Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Chợ ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2015" (trong phần mở đầu, lời cam đoan và giới hạn nội dung tác giả xác định trọng tâm khảo cứu là giai đoạn 1975–2010) do nghiên cứu sinh Lê Quang Cần thực hiện tại Trường Đại học Vinh vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quang Hồng và PGS.TS. Hồ Sơn Đài. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62.13.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chợ truyền thống tại miền Đông Nam Bộ là một bộ phận cấu thành mạng lưới giao thương hàng hóa, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường trao đổi nhằm phục vụ đời sống vật chất của người dân và tạo nguồn thu ngân sách địa phương. Đây là nơi tập trung hàng hóa nông - lâm - thủy hải sản phục vụ nhu cầu tại chỗ, các đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp; đồng thời cung ứng sản phẩm công nghiệp, kim khí, điện gia dụng, vật tư thiết bị cho sinh hoạt và sản xuất.

Miền Đông Nam Bộ là khu vực có tốc độ phát triển chợ truyền thống nhanh trong thời kỳ cải cách, mở cửa và hội nhập. Mặc dù vùng đất này có lịch sử hình thành lâu đời, việc nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển, diện mạo và vai trò của chợ truyền thống trong không gian địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa vẫn chưa có một luận án tiến sĩ sử học nào thực hiện trước thời điểm đề tài được triển khai. Do đó, việc nghiên cứu sự chuyển biến của mạng lưới chợ truyền thống từ năm 1975 đến năm 2010 giải quyết yêu cầu khỏa lấp khoảng trống khoa học trong lịch sử kinh tế - xã hội địa phương và cả nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm hai nội dung chính:

  • Tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống diện mạo hoạt động của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010.
  • Phân tích, đánh giá sự tác động của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế - xã hội của các tầng lớp nhân dân trong không gian và thời gian xác định.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đặt ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể:

  1. Nhiệm vụ thứ nhất: Nêu các nhân tố tác động đến sự hình thành, phân bố, diện mạo và hoạt động của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ.
  2. Nhiệm vụ thứ hai: Trình bày diện mạo về quy mô, hoạt động, phương thức quản lý, đối tượng và hàng hóa trao đổi mua bán tại chợ truyền thống trong giai đoạn 1975–2010.
  3. Nhiệm vụ thứ ba: Dưới góc độ tiếp cận liên ngành, phân tích và đánh giá vai trò, tác động của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010, đặc biệt là giai đoạn đổi mới và hội nhập.
  4. Nhiệm vụ thứ tư: Chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong quá trình đầu tư xây dựng chợ mới, mở rộng chợ cũ, quản lý điều hành chợ; từ đó đề xuất một số kiến nghị với chính quyền địa phương nhằm phát huy vai trò của chợ truyền thống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ. Các hình thức phân phối thời bao cấp (cửa hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, hợp tác xã thương nghiệp quốc doanh) và các mô hình thương mại hiện đại sau năm 1986 (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích) không thuộc đối tượng nghiên cứu chính, chỉ được sử dụng làm cơ sở so sánh, đối chiếu.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2010 (tên bìa ghi đến năm 2015, nhưng toàn bộ nội dung nghiên cứu thực tế và các phân tích số liệu tập trung vào mốc 1975–2010).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 6 tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ theo địa giới hành chính hiện hành, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố hình thành, sự chuyển biến của mạng lưới chợ qua hai giai đoạn (1975–1985 và 1986–2010) trên các mặt quy mô, số lượng, vốn đầu tư, hình thức hoạt động, hàng hóa, cơ chế quản lý; đánh giá tác động kinh tế - xã hội và đề xuất giải pháp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế theo hai trục: nghiên cứu về chợ ở Việt Nam nói chung và nghiên cứu riêng về chợ ở miền Đông Nam Bộ.

