: Mường Muổi (Thuận Châu), Mường La, Mường Chanh, Mường Mụak (Mai Sơn), Mường Tấc (Phù Yên), Mộc Châu, Yên Châu.
    • Gia phả, lai lịch các dòng họ quý tộc chúa đất bản địa như họ Bạc Cầm (Mường Muổi), họ Lò Cầm (Mai Sơn, Mường La), họ Sa (Mộc Châu), họ Hoàng (Yên Châu).
  3. Tài liệu chính sử và tham khảo: Các bộ chính sử thời Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, Hưng Hóa xứ phong thổ lục), các số liệu thống kê thời Pháp thuộc và hệ thống sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Việt Nam, kinh tế vùng Tây Bắc và các tộc người tại Sơn La từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945. Tác giả phân tích những kết quả đã đạt được của các học giả đi trước về khung chính sách nông nghiệp thời Nguyễn, chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và cấu trúc xã hội mường bản. Đồng thời, chương 1 xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu mà luận án trực tiếp giải quyết: phục dựng tính liên tục của lịch sử kinh tế nông nghiệp Sơn La, giải mã mâu thuẫn giữa số liệu địa bạ Hán Nôm với cấu trúc ruộng công bản địa, và lượng hóa các chỉ số nông nghiệp thời Pháp thuộc dựa trên tài liệu lưu trữ gốc.

Chương 2: Khái quát về tỉnh Sơn La trước năm 1945

Chương 2 trình bày các nhân tố tự nhiên, hành chính, dân cư và cấu trúc xã hội tác động trực tiếp đến nền kinh tế nông nghiệp Sơn La trước năm 1945:

  • Biến đổi hành chính: Thời Gia Long, Sơn La gồm 6 châu thuộc trấn Hưng Hóa; thời Minh Mệnh thuộc phủ Gia Hưng. Năm 1891, Pháp thành lập Đạo quan binh 4 Sơn La; ngày 10/10/1895 lập tỉnh Vạn Bú (đến năm 1904 đổi tên thành tỉnh Sơn La). Sau khi tách 5 châu thành lập tỉnh Lai Châu năm 1909, Sơn La duy trì ổn định 6 châu: Sơn La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên. Đến năm 1932, toàn tỉnh có 6 châu, 29 mường, 1.180 bản và trung tâm hành chính Vạn Yên.
  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km², địa hình núi cao bị chia cắt mạnh (trên 87% diện tích có độ dốc từ 25° trở lên, chỉ gần 13% có độ dốc dưới 25°). Tỉnh có 3 kiểu địa hình chính: núi đá vôi, thung lũng ven sông suối và bình nguyên/cao nguyên (cao nguyên Mộc Châu, cao nguyên Nà Sản). Hệ thống thủy văn gồm hai trục chính là sông Đà và sông Mã cùng mạng lưới suối dốc nhiều thác ghềnh. Thổ nhưỡng gồm 6 nhóm với 26 loại đất, chủ yếu là đất đỏ vàng và đất mùn núi cao có tầng dày và độ phì tự nhiên tốt. Khí hậu phân hóa thành 3 tiểu vùng (phía Bắc, Tây - Tây Nam, Đông - Đông Nam) với hai mùa mưa - khô rõ rệt.
  • Đặc điểm dân cư và tổ chức xã hội: Sơn La là vùng đất rộng người thưa (dân số năm 1904 khoảng 5 vạn, năm 1921 đạt 8,6 vạn, năm 1932 đạt 90.003 người với mật độ 8 người/km², năm 1939 hơn 10 vạn, và năm 1943 đạt 118.745 người). Dân tộc Thái chiếm đa số tuyệt đối (74,5% năm 1932), cư trú ở các thung lũng lòng chảo; người H'mông cư trú ở vùng núi cao; các nhóm Môn - Khơme (Khơ mú, Xinh mun, Kháng, La Ha) cư trú ở vùng rẻo giữa; ngoài ra có người Mường, Dao, Tày, Kinh, Hoa.
Tên châu Số gia đình Thái (1935 / 1936) Số gia đình Mèo/H'mông (1935 / 1936) Số gia đình Xá/Môn-Khơme (1935 / 1936) Tổng số gia đình (1935 / 1936)
Mường La & Ngọc Chiến 3.528 / 3.605 421 / 426 250 / 240 4.199 / 4.271
Mai Sơn 1.827 / 1.853 30 / 30 270 / 264 2.127 / 2.147
Phù Yên 2.254 / 2.258 432 / 438 0 / 0 2.686 / 2.686
Thuận Châu 4.518 / 4.577 392 / 386 655 / 647 5.565 / 5.610
Mộc Châu 1.015 / 1.015 352 / 358 17 / 17 1.384 / 1.390
Yên Châu 1.115 / 1.163 12 / 13 66 / 63 1.193 / 1.239
Tổng cộng 14.257 / 14.471 1.639 / 1.641 1.258 / 1.231 17.154 / 17.343

