Tổng quan luận án
Công cuộc Đổi mới tại Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm và đã tạo ra những biến chuyển sâu rộng trên phạm vi cả nước. Quá trình triển khai đường lối đổi mới và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở từng địa phương diễn ra với những bước đi, đặc điểm và kết quả khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử cụ thể.
Cẩm Khê là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Phú Thọ. Huyện được tái lập vào tháng 10 năm 1995 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Sông Thao (tách 10 xã thuộc huyện Hạ Hòa cũ ra khỏi huyện Sông Thao). Bước vào thời kỳ phát triển mới trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Cẩm Khê đã đạt được những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế, thúc đẩy sự chuyển biến trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế của huyện bộc lộ nhiều hạn chế: tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần tiếp tục giải quyết. Cho đến trước khi luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015 dưới góc độ của khoa học lịch sử. Việc thực hiện đề tài Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015 của tác giả Nguyễn Thị Hương Loan nhằm phục dựng bức tranh kinh tế địa phương và bổ sung tư liệu cho lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015, bao gồm các thành tựu, hạn chế và thách thức tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế của huyện giai đoạn này; từ đó cung cấp góc nhìn thực tiễn về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới, phục vụ công tác tổng kết lý luận và định hướng chỉ đạo thực tiễn.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, luận án phân tích những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm các yếu tố cơ bản như: điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, hệ thống hạ tầng kinh tế, tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê trước năm 1995 và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và địa phương trong giai đoạn 1995 - 2015.
- Thứ hai, luận án trình bày một cách hệ thống về tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm tình hình phát triển cụ thể của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ.
- Thứ ba, trên cơ sở những thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu cụ thể về tình hình phát triển của các ngành kinh tế, luận án nêu lên một số nhận xét về những chuyển biến và tác động của kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tình hình kinh tế ở huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, tập trung vào thực trạng phát triển của ba nhóm ngành chính: nông - lâm nghiệp - thủy sản; công nghiệp - xây dựng; và thương mại - dịch vụ.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về không gian: Địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (từ năm 1995 đến tháng 4 năm 2002 có tên gọi là huyện Sông Thao, từ tháng 4 năm 2002 đổi lại tên cũ là huyện Cẩm Khê), gồm 30 xã và 1 thị trấn (thị trấn Sông Thao).
- Về thời gian: Mốc bắt đầu là năm 1995 (thời điểm huyện Cẩm Khê được tái lập sau khi chia tách địa giới hành chính với huyện Hạ Hòa); mốc kết thúc là năm 2015 (thời điểm tròn 20 năm tái lập huyện và cũng là năm triển khai nghiên cứu đề tài). Để bảo đảm tính liên tục và phục vụ so sánh lịch sử, luận án có đề cập đến tình hình kinh tế giai đoạn trước năm 1995.
- Về nội dung: Nghiên cứu diện mạo và tiến trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê trên các mặt chủ trương, chính sách, biện pháp thực hiện và kết quả cụ thể ở ba nhóm ngành: nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản); công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Về đổi mới quản lý kinh tế: Vũ Tuấn Anh (chủ biên, 1994) trong Đổi mới kinh tế và phát triển; Chương trình cấp Nhà nước KX02 (1997) với Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế; Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân (2002) trong Kinh tế Việt Nam đổi mới: Những phân tích và đánh giá quan trọng; Lương Xuân Quý (2006) trong Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Nguyễn Duy Quý (2009) trong Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới tư duy ở Việt Nam.
- Về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ngô Đình Giao (1994), Đỗ Hoài Nam (1996), Bùi Tất Thắng (1997, 2006), Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999), Lương Xuân Quý (2001), Nguyễn Trần Quế (2004), Phan Công Nghĩa (2007), Trương Thị Minh Sâm (2007), Phạm Thị Khanh (2010).