Các công trình nghiên cứu về chợ ở Việt Nam

  • Tác giả trong nước:

    • Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (đầu thế kỷ XIX) đã ghi chép về các chợ cổ ở Gia Định (chợ Khung Dung, Bến Thành, Bến Sạn, Điều Khiển, Nguyễn Thực, Tân Cảnh, Sài Gòn) và Trấn Biên (chợ Ngư Tân, Băng Bột, Bà Lỵ, Bình Quý, Bàn Lân, Lò Sắt).
    • Lê Quang Định với Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806, bản dịch năm 2005) mô tả hệ thống trạm điếm và các chợ dọc tuyến giao thông thủy bộ tại dinh Trấn Biên (chợ Phước Liễu, Long Thạnh, Thủ Thiêm, Đồng Môn, Tân Lân, chợ Đồn...) và dinh Phiên Trấn (chợ Quán, Phú Lâm, Rạch Dừa, chợ Đệm, chợ Hôm, chợ Lớn...).
    • Huỳnh Lứa trong Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ (1987) đề cập đến sự hình thành chợ gắn liền với quá trình tụ cư của lưu dân tại Gia Định và Biên Hòa.
    • Lê Quốc Sử trong Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam (1998) thống kê 12 chợ ở Gia Định và 19 chợ ở Biên Hòa thời kỳ phong kiến.
    • Vương Hồng Sển trong Tự vị tiếng nói miền Nam (1999) giải thích địa danh và liệt kê các chợ tồn tại năm 1939 tại Bà Rịa - Vũng Tàu (15 chợ), Đồng Nai và Tân Uyên (15 chợ), Gia Định (26 chợ).
    • Trần Gia Linh với Chợ quê Việt Nam (2008) khảo sát 42 chợ vùng đồng bằng, trung du, miền núi và ven biển từ Bắc Giang đến Phú Yên.
    • Nhâm Hùng trong Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long (2009) nghiên cứu hoạt động thương hồ qua hai thời kỳ: "ngăn sông cấm chợ" (1975–1985) và "phá rào" (1986–2009).
    • Huỳnh Thị Dung trong Chợ Việt (2011) mô tả các loại hình chợ truyền thống trên toàn quốc, có đề cập đến một số chợ tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh.
    • Trịnh Khắc Mạnh với Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia (2015) khảo sát hệ thống chợ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ qua văn bia thời phong kiến.
    • Đặng Phong trong Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới (2015) và Tư duy kinh tế Việt Nam (1975-1989) (2015) phân tích thực trạng "ngăn sông cấm chợ", cơ chế quản lý lưu thông hàng hóa và sự chủ động tìm nguồn lương thực của TP. Hồ Chí Minh.
    • Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử, văn hóa: Nguyễn Văn Hồ (2007) về Chợ nổi Cần Thơ; Nguyễn Thị Hiền (2006) về Chợ ở Thanh Hóa từ năm 1802 đến năm 1945; Nguyễn Thị Thanh Hà (2009) về Chợ ở Nghệ An từ thế kỷ XIX đến năm 1945; Nguyễn Thị Hoa (2011) về Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ.
  • Tác giả nước ngoài:

    • Jean-Pierre Aumiphin (1994), luận án tiến sĩ Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương từ năm 1858 đến năm 1939, đánh giá vai trò thương nhân người Hoa và người Việt trong việc nắm giữ mạng lưới bán buôn và bán lẻ qua chợ.
    • John Barrow (2008) với Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) và Li Tana (2014) trong Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18 ghi nhận các hoạt động trao đổi thương mại tại chợ truyền thống thế kỷ XVII–XVIII.
    • Kirsten W. Endres nghiên cứu về cơ cấu không gian và sự bất cập trong quy hoạch chợ truyền thống tại miền Bắc.
    • Caroline Grillot (2014) nghiên cứu hoạt động chợ cửa khẩu Móng Cái; Esther Horat (2014) phân tích vai trò kinh tế giới của phụ nữ tại chợ Ninh Hiệp; Lisa Barthelmes (2014) nghiên cứu nhóm bán hàng rong tại Hà Nội; Christine Bonnin (2014) nghiên cứu chợ trâu tại Lào Cai.
    • Paul Doumer (2016) trong Hồi ký xứ Đông Dương ghi chép sơ lược về mạng lưới chợ tại các đô thị Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng cuối thế kỷ XIX.