Nguồn: Tổng hợp số liệu lưu trữ năm 1935 - 1936 trong luận án [20]

Xã hội cổ truyền Sơn La bị chi phối bởi thiết chế "phìa tạo" của các dòng họ quý tộc Thái (Cầm, Bạc Cầm, Sa, Hoàng). Triều Nguyễn duy trì quyền tự trị địa phương qua chế độ thổ quan; thời Pháp thuộc, thực dân Pháp duy trì bộ máy thống trị cũ kết hợp chính sách "chia để trị", lập "Xứ Thái tự trị" và "Khu Mèo tự quản" nhằm cô lập vùng thượng du và bóc lột cư dân bản địa qua cống nạp và phu phen tạp dịch.

Chương 3: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1895

Chương 3 tập trung phân tích quan hệ ruộng đất và các hoạt động kinh tế nông nghiệp dưới thời phong kiến độc lập của triều Nguyễn:

  • Chính sách của triều đình và thực tế ruộng đất: Triều Nguyễn áp dụng các chính sách phân loại ruộng đất, lập địa bạ (1805, 1840), ban cấp ruộng, khuyến khích khai hoang và quy định tô thuế. Qua 19 bản địa bạ thời Gia Long 4 (1805) và 11 bản thời Minh Mệnh 21 (1840), tài liệu Hán Nôm ghi nhận 100% ruộng đất ở Sơn La thuộc loại ruộng tư (tư điền, tư thổ), tất cả đều xếp hạng ba, và tỷ lệ ruộng đất lưu hoang rất cao (chiếm tới 49,2% tổng diện tích ruộng trong địa bạ năm 1805). Tuy nhiên, khi đối chiếu với các nguồn tài liệu luật tục Thái (Quam tô mương, Tục lệ bản mường), luận án chỉ ra rằng sự ghi chép "ruộng tư" trong địa bạ chỉ là sự quy ước hành chính của quan lại triều đình nhằm xác lập nghĩa vụ nộp thuế. Về thực chất xã hội, toàn bộ ruộng đất thung lũng thuộc quyền sở hữu tối cao của chúa đất (phìa, tạo) và công xã mường bản, được chia thành: ruộng chúa, ruộng chức (cấp cho bộ máy cai trị) và ruộng hàng mường/ruộng gánh vác (chia cho nông dân canh tác đi kèm nghĩa vụ tạp dịch và cống nạp).
  • Hoạt động sản xuất nông nghiệp:
    • Trồng trọt: Trồng trọt lúa nước là hoạt động cốt lõi của người Thái tại các cánh đồng thung lũng (tiêu biểu như cánh đồng Mường Tấc ở Phù Yên, các cánh đồng ở Mường La, Thuận Châu). Cư dân vận dụng hệ thống thủy lợi truyền thống nổi tiếng "mương - phai - lái - lín" để dẫn nước tự chảy từ các khe suối dốc vào ruộng bậc thang và ruộng bằng; giống lúa chủ yếu là lúa nếp một vụ (vụ mùa tháng 10). Các tộc người vùng cao và vùng giữa (H'mông, Dao, Khơ mú, Xinh mun, Kháng) canh tác nương rẫy với kỹ thuật "chọc lỗ tra hạt", luân canh nương rẫy, trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn và cây thuốc phiện.
    • Chăn nuôi: Phát triển chăn thả tự nhiên đại gia súc (trâu, bò) tại các bãi chăn thả cao nguyên và thung lũng phục vụ sức kéo nông nghiệp và cúng tế; chăn nuôi lợn và gia cầm phân tán tại các gia đình.
  • Tiêu thụ sản phẩm và đặc điểm kinh tế giai đoạn 1805 - 1895: Nền kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp sâu sắc, khép kín trong từng bản mường. Hoạt động trao đổi hàng hóa nội địa diễn ra ở quy mô nhỏ hẹp thông qua hình thức đổi chác nông sản lấy muối, vải và công cụ kim loại. Việc vận chuyển nông sản và lâm sản ra ngoài tỉnh bằng đường thủy qua sông Đà gặp nhiều hiểm trở do ghềnh thác và chế độ mưa lũ theo mùa.