- Về các thành phần kinh tế: Trần Hoàng Kim (1992), Đỗ Hoài Nam (1993), Vũ Đình Bách (2001), Lê Hữu Nghĩa và Đinh Văn Ân (2004), Nguyễn Thanh Tuyền (chủ biên, 2004), Nguyễn Minh Phong (2004), Chử Văn Lâm (chủ biên, 2006), Phạm Văn Sơn (2011), Lê Xuân Bá (chủ biên, 2013), công trình tập thể về phát triển kinh tế tập thể trong 30 năm đổi mới (2016).
- Về kinh tế vùng: Lâm Quang Huyên (2002), Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003), Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Lê Thu Hoa (2007), Nguyễn Trọng Xuân (2013), Đỗ Thị Thanh Loan (2016).
- Về quy mô và tăng trưởng kinh tế: Phan Thanh Phố (1995), Nguyễn Sinh Cúc (2003), Trần Thọ Đạt (2005, 2010), Lương Minh Cừ, Đào Duy Huân, Phạm Đức Hải (2012), Lê Văn Sang (2014) và công trình tổng kết 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam (2015).
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về kinh tế ở các địa phương trong thời kỳ Đổi mới.
Nhóm này gồm các luận án tiến sĩ nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc sự lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh, huyện: Vũ Ngọc Kỳ (1996, nghiên cứu tỉnh Yên Bái), Đào Thị Bích Hồng (2011, nghiên cứu tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1997 - 2006), Trần Thị Thái (2015, nghiên cứu tỉnh Nam Định giai đoạn 1997 - 2005), Vũ Trọng Hùng (2017, nghiên cứu tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2010), Bùi Thị Nguyệt Quỳnh (2017, nghiên cứu tỉnh Hòa Bình giai đoạn 1991 - 2010), Nguyễn Thị Nguyền (2012, tỉnh Lào Cai), Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2010, tỉnh Thái Nguyên), Lê Hồng Sơn (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ Đổi mới.
- Về lịch sử địa phương: Sách Lịch sử văn hóa truyền thống huyện Cẩm Khê (2020) trình bày lịch sử hình thành, di tích và truyền thống văn hóa huyện.
- Về kinh tế cấp huyện và cấp tỉnh: Luận án tiến sĩ kinh tế của Phùng Quang Mạc (1996) nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Sông Thao giai đoạn 1986 - 1995; luận án tiến sĩ của Tống Thị Nga (2014) nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (1997 - 2010); luận án của Bùi Thị Thanh Tâm (2015) về kinh tế trang trại bền vững tại Phú Thọ; luận án của Chu Thanh Hải (2017) về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong thương mại tỉnh Phú Thọ.
- Các luận văn thạc sĩ: Trần Văn Hùng (2010, về làng nghề tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1997 - 2009), Cao Kim Oanh (2013, về phát triển nông nghiệp bền vững tại Cẩm Khê giai đoạn 2008 - 2012), Lưu Thế Vinh (2008), Nguyễn Thị Tâm (2013), Hoàng Trí Thức (2018).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam và kinh tế các địa phương, nhưng đối với huyện Cẩm Khê, các công trình trước đó chỉ dừng lại ở giai đoạn trước năm 1995 (như luận án của Phùng Quang Mạc về huyện Sông Thao cũ), hoặc chỉ tiếp cận một khía cạnh riêng lẻ trong khoảng thời gian ngắn (kinh tế trang trại, làng nghề, nông nghiệp giai đoạn 2008 - 2012). Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình phát triển của tất cả các ngành kinh tế huyện Cẩm Khê trong trọn vẹn 20 năm sau ngày tái lập (1995 - 2015) dưới góc độ lịch sử kinh tế. Luận án được thực hiện để giải quyết khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích:
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phát triển kinh tế - xã hội, các quy luật vận động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cùng hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện tiến trình phát triển của các ngành kinh tế theo thứ tự thời gian từ năm 1995 đến năm 2015, phản ánh bối cảnh cụ thể của địa phương qua từng chặng đường. Phương pháp logic được sử dụng để phân tích các mối liên hệ bản chất, đánh giá xu hướng vận động, rút ra nhận xét về cơ cấu, chất lượng tăng trưởng và tác động qua lại giữa kinh tế và các mặt đời sống xã hội.