Các công trình nghiên cứu riêng về chợ ở miền Đông Nam Bộ

  • Tác giả trong nước: Các tài liệu địa chí như Địa phương chí tỉnh Phước Tuy năm 1961, Địa phương chí Gia Định năm 1971, Địa chí Đồng Nai (tập IV, 2001), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập 1, 1998); Lê Hương (1970) với Chợ trời biên giới Việt Nam - Cao Miên; Lương Văn Lựu (1971) với Biên Hòa sử lược toàn biên; Nguyễn Đình Đầu (1994) với Địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa; Nguyễn Hoàng Tố Uyên (2006) với Chợ và siêu thị trong đời sống văn hóa; Nguyễn Ngọc Cát (2014) với Chợ Bến Thành qua cuộc trăm năm; Nguyễn Thanh Lợi (2015) với Sài Gòn đất và người (khảo cứu nguồn gốc tên gọi của 362 chợ tại TP. Hồ Chí Minh).
  • Tác giả nước ngoài: Các tập chuyên khảo thời Pháp thuộc như Monographie de la province de Thu Dau Mot (1910), Monographie de la Province de Baria của Fasgigule (1902), Monographie de la Province de Gia Dinh (1902), và Monographie de la province de Biên Hòa 1923 của M. Robert (ghi chép số liệu thu thuế môn bài và thuế chợ thời thuộc Pháp).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trên chủ yếu dừng lại ở việc biên niên sự kiện, liệt kê tên gọi, miêu tả văn hóa dân gian, giới hạn ở thời kỳ phong kiến - thuộc Pháp, hoặc chỉ khảo sát phạm vi một tỉnh/thành phố riêng biệt. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chỉnh thể, có hệ thống về toàn bộ mạng lưới chợ truyền thống trên địa bàn 6 tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử 1975–2010. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng diện mạo, phân tích sự thay đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang đổi mới, và lượng hóa các đóng góp kinh tế - xã hội của chợ truyền thống.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân loại

Luận án căn cứ vào định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt, Từ điển thương mại (Business Dictionary), Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại và Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ để đưa ra khái niệm công cụ:

Chợ là loại hình kinh doanh thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ với nhau, hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông, đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định, phù hợp với nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân trong vùng.

Luận án áp dụng hai tiêu chí phân loại chính:

  1. Theo địa bàn hành chính - địa lý: Chợ làng xã, chợ đô thị, chợ vùng biên giới, chợ ven biển, chợ ven các trục lộ giao thông.
  2. Theo quy chuẩn quản lý nhà nước (Nghị định 02/2003/NĐ-CP): Chợ loại 1 (trên 400 hộ kinh doanh cố định), Chợ loại 2 (từ 100 đến dưới 400 hộ kinh doanh cố định), Chợ loại 3 (dưới 100 hộ kinh doanh hoặc chợ tạm, chợ dân sinh).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử và các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của chợ trong mối liên hệ với tiến trình phát triển kinh tế - chính trị của đất nước.
  • Phương pháp liên ngành:
    • Hồi cố lịch sử và điền dã thực địa: Khảo sát các khu chợ cũ và mới tại 6 tỉnh, thành phố; tiếp xúc thực tế không gian họp chợ.
    • Phỏng vấn và điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra bảng hỏi đối với giới tiểu thương kinh doanh qua hai thời kỳ: phiếu giai đoạn 1975–1985 gồm 20 câu hỏi; phiếu giai đoạn 1986–2010 gồm 20 câu hỏi (đều có xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền cơ sở).
    • Thống kê, so sánh, đối chiếu: Xử lý chuỗi số liệu về mạng lưới chợ, doanh thu, tổng mức bán lẻ, số hộ kinh doanh, số liệu thuế.
    • Phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hệ thống chợ truyền thống trong thế tương quan với siêu thị và trung tâm thương mại.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa Nam Bộ.