Chương 4: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945

Chương 4 phục dựng bức tranh kinh tế nông nghiệp Sơn La dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:

  • Tình hình ruộng đất và chính sách thuộc địa: Chính quyền thực dân Pháp không can thiệp sâu làm thay đổi cấu trúc ruộng đất bản địa mà duy trì thiết chế phìa tạo và chế độ ruộng công bản mường để gián tiếp bóc lột. Các nghị định về đất nhượng của Pháp (năm 1926, 1928, 1939) được ban hành, nhưng do giao thông trắc trở và địa hình phân tán, Sơn La hầu như không hình thành hệ thống đồn điền lớn của tư bản Pháp (chỉ có 1 đồn điền diện tích 9.000 ha được cấp cho Morand và Gros ở thời kỳ đầu nhưng không phát triển). Theo thống kê thời kỳ này, tỷ lệ ruộng tư ở Sơn La rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2% tổng diện tích ruộng đất (thấp hơn rất nhiều so với mức 40% ở Lai Châu). Diện tích ruộng nước toàn tỉnh năm 1919 và năm 1932 duy trì ở mức khoảng 8.000 ha, bình quân diện tích ruộng trên đầu người chỉ đạt 0,088 ha.
  • Thực trạng sản xuất nông nghiệp (1895 - 1945):
    • Trồng trọt: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa, ngô được thống kê chi tiết qua các giai đoạn từ 1917 đến 1941. Năng suất lúa nước vẫn ở mức thấp do phụ thuộc vào nước tự nhiên và tập quán quảng canh một vụ. Các cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày (ngô, bông, thuốc phiện) được mở rộng diện tích nhằm đáp ứng nhu cầu thu thuế và độc quyền thương mại của chính quyền thuộc địa.
    • Chăn nuôi: Đàn gia súc (trâu, bò) và gia cầm được thống kê chi tiết trong giai đoạn 1929 - 1939. Hai cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản (Mai Sơn) trở thành vùng trọng điểm phát triển chăn nuôi gia súc lớn của xứ Bắc Kỳ.
  • Tiêu thụ và thương mại nông sản: Hoạt động xuất khẩu nông - lâm sản bắt đầu có bước chuyển biến mới với sự xuất hiện của các thương nhân người Kinh, người Hoa tại tỉnh lỵ và các trung tâm châu lỵ. Sơn La xuất khẩu sang các tỉnh đồng bằng và xuất khẩu sang Pháp các sản phẩm chủ lực: cánh kiến (sản lượng bán ra ngoài tỉnh đạt mức cao trong giai đoạn 1929 - 1931), da trâu bò (da động vật) và thuốc phiện. Giao thông đường bộ (tuyến Hà Nội - Sơn La - Lai Châu) từng bước được cải tạo, mở rộng lưu thông hàng hóa mùa khô.
  • Chuyển biến kinh tế - xã hội: Mặc dù các yếu tố kinh tế hàng hóa và quan hệ thị trường tư bản bắt đầu thâm nhập, cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La vẫn cơ bản giữ nguyên tính chất tự cung tự cấp, lạc hậu. Nông dân lao động Sơn La phải gánh chịu ách áp bức, bóc lột nặng nề từ hai tầng lớp thống trị: chế độ thuế khóa, lao dịch của thực dân Pháp và chế độ cống nạp, phu phen truyền thống của quý tộc phìa tạo Thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Phục dựng hệ thống và toàn diện: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện bức tranh kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La trong suốt chiều dài lịch sử 140 năm (1805 - 1945), làm rõ tiến trình vận động qua hai giai đoạn phong kiến triều Nguyễn và thuộc địa Pháp thuộc.
  • Giải mã bản chất quan hệ ruộng đất miền núi: Đóng góp học thuật quan trọng của luận án là làm sáng tỏ sự khác biệt và mâu thuẫn giữa văn bản hành chính nhà nước và thực tiễn xã hội bản địa: Địa bạ triều Nguyễn ghi nhận 100% diện tích là "ruộng tư" hạng ba nhằm mục đích thu thuế, nhưng bản chất quan hệ sở hữu thực tế trong xã hội Thái trước năm 1945 là chế độ công hữu ruộng đất mường bản dưới quyền phân phối của giai cấp quý tộc phìa tạo (chiếm tới 98% diện tích ruộng đất thời Pháp thuộc).
  • Khái quát các đặc trưng cốt lõi của nông nghiệp miền núi Tây Bắc: Luận án đúc kết 5 đặc trưng cơ bản của kinh tế nông nghiệp Sơn La giai đoạn 1805 - 1945:
    1. Quy mô ruộng đất nhỏ hẹp, phân tán và manh mún do sự chia cắt mạnh của địa hình núi cao.
    2. Nền kinh tế mang nặng tính chất tự nhiên, tự cung tự cấp, phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên và thời tiết.
    3. Phương thức canh tác truyền thống lạc hậu, chủ yếu là lao động thủ công (dẫn thủy nhập điền tự chảy đối với ruộng nước thung lũng và "chọc lỗ tra hạt" đối với nương rẫy), năng suất cây trồng và vật nuôi ở mức thấp.
    4. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chậm biến đổi, cơ sở hạ tầng giao thông cách trở kìm hãm sự phát triển của thương mại hàng hóa.
    5. Phương thức bóc lột đặc trưng bao trùm xã hội là bóc lột địa tô lao dịch và cống nạp sản vật ("phu phen tạp dịch không công và nộp sản vật truyền thống") của quý tộc phìa tạo, được chính quyền thực dân Pháp dung dưỡng và duy trì.