- Các phương pháp nghiên cứu kinh tế học và liên ngành: Thu thập, phân loại chuỗi số liệu kinh tế; phương pháp thống kê định lượng (thể hiện thông qua việc lập bảng thống kê, biểu đồ so sánh cơ cấu ngành, biến động sản lượng và lực lượng lao động qua các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2015); phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu tư liệu.
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế và phỏng vấn nhân chứng tại huyện Cẩm Khê để bổ sung, kiểm chứng các thông tin rút ra từ tài liệu thành văn.
Nguồn tài liệu/dữ liệu:
- Nguồn văn kiện Đảng và Nhà nước: Các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan đến đổi mới kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Nguồn tài liệu lưu trữ địa phương: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và huyện Cẩm Khê (Sông Thao); các đề án, báo cáo tổng kết, văn bản hành chính của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Khê; Niên giám thống kê huyện Cẩm Khê và Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 1995 - 2015 (đây là nguồn dữ liệu số lượng chủ yếu của đề tài).
- Nguồn tài liệu báo chí địa phương của tỉnh Phú Thọ từ năm 1995 đến năm 2015.
- Nguồn tài liệu từ các đề tài, luận án, luận văn và sách chuyên khảo có liên quan.
- Dữ liệu khảo sát điền dã thực địa tại các xã và thị trấn thuộc huyện Cẩm Khê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này điểm lại toàn diện ba nhóm công trình: kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới (các công trình về cơ chế quản lý, cơ cấu ngành, thành phần kinh tế, kinh tế vùng, quy mô tăng trưởng); kinh tế địa phương thời kỳ Đổi mới (các luận án nghiên cứu tại Yên Bái, Bạc Liêu, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Lào Cai, Thái Nguyên, Vị Xuyên); các công trình nghiên cứu về tỉnh Phú Thọ và huyện Cẩm Khê (các đề tài về huyện Sông Thao trước năm 1995, công nghiệp hóa nông nghiệp Phú Thọ, kinh tế trang trại, làng nghề, kinh tế tư nhân thương mại và việc làm nông thôn). Tác giả xác định các nội dung kế thừa về phương pháp và cơ sở lý luận, đồng thời chỉ ra vấn đề kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015 chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, độc lập.
Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
Chương 2 làm rõ các điều kiện tiền đề chi phối sự phát triển kinh tế của huyện:
- Thay đổi địa danh, địa giới hành chính: Sau năm 1945, Cẩm Khê gồm 49 làng sáp nhập thành 9 liên xã; năm 1948 chia thành 15 liên xã; năm 1953 chia tách thành 31 xã. Ngày 05/7/1977, Nghị định 178/CP hợp nhất Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã của Hạ Hòa thành huyện Sông Thao thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Ngày 22/12/1980, tách Yên Lập. Đến ngày 07/10/1995, 10 xã hữu ngạn sông Thao được trả về huyện Hạ Hòa; huyện Sông Thao lúc này trở lại ranh giới Cẩm Khê cũ với 30 xã và 1 thị trấn (tổng diện tích tự nhiên 23.425 ha). Ngày 08/4/2002, Nghị định số 39-NĐ/CP đổi tên huyện Sông Thao trở lại thành huyện Cẩm Khê.