Nguồn tài liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu xây dựng luận án gồm:

  • Tài liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; các Văn kiện, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc (lần VI, VIII) và Đại hội Đảng bộ các địa phương; Luật, Nghị định của Chính phủ, Thông tư và Quyết định của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương).
  • Tài liệu số liệu thống kê: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê các tỉnh miền Đông Nam Bộ; báo cáo định kỳ của Sở Thương mại (Sở Công thương) các địa phương.
  • Tài liệu thực tế: Kết quả từ các đợt điền dã khảo sát và bảng hỏi điều tra xã hội học trực tiếp tại các chợ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa, khái niệm về chợ và phân loại chợ trong lịch sử thương nghiệp Việt Nam. Tác giả tiến hành điểm luận chuyên sâu 3 nhóm công trình: các nghiên cứu về chợ Việt Nam của tác giả trong nước; các nghiên cứu về chợ Việt Nam của tác giả nước ngoài; các công trình nghiên cứu riêng về miền Đông Nam Bộ (phân định rõ công trình của học giả Việt Nam và tài liệu chuyên khảo bằng tiếng Pháp thời thuộc địa).

Từ việc chỉ rõ những đóng góp và hạn chế của các công trình tiền nhiệm, chương này xác lập cơ sở khoa học, khẳng định đề tài không trùng lặp và xác định cụ thể 4 nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án phải giải quyết.

Chương 2: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong cơ chế quản lý bao cấp (1975-1985)

Chương 2 trình bày các nhân tố tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến sự phân bố và hoạt động của hệ thống chợ, đồng thời phân tích diện mạo chợ trong giai đoạn 10 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước.

Các nhân tố tự nhiên và dân cư tác động đến mạng lưới chợ

  • Vị trí và địa hình: Vùng có diện tích 23.590,8 km², nằm trên bình nguyên và đồng bằng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long, độ cao từ 100 đến 200 m, thuận lợi mở mang giao thông, hình thành các tuyến chợ ven sông, ven trục lộ.
  • Khí hậu và tài nguyên nước: Khí hậu cận xích đạo nóng ẩm, chế độ thủy triều ổn định. Hệ thống sông Đồng Nai, các hồ nhân tạo lớn (Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ có tổng dung tích thiết kế khoảng 300 triệu m³, lượng mưa tương ứng 183 tỉ m³/năm) cung cấp nguồn thủy sản nước ngọt cho các chợ địa phương.
  • Đất đai và tài nguyên sinh thái: Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 27,1% diện tích tự nhiên với 3 nhóm chính: đất nâu đỏ trên bazan, đất nâu vàng trên bazan và đất xám phù sa cổ, tạo nguồn nông sản phong phú (cao su, cà phê, tiêu, điều, đậu tương, cây ăn trái). Bờ biển dài 350 km với trữ lượng hải sản 290.000–704.000 tấn tạo điều kiện cho mạng lưới chợ ven biển (Bến Đình, Bến Đá, Long Hải, Cần Giờ...) phát triển.
  • Dân cư và các đợt di dân:
    • Đợt di dân "Bắc 1954" đưa gần 1 triệu người vào Nam, hình thành các chợ mang đậm dấu ấn làng quê miền Bắc tại Đồng Nai như: chợ Sặt (phường Tân Biên, Biên Hòa - do giáo dân làng Kẻ Sặt, Hải Dương lập), chợ Bùi Chu (Hố Nai 3, Trảng Bom - người dân huyện Xuân Trường, Nam Định), chợ Phúc Hải (Tân Phong, Biên Hòa - người di cư từ Hải Phòng), chợ Quảng Biên (Quảng Tiến, Trảng Bom - lập năm 1972).
    • Đợt di dân xây dựng kinh tế mới sau năm 1975 và làn sóng nhập cư công nghiệp: Số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy Đông Nam Bộ thu hút hơn 1,6 triệu người di cư thuần trong giai đoạn 2004–2009. Cụ thể:
Vùng xuất cư đến Đông Nam Bộ Số lượng người di cư (người)
Đồng bằng sông Cửu Long > 714.000
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung > 570.000
Đồng bằng sông Hồng > 195.000
Tổng cộng các luồng di cư chính > 1.479.000

Tỷ lệ dân số di cư giữa các tỉnh tại Đông Nam Bộ chiếm trên 14% (trong khi các vùng khác dưới 5%), làm gia tăng quy mô các khu chợ dân sinh quanh khu công nghiệp và khu dân cư.