Giá trị thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - kinh tế có độ tin cậy cao, phục vụ công tác biên soạn địa chí, lịch sử địa phương và giảng dạy Lịch sử Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông ở khu vực Tây Bắc.
  • Cung cấp các luận cứ lịch sử giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ nguồn gốc tập quán canh tác, cơ chế quản lý đất đai mường bản truyền thống, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho công tác quy hoạch sử dụng đất, giao đất giao rừng và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nguồn tư liệu

  • Thiếu hụt tư liệu địa bạ giai đoạn 1848 - 1895: Nguồn tư liệu địa bạ triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I về Sơn La kết thúc ở bản địa bạ năm Tự Đức 1 (1848). Do đó, giai đoạn từ năm 1848 đến khi thành lập tỉnh Vạn Bú (năm 1895) thiếu vắng các số liệu thống kê địa chính định lượng liên tục, buộc tác giả phải phục dựng thông qua các bộ chính sử và tài liệu điền dã.
  • Tính gián đoạn của tài liệu thống kê: Các bản địa bạ thời Nguyễn không được lập đồng thời ở tất cả các động, xã cùng một thời điểm; tài liệu báo cáo kinh tế của Pháp (phông RST, AFC) có những khoảng trống số liệu qua các năm chiến tranh hoặc khủng hoảng.
  • Hạn chế về dữ liệu lâm - thủy sản: Các nguồn tài liệu lưu trữ hầu như chỉ ghi chép về trồng trọt và chăn nuôi; tư liệu về hoạt động đánh bắt thủy sản và khai thác lâm sản ngoài gỗ của các tộc người bản địa rất ít, chỉ mang tính mô tả thói quen sinh hoạt nên chưa đủ cơ sở để lượng hóa thành các ngành độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp nối

  • Tiếp tục sưu tầm và khai thác các nguồn tư liệu chữ Hán Nôm và chữ Thái cổ còn lưu giữ trong nhân dân và các dòng họ chúa đất ở Sơn La.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tỉnh Sơn La với các địa phương lân cận trong khu vực Thượng Lào và các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm làm sáng tỏ hơn nữa tính thống nhất và tính đa dạng của không gian kinh tế nông nghiệp vùng văn hóa Tây Bắc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế, Dân tộc học, Nhân học và Địa lý nhân văn khi tìm hiểu về lịch sử kinh tế - xã hội vùng cao thời phong kiến và thuộc địa. Phần khảo cứu 34 bản địa bạ triều Nguyễn và hệ thống bảng biểu thống kê kinh tế thời Pháp thuộc là nguồn tư liệu sơ cấp đáng tin cậy.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và dân tộc học: Cung cấp tư liệu thực chứng về phương thức tổ chức bản mường của người Thái, tập quán canh tác của người H'mông, người Khơ mú, người Xinh mun, người Kháng và cấu trúc xã hội truyền thống Tây Bắc.
  • Các nhà quản lý, hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lịch sử phục vụ công tác quản lý tài nguyên đất đai, bảo tồn tri thức bản địa trong quản lý nguồn nước và phát triển nông - lâm nghiệp miền núi bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu ruộng đất của tỉnh Sơn La thời Nguyễn ghi trong địa bạ có điểm gì khác biệt so với thực tế sở hữu của người Thái?