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Tọa độ 21°15' - 21°29' vĩ Bắc và 104°57' - 105°13' kinh Đông. Huyện dài 40 km, rộng trung bình 10 km; giáp Thanh Ba (phía đông, ranh giới là sông Thao), Yên Lập (phía tây), Tam Nông (phía nam, ranh giới là sông Bứa), Hạ Hòa (phía bắc, ranh giới là ngòi Giành). Trung tâm huyện cách Hà Nội 80 km, Việt Trì 40 km, thị xã Phú Thọ 12 km. Địa hình chia 3 dạng: vùng núi phía tây chiếm 10% diện tích (cao trên 300 m, có đỉnh trên 500 m, dốc trên 25 độ); đồi trung du; và đồng bằng dộc ruộng trũng ven sông. Đất đai gồm 4 nhóm: phù sa, glây, xám và xám Feralit. Lượng mưa trung bình năm 1.874 mm. Sông Thao dài 21,5 km qua huyện (lưu lượng 520 - 1.647 m³/s), sông Bứa dài 5 km, cùng các ngòi lớn: ngòi Cỏ, ngòi Me, ngòi Giành, ngòi Cái; nhiều đầm hồ lớn (đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung, hồ Ba Vực, hồ Dục Bò...). Khoáng sản có 19 mỏ và điểm quặng (than nâu, quặng sắt, quarzit 12,9 triệu m³, kaolin, sét gạch ngói, sét gốm, cát xây dựng, đá vôi) nhưng phần lớn chưa khai thác quy mô lớn.
- Dân cư và nguồn nhân lực: Dân số tăng từ 124.610 người (1995) lên 131.003 người (2015), mật độ đạt 544 người/km². Tỷ lệ dân nông thôn chiếm 95,6% năm 2015 (thành thị chiếm 4,4%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi có khả năng lao động đạt 61,08% năm 2015. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 5,6% (1995) lên 18,85% (2015). Người Kinh chiếm đa số; người dân tộc thiểu số (Mường, Dao, Tày, Nùng) có 864 người (năm 2015). Tôn giáo có Phật giáo và Thiên Chúa giáo; người theo đạo Thiên Chúa chiếm 12,8% dân số huyện (khoảng 3.000 người), đông nhất tỉnh Phú Thọ.
- Hạ tầng kinh tế: Giao thông đường bộ năm 2015 đạt tổng chiều dài 1.157,65 km, gồm Quốc lộ 32C (31 km), Cao tốc Nội Bài - Lào Cai (thông xe tháng 9/2014, dài 10,75 km qua 5 xã, nút giao tại xã Sai Nga), 4 tuyến tỉnh lộ (60 km), đường huyện (68,8 km, nhựa hóa 100%), đường liên thôn (624,2 km, bê tông hóa 455 km). Đường thủy có 6 bến đò. Về mạng lưới điện: năm 1995 mới có 8/31 xã có điện; đến năm 2003 đạt 100% số xã có điện lưới quốc gia; năm 2015 có 1 trạm 110KV, 179 máy biến áp (37.740 KVA). Hệ thống thủy lợi năm 2015 có 147 công trình (73 hồ đập, 45 phai dâng, 26 trạm bơm điện, 80 trạm bơm dã chiến); kiên cố hóa được 98,2 km kênh mương trên tổng số 446,6 km (đạt 39,2%).
- Kinh tế trước năm 1995: Thực hiện Chỉ thị 100 (1981) và Nghị quyết 10 (1988), sản xuất nông nghiệp từng bước phục hồi (năm 1990 sản lượng lương thực quy thóc đạt 32 - 34 ngàn tấn, bình quân 240 kg/người/năm, chăn nuôi tăng 10%/năm, trồng rừng đạt 1.048 ha qua các chương trình PAM và SIAD). Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, giao thông khó khăn, ngập úng và hạn hán xảy ra thường xuyên, hiệu quả kinh tế nhìn chung còn thấp.