Hoạt động của chợ thời kỳ bao cấp (1975–1985)

  • Trước năm 1975, miền Đông Nam Bộ có khoảng 130 chợ; riêng Sài Gòn chiếm 453/471 giấy phép môn bài mức 100.000 đồng toàn miền Nam, thương nhân người Hoa chi phối hệ thống "chành, vựa".
  • Sau năm 1975, việc áp dụng cơ chế quản lý quan liêu bao cấp và chủ trương "ngăn sông cấm chợ", hợp tác xã thương nghiệp và cửa hàng quốc doanh độc quyền phân phối theo chế độ tem phiếu (Bảng 2.1: Định mức phân phối nhu yếu phẩm). Chợ truyền thống bị hạn chế tối đa, nhiều sạp hàng đóng cửa, hàng hóa lưu thông bị kiểm soát chặt chẽ qua các trạm kiểm soát liên ngành, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa và hình thành các hình thức chợ trời, chợ đen buôn bán ngầm.

Chương 3: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

Chương 3 tái hiện sự hồi sinh và phát triển của hệ thống chợ qua hai phân kỳ:

Giai đoạn đầu đổi mới (1986–1995)

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), các rào cản lưu thông được dỡ bỏ, thừa nhận kinh tế nhiều thành phần. Chợ truyền thống nhanh chóng phục hồi. Số hộ kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ cá thể gia tăng rõ rệt (Bảng 3.1). Chợ trở lại vai trò trung tâm lưu thông nông sản, hàng tiêu dùng tiểu thủ công nghiệp giữa nông thôn và thành thị.

Giai đoạn hội nhập quốc tế (1995–2010)

Giai đoạn gắn liền với các sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (1995), tham gia ASEM (1996), APEC (1998) và WTO (2007). Mạng lưới chợ phát triển cả về số lượng, quy mô xây dựng kiên cố và bán kiên cố tại các tỉnh:

  • Tác giả thống kê và phân tích quá trình phân bổ số lượng chợ tại Đồng Nai (Bảng 3.4: Số lượng chợ bình phân theo huyện, thị, thành phố giai đoạn 1996–2010), Bà Rịa - Vũng Tàu (Bảng 3.5), Bình Dương (Bảng 3.6), Bình Phước (Bảng 3.7 và Bảng 3.8), Tây Ninh (Bảng 3.9).
  • Sự xuất hiện của các chợ vùng biên giới Việt Nam - Campuchia (Tân Biên, Gò Dầu, Hoa Lư) thúc đẩy giao thương biên mậu.
  • Phân tích tương quan giữa chợ truyền thống với hạ tầng bán lẻ hiện đại thông qua Ma trận SWOT (Bảng 3.10) và Sơ đồ mối quan hệ giữa Chợ truyền thống - Người tiêu dùng - Siêu thị và trung tâm thương mại: Chợ truyền thống giữ ưu thế về độ tươi sống của thực phẩm, thói quen tiêu dùng, tính linh hoạt và giá cả, nhưng bộc lộ điểm yếu về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy (PCCC) và hạ tầng kỹ thuật.