Trong 34 bản địa bạ triều Nguyễn (chủ yếu năm 1805 và 1840), 100% diện tích ruộng đất Sơn La được ghi nhận là ruộng tư (tư điền, tư thổ) hạng ba để làm căn cứ thu thuế cho triều đình trung ương. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội truyền thống của người Thái, ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của công xã mường bản dưới sự cai quản của quý tộc phìa tạo; người dân không có quyền tư hữu đất đai mà chỉ được nhận ruộng công để cày cấy kèm theo nghĩa vụ đóng tô và phục dịch lao dịch cho bộ máy chúa đất.

2. Tỷ lệ ruộng đất bỏ hoang ở Sơn La đầu thế kỷ XIX được ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu thống kê từ 19 bản địa bạ thời Gia Long 4 (năm 1805) do tác giả luận án xử lý, tỷ lệ ruộng đất lưu hoang ở Sơn La chiếm tới 49,2% tổng diện tích ruộng đất. Nguyên nhân chủ yếu do địa hình núi cao dốc hiểm trở, hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện khiến việc tưới tiêu gặp khó khăn, cùng với điều kiện dân cư thưa thớt và phương thức sản xuất lạc hậu.

3. Vì sao thực dân Pháp không phát triển các đồn điền nông nghiệp quy mô lớn tại Sơn La như ở vùng trung du và đồng bằng?

Mặc dù chính quyền thuộc địa ban hành nhiều quy chế về đất nhượng, Sơn La chỉ có duy nhất 1 đồn điền diện tích 9.000 ha được cấp cho Morand và Gros ở giai đoạn đầu nhưng không phát huy hiệu quả. Nguyên nhân do địa hình Sơn La bị chia cắt mạnh (trên 87% diện tích có độ dốc trên 25°), giao thông đường bộ và đường thủy qua sông Đà vô cùng khó khăn, hiểm trở, mùa mưa lũ kéo dài 5 tháng gây cô lập, và chính sách của Pháp chủ yếu tập trung khai thác thông qua bộ máy tay sai phìa tạo bản địa thay vì đầu tư vốn lớn lập đồn điền tư bản.

4. Những mặt hàng nông - lâm sản chính nào của Sơn La tham gia xuất khẩu thời Pháp thuộc?

Trong giai đoạn 1901 - 1931, các sản phẩm nông - lâm sản chủ lực của Sơn La tham gia mạng lưới thương mại xuất khẩu ra ngoài tỉnh và sang Pháp bao gồm: cánh kiến (mặt hàng lâm sản có sản lượng bán ra lớn trong các năm 1929 - 1931), da trâu bò (da động vật) khai thác từ vùng chăn nuôi đại gia súc trên các cao nguyên Nà Sản và Mộc Châu, cùng với thuốc phiện do đồng bào các dân tộc vùng cao sản xuất.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Trần Thị Phượng là công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế chuyên khảo, phục dựng bức tranh toàn diện về kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ năm 1805 đến năm 1945. Tác phẩm đã làm rõ các nhân tố tự nhiên, hành chính, dân cư và cấu trúc xã hội tác động đến quan hệ ruộng đất, kỹ thuật canh tác trồng trọt, chăn nuôi và thương mại nông sản qua hai thời kỳ lịch sử. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của chế độ ruộng đất mường bản dưới sự chi phối của thiết chế phìa tạo Thái, đồng thời khái quát những đặc trưng cốt lõi của nền nông nghiệp miền núi Tây Bắc thời kỳ tiền cách mạng. Đây là tài liệu khoa học có giá trị cao cho công tác nghiên cứu lịch sử kinh tế, dân tộc học và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp miền núi hiện nay.