PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông (CSHT-GT) đƣợc coi là giải pháp chiến lƣợc đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế và an ninh - quốc phòng của mỗi quốc gia. Trong giai đoạn 2010-2015, CSHT-GT ở Việt Nam đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ và mang tính đột phá nhƣ mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng. Các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng thủy nội địa đã đƣợc đầu tƣ nâng cấp đáp ứng tốc độ tăng trƣởng vận tải bình quân tăng trên 10%/năm.
Diễn đàn Kinh tế thế giới công bố báo cáo về “Chỉ số cạnh tranh của CSHT- GT giai đoạn 2015-2016” Việt Nam đứng ở vị trí 67 trên 139 nƣớc. So với năm 2010 thì chỉ số cạnh tranh của CSHT-GT Việt Nam đã tăng 36 (năm 2010 là 103/139). Theo Ngân hàng Thế giới, sự phát triển nhanh về CSHT- GT đã thúc đẩy thị trƣờng Logistics ở Việt Nam tăng trƣởng liên tục ở mức 16%-20%/năm. Đóng góp vào sự phát triển CSHT-GT của đất nƣớc, không thể thiếu vai trò của các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông (TCTXDCTGT) thuộc Bộ Giao thông Vận tải (GTVT).
Đây là những doanh nghiệp (DN) hàng đầu ở Việt Nam về xây dựng CSHT-GT. Đã có hàng nghìn Km đƣờng giao thông, hàng trăm cây cầu lớn nhỏ nối liền các miền của tổ quốc đƣợc xây dựng hình thành bởi bàn tay, khối óc của những kỹ sƣ, ngƣời lao động thuộc các TCTXDCTGT góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nƣớc. Có thể kể đến những công trình giao thông độc đáo, kỷ lục nhƣ đƣờng cao tốc Hà Nội-Lao Cai; Cầu Nhật Tân; Hầm Hải Vân… Thực hiện Nghị định 59/2011/NĐ-CP và Nghị định 189/2013/NĐ-CP của Chính phủ, từ năm 2013 đến nay các TCTXDCTGT đã thực hiện cổ phần hóa (CPH) DN. Nhƣ vậy, bên cạnh những cơ hội thì còn nhiều thách thức đặt ra cho các TCTXDCTGT.
Để tăng năng lực cạnh tranh, các TCTXDCTGT cần phải đƣa ra các giải pháp đầu tƣ đổi mới công nghệ và tƣ duy quản lý 2 nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Câu hỏi đặt ra làm thế nào để sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế luôn là yêu cầu quan trọng hàng đầu và nhiệm vụ thƣờng xuyên đối với các nhà quản trị DN. Do đó, việc hoàn thiện công tác kế toán nói chung và kế toán quản trị chi phí xây lắp (KTQTCPXL) nói riêng là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu nhằm cung cấp thông tin kinh tế cần thiết cho các cấp quản lý đƣa ra các quyết định kinh doanh. Nhiệm vụ chính của KTQTCPXL là thu nhận, xử lý thông tin về chi phí xây lắp (CPXL); kiểm tra, giám sát các định mức chi phí (ĐMCP), lập dự toán chi phí (DTCP); cung cấp và phân tích thông tin về CPXL cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của nhà quản trị.
Lĩnh vực kinh doanh chính của các TCTXDCTGT là xây dựng những tuyến đƣờng, những cây cầu có quy mô lớn, kết cấu phức tạp thời gian thi công kéo dài và chịu sự chi phối bởi yếu tố thời tiết. Mỗi công trình giao thông trên phải tuân thủ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật do Nhà nƣớc ban hành. Giá bán đƣợc xác định trƣớc khi tổ chức sản xuất do đó để có lãi các DNXL cần phải áp dụng các phƣơng pháp tổ chức thi công (TCTC) tiên tiến và thích hợp giúp kiểm soát tốt các yếu tố CPXL nhằm hạ giá thành. Qua thực tiễn, KTQTCPXL tại các TCTXDCTGT nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu, đường tại các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình, để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQTCPXL cầu, đƣờng tại các TCTXDCTGT trong trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tổng quan tình hình nghiên cứu kế toán quản trị chi phí xây lắp 2. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Thứ nhất, các nghiên cứu về kế toán quản trị Nghiên cứu về kế toán quản trị (KTQT) đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới bắt đầu thực hiện vào những năm đầu thế kỷ 19, những công trình 3 nghiên cứu về chức năng, vai trò và nội dung KTQT. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: - Các tác giả Kaplan, Robert S., Alkinson, Anthony (2015), “Advanced management accounting”, Prentice Hall, New Jersey[55], đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển KTQT, trình bày các nội dung cơ bản của KTQT: Vai trò của KTQT; phân loại chi phí (CP) theo mức độ hoạt động; phƣơng pháp xác định CP theo hoạt động (ABC); các trung tâm trách nhiệm; thẻ điểm cân bằng. - Nghiên cứu của Kamilah Ahmad (2012) “The use of management accounting practices in Malaysia SMES”[56], trình bày nội dung của KTQT nhƣ phân loại chi phí; lập dự toán; đánh giá hiệu quả hoạt động; công cụ phân tích hỗ trợ ra quyết định áp dụng cho các DN nhỏ và vừa tại Malaysia.
Vào đầu những năm 1990 là khoảng thời gian mà các nhà khoa học trong nƣớc bắt đầu nghiên cứu về KTQT. Đây là những công trình nghiên cứu mang tính định hƣớng ban đầu cho việc áp dụng hệ thống KTQT trong các DN Việt Nam. Các tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa KTQT với kế toán tài chính (KTTC); phân tích vai trò, chức năng, nội dung của KTQT và việc vận dụng các nội dung của KTQT vào các DN Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã đóng góp cho cơ sở lý luận và thực tiễn làm tiền đề cho sự phát triển của KTQT nói chung và KTQTCP sau này.