Chương 4: Vai trò tác động của chợ ở miền Đông Nam Bộ đối với đời sống kinh tế - xã hội

Chương 4 lượng hóa và phân tích tác động đa diện của chợ truyền thống:

Tác động đối với đời sống kinh tế

  • Đối với sản xuất nông nghiệp: Đóng vai trò điểm tiêu thụ trực tiếp sản phẩm chăn nuôi và thủy sản. Luận án trích xuất chuỗi dữ liệu nông nghiệp liên quan qua các bảng: số lượng bò (Bảng 4.1), số lượng lợn (Bảng 4.2), số lượng gia cầm (Bảng 4.3) và diện tích nuôi trồng thủy sản (Bảng 4.4).
  • Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Chợ là kênh lưu thông hàng hóa sản xuất nội địa, giải quyết đầu ra cho các cơ sở sản xuất cá thể (Bảng 4.5: Giá trị sản xuất công nghiệp; Bảng 4.6: Doanh thu thuần cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể).
  • Đối với thương nghiệp và ngân sách: Thể hiện qua tỷ trọng đóng góp vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn vùng (Bảng 4.7 và Bảng 4.8). Thống kê số lượng chợ truyền thống hoạt động đến 31/12 hàng năm (Bảng 4.9) và số lượng chợ truyền thống đóng thuế cho ngân sách địa phương (Bảng 4.10).

Tác động đối với đời sống văn hóa - xã hội

  • Giải quyết sinh kế và việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, đặc biệt là nhóm dân cư nông nhàn và lao động nữ di cư từ các vùng miền.
  • Thúc đẩy sự hình thành và biến đổi của tầng lớp tiểu thương mới, định hình nếp sinh hoạt văn hóa thị dân và văn hóa nông thôn mới.
  • Thay đổi bộ mặt không gian đô thị và dân cư nông thôn. Luận án chỉ ra các đặc điểm riêng của chợ miền Đông Nam Bộ: tính chất dung hợp văn hóa vùng miền (thông qua văn hóa bán buôn, hàng hóa của các nhóm cư dân Bắc, Trung, Nam), tính năng động thị trường và vai trò của các chợ đầu mối chuyên doanh nông sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Là công trình sử học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối toàn diện về mạng lưới chợ truyền thống ở toàn bộ 6 tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010.
  • Khảo sát sự chuyển biến của mạng lưới chợ dưới sự tác động của hai cơ chế quản lý kinh tế trái ngược: cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp (1975–1985) và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ đổi mới, hội nhập (1986–2010).
  • Hệ thống hóa nguồn tư liệu phong phú từ lưu trữ nhà nước, niên giám thống kê các địa phương, và hệ tư liệu thực địa thông qua phương pháp phỏng vấn, khảo sát bảng hỏi xã hội học đối với tiểu thương.

Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị của luận án

Luận án chỉ rõ các bất cập trong công tác khảo sát, quy hoạch, đầu tư xây dựng và điều hành chợ tại miền Đông Nam Bộ thời gian qua, như: chợ xây dựng thiếu quy hoạch gây lãng phí, chợ tự phát lấn chiếm lòng lề đường, hạ tầng PCCC và vệ sinh môi trường chưa đảm bảo. Tác giả nêu các kiến nghị thực tế:

  • Chính quyền các địa phương cần hoàn thiện quy hoạch tổng thể mạng lưới chợ gắn liền với quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp và vùng sản xuất nông nghiệp.
  • Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư (xã hội hóa), tránh tình trạng hành chính hóa việc chuyển đổi mô hình chợ sang trung tâm thương mại khi không phù hợp với thói quen người tiêu dùng.
  • Tăng cường công tác quản lý an toàn thực phẩm, đảm bảo điều kiện PCCC, nâng cao năng lực của Ban quản lý chợ và hỗ trợ nghiệp vụ kinh doanh cho tiểu thương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn khảo sát sâu số liệu đến năm 2010, do đó chưa bao quát trọn vẹn sự phát triển bùng nổ của thương mại điện tử, các ứng dụng mua sắm trực tuyến và chuỗi cửa hàng tiện lợi mini sau năm 2015 tại khu vực Đông Nam Bộ. Đề tài chỉ tập trung vào chợ truyền thống nên không đi sâu phân tích toàn diện mạng lưới phân phối hiện đại (siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại cao cấp).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến hoạt động của chợ truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi số kinh tế hiện nay; mở rộng nghiên cứu tác động của thương mại điện tử đối với sinh kế tiểu thương; đánh giá chuyên sâu mô hình liên kết chuỗi từ chợ đầu mối nông sản Đông Nam Bộ đến các thị trường xuất khẩu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu phục vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế, Văn hóa học, Địa lý kinh tế và Nhân học kinh tế có thêm tư liệu thực chứng và khung phương pháp tiếp cận liên ngành khi nghiên cứu về thương mại truyền thống Nam Bộ.
  • Giảng viên: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy lịch sử địa phương các tỉnh miền Đông Nam Bộ, môn học Lịch sử kinh tế Việt Nam và Văn hóa kinh doanh.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý chợ các tỉnh Đông Nam Bộ có thể tham khảo chuỗi số liệu thống kê và các bài học kinh nghiệm trong quy hoạch, nâng cấp hạ tầng chợ dân sinh phù hợp với đời sống người dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Luận án xác định phạm vi thời gian từ năm 1975 đến năm 2010 (dù trang bìa ghi 1975–2015, nhưng văn bản cam đoan và toàn bộ cấu trúc khảo sát tập trung vào 1975–2010). Phạm vi không gian gồm 6 địa phương thuộc miền Đông Nam Bộ: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh.

2. Đợt di dân năm 1954 từ miền Bắc đã hình thành nên những khu chợ đặc thù nào tại tỉnh Đồng Nai?
Đợt di cư "Bắc 1954" đã đưa đông đảo người dân vào Đồng Nai lập nghiệp và hình thành các chợ mang tên quê hương miền Bắc: chợ Sặt (Biên Hòa - người làng Kẻ Sặt, Hải Dương lập), chợ Bùi Chu (Trảng Bom - người dân làng Bùi Chu, Nam Định), chợ Phúc Hải (Biên Hòa - người dân từ Hải Phòng), chợ Quảng Biên (Trảng Bom - lập năm 1972).

3. Hoạt động của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1975–1985 có đặc điểm gì nổi bật?
Dưới cơ chế quản lý quan liêu bao cấp và chính sách "ngăn sông cấm chợ", mạng lưới chợ truyền thống bị thu hẹp đáng kể. Nhà nước thực hiện phân phối độc quyền qua hệ thống cửa hàng lương thực, thực phẩm, hợp tác xã thương nghiệp. Các rào cản lưu thông dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa, từ đó làm xuất hiện các hình thức chợ trời, chợ đen để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân.

4. Luận án đã sử dụng công cụ điều tra thực địa nào để thu thập dữ liệu về tiểu thương?
Tác giả đã triển khai điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trực tiếp tới các tiểu thương gắn bó lâu năm tại các chợ: một bảng hỏi gồm 20 câu dành cho giai đoạn 1975–1985 và một bảng hỏi gồm 20 câu dành cho giai đoạn 1986–2010. Tất cả các phiếu điều tra này đều có xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền địa phương sở tại.

5. Luận án sử dụng mô hình nào để phân tích sự cạnh tranh giữa chợ truyền thống và các loại hình thương mại hiện đại?
Luận án sử dụng Ma trận SWOT (được thể hiện tại Bảng 3.10) kết hợp với Sơ đồ mối quan hệ giữa Chợ truyền thống - Người tiêu dùng - Siêu thị và trung tâm thương mại để đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của mạng lưới chợ truyền thống trong thời kỳ hội nhập.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Quang Cần là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam đã tái hiện bức tranh phát triển của mạng lưới chợ truyền thống tại miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến năm 2010. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử với các kỹ thuật điều tra điền dã và thống kê kinh tế, công trình đã làm sáng tỏ sự chuyển biến của chợ từ thời kỳ quản lý bao cấp đến giai đoạn mở cửa kinh tế và hội nhập quốc tế. Luận án không chỉ khẳng định vị trí và vai trò của chợ truyền thống đối với an sinh xã hội, giải quyết sinh kế và lưu thông nông sản mà còn đưa ra các luận cứ xác đáng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý thương mại tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.