Dưới đây là bảng thống kê tổng hợp biến động lao động huyện Cẩm Khê trích xuất từ dữ liệu của luận án:
| Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Năm 1995 |
Năm 2000 |
Năm 2005 |
Năm 2010 |
Năm 2015 |
| Tổng dân số |
Người |
124.610 |
126.741 |
127.850 |
129.215 |
131.003 |
| Dân số trong độ tuổi lao động |
Người |
61.017 |
65.420 |
71.300 |
76.540 |
80.018 |
| Lao động làm việc trong các ngành kinh tế |
Người |
59.426 |
62.150 |
66.890 |
73.120 |
78.995 |
| * Lao động nông - lâm - thủy sản |
Người |
59.087 |
60.120 |
61.200 |
58.450 |
55.230 |
| * Lao động công nghiệp - xây dựng |
Người |
157 |
205 |
542 |
5.820 |
10.875 |
| * Lao động thương mại - dịch vụ |
Người |
182 |
459 |
1.148 |
8.850 |
12.890 |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo |
% |
5,60 |
6,80 |
7,80 |
12,40 |
18,85 |
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
Chương 3 trình bày việc triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển nông - lâm - thủy sản tại địa phương. Về nông nghiệp, diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt được giữ ổn định, năng suất lúa và ngô tăng lên nhờ chuyển đổi giống mới và cải thiện thủy lợi; phát triển cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày; mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm từ quy mô nhỏ lẻ sang gia trại và trang trại. Về lâm nghiệp, thực hiện giao đất giao rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, duy trì diện tích cây cọ truyền thống kết hợp trồng mới keo lá tràm, keo tai tượng và bạch đàn. Về thủy sản, huyện tận dụng hệ thống sông Thao, sông Bứa cùng diện tích mặt nước đầm hồ rộng lớn (đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung...) để phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản, đưa thủy sản từng bước trở thành ngành sản xuất hàng hóa có vị trí quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp huyện.
Chương 4: Kinh tế tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và xây dựng huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015
Chương này làm rõ sự chuyển biến của lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp. Về tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Huyện duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống như nón lá, mây tre đan, chế biến chè, sơ chế nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói). Về công nghiệp và xây dựng: Huyện từng bước quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung, hình thành các cơ sở may mặc, chế biến gỗ, khai thác khoáng sản nhỏ lẻ (kaolin, đá vôi, cát sỏi). Tác giả phân tích số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp và doanh nghiệp xây dựng gia tăng qua các mốc thời gian, nhất là sau khi các tuyến hạ tầng giao thông như Tỉnh lộ 313 nâng cấp và đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai được xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thu hút cơ sở sản xuất.
Chương 5: Kinh tế thương mại và dịch vụ huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015
Chương 5 phân tích quá trình chuyển dịch của ngành thương mại và dịch vụ. Về thương mại: Hệ thống chợ nông thôn tại các xã và thị trấn Sông Thao được đầu tư nâng cấp; số lượng hộ và cơ sở kinh doanh thương nghiệp cá thể tăng nhanh, đảm bảo cung ứng vật tư nông nghiệp và lưu thông hàng hóa nông sản, hàng tiêu dùng. Về dịch vụ: Các hoạt động dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách phát triển theo sự mở rộng của mạng lưới đường bộ; dịch vụ bưu chính - viễn thông, mạng lưới thông tin truyền thông phủ khắp toàn bộ các xã; các dịch vụ tài chính, ngân hàng (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội) mở rộng mạng lưới, cung cấp nguồn vốn vay cho sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp.
Chương 6: Một số nhận xét về kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015
Chương cuối cùng của luận án đánh giá toàn diện bức tranh kinh tế huyện Cẩm Khê qua 20 năm:
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng: Nền kinh tế huyện thoát khỏi tình trạng tự cấp tự túc, quy mô giá trị sản xuất tăng trưởng liên tục qua các giai đoạn 1995 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010 và 2011 - 2015.
- Cơ cấu kinh tế: Có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, dù nông nghiệp vẫn giữ tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động thực tế.
- Tổ chức và quản lý kinh tế: Chuyển đổi mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ gia đình, mô hình kinh tế trang trại và các doanh nghiệp dân doanh tư nhân.