Giai đoạn từ năm 2005 trở lại đây, có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về những vấn đề của KTQT trong DN nói chung và tại các DN đặc thù. 4 Huỳnh Lợi (2008) “Xây dựng kế toán quản trị trong DN sản xuất ở Việt Nam”[21], tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về KTQT nhƣ vai trò của KTQT trong DN, mô hình và điều kiện áp dụng mô hình KTQT trong mọi loại hình DN sản xuất ở Việt Nam với quy mô khác nhau. Đỗ Thị Thu Hằng (2016) nghiên cứu về “Hoàn thiện kế toán quản trị trong các Tổng công ty ngành xây dựng thuộc Bộ Quốc Phòng”[15], tác giả đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề lý luận chung về KTQT tại DNXL bao gồm các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình thi công, KTQTCP trong DNXL, kế toán trách nhiệm… Đồng thời đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện về KTQTCP trong đó đề xuất vận dụng phƣơng pháp xác định CP hiện đại. Nhƣ vậy, các nghiên cứu này đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về KTQT.
Đồng thời khẳng định KTQT là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý DN. Các nghiên cứu này đã bƣớc đầu giúp cho nhà quản lý và ngƣời làm kế toán nhận thức đƣợc chức năng, vai trò của KTQT. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây mới chỉ manh tính định hƣớng chung cho các DN thuộc các lĩnh vực SXKD. Bên cạnh các nghiên cứu về KTQT áp dụng chung cho DN, còn một số nghiên cứu KTQT áp dụng cho từng ngành cụ thể.
Dƣơng Thị Mai Hà Trâm (2004) Ngành dệt may; Ngụy Thu Hiền (2012) ngành Bƣu chính Viễn thông. Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu về những nội dung cụ thể của KTQT áp dụng riêng cho các DN đặc thù. Các công trình nghiên cứu đều nhận định KTQT chƣa phát huy hết vai trò cung cấp thông tin cho nhà quản lý ra quyết định. Đồng thời, thông tin do KTQT cung cấp chƣa đƣợc các nhà quản lý coi trọng và đầu tƣ đúng mức.
Các tác giả đều chỉ ra vai trò và chức năng của KTQT đối với việc cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị. Thứ hai, các nghiên cứu về KTQTCP tại các DN nói chung. Nghiên cứu về KTQTCP đƣợc phân chia thành các giai đoạn sau: 5 Giai đoạn 1 trƣớc thế kỷ 20, giai đoạn này hình thành KTQT. KTQT sử dụng các phƣơng pháp phân tích các tỷ lệ, các chỉ tiêu tài chính để giúp nhà quản trị quản lý hoạt động SXKD của DN.
Giai đoạn 2 đầu thế kỷ 20 đến trƣớc năm 1970, KTQT đã hình thành thêm các phƣơng pháp xác định điểm hòa vốn, phân tích CP để KSCP. Giai đoạn 3 những năm 1970, KTQT dựa trên các thông tin định lƣợng để phân tích thông tin và ứng xử của CP từ đó xác định lợi nhuận mong muốn giúp nhà quản lý KSCP và ra quyết định. Giai đoạn 4 những năm 1980 đến nay, kết hợp giữa KTQT với quản trị chiến lƣợc hình thành các phƣơng pháp quản trị nhƣ chi phí mục tiêu, quản trị chi phí dựa theo mức độ hoạt động, thẻ điểm cân bằng. Quá trình hình thành, phát triển của KTQT và KTQTCP đƣợc chia thành bốn giai đoạn khác nhau.
Có thể thấy KTQTCP bắt đầu manh nha hình thành ở giai đoạn thứ hai và phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn thứ 4 gắn với các phƣơng pháp quản trị hiện đại. KTQTCP là sự giao thoa giữa KTTC và KTQT. Đã có nhiều học giả nƣớc ngoài nghiên cứu về KTQTCP trong DN, điển hình nhƣ: - Sarah Moll (2005) nghiên cứu về “Activity Based costing in New Zealand”[58], tác giả đã phân tích các thông tin và tính ƣu việt của phƣơng pháp ABC chỉ ra sự khác nhau giữa những DN áp dụng phƣơng pháp ABC và các DN không áp dụng ABC trong mối quan hệ với những lợi thế của ABC.Khataie (2011) nghiên cứu về “Activity-Based costing in supply chain cost management decision support systems”[41], tác giả đã phân tích về phƣơng pháp quản trị CP theo mức độ hoạt động. Theo phƣơng pháp này, CP đƣợc kiểm soát và phân tích trong quy trình thực hiện từng đơn đặt hàng.
- Barfield, Raiborn & Kinney (1998) nghiên cứu về “Cost Accounting: Traditions and Innovations”[43], đã phân biệt sự khác nhau giữa phƣơng pháp xác định CP truyền thống và CP hiện đại. Trong đó nhấn mạnh ƣu điểm 6 của phƣơng pháp ABC là sử dụng nhiều tiêu thức phân bổ CP để biến CP gián tiếp thành CP trực tiếp. - Hanson & Moowen (1997) nghiên cứu về “Cost mamagement: Accounting and Control”[49], các tác giả đã phân tích vai trò kế toán trách nhiệm và chỉ ra các điều kiện để hình thành các trung tâm trách nhiệm trong DN nhƣ phân cấp quản lý; đánh giá trách nhiệm của các bộ phận thông qua các chỉ tiêu; Xác định trách nhiệm báo cáo của từng trung tâm trách nhiệm và Trao phần thƣởng.