- Tác động của nền kinh tế: Tăng trưởng kinh tế đã góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo nguồn lực đầu tư cho hệ thống trạm y tế, trường học đạt chuẩn quốc gia, giữ vững an ninh trật tự nông thôn. Tuy nhiên, luận án cũng chỉ rõ các vấn đề nảy sinh: ô nhiễm môi trường nông thôn từ rác thải sinh hoạt và chất thải làng nghề, áp lực đất sản xuất khi chuyển đổi mục đích sử dụng, và sự chênh lệch mức sống giữa các xã vùng đồi núi phía tây với các xã đồng bằng ven sông Thao.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo nội dung luận án tự xác định, công trình có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học và lý luận:
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và đầy đủ về bức tranh kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015.
- Công trình phục dựng quá trình phát triển của các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ) trong 20 năm đầu tiên của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một địa bàn cấp huyện miền núi phía Bắc.
- Luận án góp phần phản ánh thực tiễn quá trình đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế tại một huyện có xuất phát điểm thấp, qua đó làm phong phú thêm tư liệu nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Làm rõ những thành tựu đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc và hạn chế nội tại của nền kinh tế huyện Cẩm Khê trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu lịch sử xác thực phục vụ cho các nhà quản lý, lãnh đạo huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ trong việc đánh giá thực trạng, hoạch định chính sách và đề ra giải pháp phát triển kinh tế địa phương trong giai đoạn tiếp theo.
- Đề xuất các định hướng khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, nguồn nước mặt, mạng lưới giao thông liên vùng và đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thúc đẩy kinh tế hàng hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về nguồn tư liệu: Dữ liệu về tài nguyên khoáng sản và nước ngầm trên địa bàn huyện Cẩm Khê chưa được điều tra đánh giá trữ lượng một cách tuyệt đối chính xác mà phần lớn dựa trên số liệu khảo sát sơ bộ và dự báo. Nguồn tài liệu báo chí địa phương tuy phong phú nhưng tính chuẩn xác học thuật chưa đồng đều, đòi hỏi phải đối chiếu cẩn trọng.
- Về phạm vi thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu đến năm 2015, do đó chưa phản ánh được đầy đủ những tác động kinh tế dài hạn sau khi tuyến đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai đi vào vận hành ổn định qua nhiều năm, cũng như những biến chuyển kinh tế mới sau giai đoạn sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã gần đây.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Kéo dài khung thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến nay để thấy rõ hơn sự chuyển biến của kinh tế Cẩm Khê trong giai đoạn công nghiệp hóa sâu rộng hơn.
- Đi sâu nghiên cứu các chuyên đề chuyên biệt như: Hiệu quả kinh tế của các làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; hoặc nghiên cứu chuyển đổi mô hình kinh tế thủy sản tại các vùng hồ, đầm trũng trên địa bàn huyện Cẩm Khê.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử, Lịch sử Đảng và Kinh tế học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận lịch sử kết hợp phân tích số liệu thống kê trong nghiên cứu lịch sử kinh tế địa phương cấp huyện.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng và trường chính trị tỉnh: Có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy phần lịch sử địa phương tỉnh Phú Thọ, lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới (đặc biệt tại Trường Đại học Hùng Vương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên hoạch định chính sách tại huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ: Tham khảo hệ thống dữ liệu chuỗi 20 năm về biến động lao động, cơ cấu mùa vụ, hạ tầng giao thông - thủy lợi - điện lưới, qua đó xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, vị trí địa lý của địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa danh và địa giới hành chính của huyện Cẩm Khê đã trải qua các mốc thay đổi chủ yếu nào từ năm 1977 đến năm 2002?
Ngày 05/7/1977, theo Nghị định 178/CP, huyện Cẩm Khê sáp nhập với huyện Yên Lập và 10 xã của huyện Hạ Hòa thành lập huyện Sông Thao. Đến ngày 22/12/1980, 17 xã của Yên Lập được tách ra để tái lập huyện Yên Lập. Ngày 07/10/1995, 10 xã của Hạ Hòa được tách trả về huyện Hạ Hòa, huyện Sông Thao lúc này trở lại ranh giới của huyện Cẩm Khê cũ gồm 30 xã và 1 thị trấn. Ngày 08/4/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 39-NĐ/CP chính thức đổi tên huyện Sông Thao trở lại tên gọi huyện Cẩm Khê.
2. Hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, thủy lợi) của Cẩm Khê chuyển biến như thế nào trong giai đoạn 1995 - 2015?
Năm 1995, huyện chỉ có 1 km đường nhựa cấp 5 miền núi; đến năm 2015 tổng chiều dài đường bộ đạt 1.157,65 km (gồm 31 km Quốc lộ 32C, 10,75 km đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thông xe tháng 9/2014, 60 km tỉnh lộ, 68,8 km đường huyện được cứng hóa 100%, 455 km đường liên thôn bằng bê tông). Về điện lưới: năm 1995 chỉ có 8/31 xã có điện; đến năm 2003 toàn bộ 31/31 xã đã có điện lưới quốc gia; năm 2015 có 1 trạm 110KV và 179 máy biến áp. Về thủy lợi: từ 58 công trình (năm 1990), đến năm 2015 huyện có 147 công trình tưới tiêu (73 hồ đập, 45 phai dâng, 26 trạm bơm điện, 80 trạm bơm dã chiến) và cứng hóa được 98,2 km kênh mương.
3. Cơ cấu nguồn nhân lực của huyện Cẩm Khê có đặc điểm gì nổi bật qua 20 năm nghiên cứu?
Dân số huyện tăng từ 124.610 người (1995) lên 131.003 người (2015), với mật độ 544 người/km², dân số sống ở nông thôn chiếm 95,6% năm 2015. Lực lượng trong độ tuổi lao động tăng lên 61,08% năm 2015. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 5,6% (1995) lên 18,85% (2015). Cơ cấu lao động dịch chuyển dần từ nông - lâm - thủy sản (giảm từ 59.087 người năm 1995 xuống 55.230 người năm 2015) sang công nghiệp - xây dựng (tăng từ 157 người lên 10.875 người) và thương mại - dịch vụ (tăng từ 182 người lên 12.890 người).
4. Luận án sử dụng những nguồn tư liệu chủ yếu nào để đảm bảo tính xác thực khách quan?
Luận án dựa vào các văn kiện nghị quyết của Đảng và Nhà nước; tài liệu lưu trữ của Huyện ủy, UBND huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ; hệ thống số liệu từ Niên giám thống kê huyện Cẩm Khê và Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ qua các năm (1995 - 2015); báo chí địa phương tỉnh Phú Thọ; cùng tư liệu khảo sát điền dã thực tế và phỏng vấn nhân chứng tại cơ sở.
5. Thế mạnh tự nhiên nổi bật của Cẩm Khê trong phát triển nông nghiệp và thủy sản là gì?
Huyện có mạng lưới sông ngòi, đầm hồ phong phú gồm 21,5 km sông Thao, 5 km sông Bứa, các ngòi Me, ngòi Cỏ, ngòi Giành cùng nhiều hồ đầm lớn (đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung, hồ Ba Vực...). Nguồn nước mặt dồi dào cung cấp nước tưới tiêu và phù sa, đồng thời tạo tiềm năng tự nhiên thuận lợi để huyện phát triển nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực.
Kết luận
Luận án Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015 của tác giả Nguyễn Thị Hương Loan là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tiến trình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Khê trong 20 năm sau ngày tái lập. Tác giả đã phân tích các nhân tố tự nhiên, xã hội, hạ tầng và chủ trương chính sách tác động đến nền kinh tế địa phương; đồng thời tái hiện trung thực thực trạng phát triển của ba nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ qua các chuỗi số liệu thống kê cụ thể. Công trình làm rõ những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu, cải thiện đời sống nhân dân, chỉ ra các hạn chế về chất lượng lao động, hạ tầng kỹ thuật và môi trường, qua đó đóng góp nguồn tư liệu lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý kinh tế địa phương.