Tổng quan luận án

Công trình "Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Thị Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quá trình phát triển kinh tế, lao động cùng với vốn và công nghệ là ba yếu tố đầu vào thiết yếu của sản xuất hiện đại. Toàn cầu hóa và sự phân bố không đồng đều về dân cư, kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia đã thúc đẩy sự phân công lao động trên phạm vi quốc tế, đưa xuất khẩu lao động trở thành một xu thế nhằm cân bằng sức sản xuất giữa các nước thừa lao động và các nước già hóa dân số hoặc thiếu hụt nhân lực.

Đối với Việt Nam, bước sang giai đoạn sau năm 1991, hoạt động xuất khẩu lao động đóng vai trò là một bộ phận của kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Hoạt động này không chỉ gia tăng nguồn thu ngoại tệ, giải quyết việc làm, giảm áp lực thất nghiệp, cải thiện đời sống và xóa đói giảm nghèo, mà còn phản ánh bức tranh thu nhỏ của công cuộc đổi mới trên các phương diện: chính sách đối ngoại, mở rộng thị trường, chuyển đổi cơ chế quản lý sang kinh tế thị trường nhiều thành phần và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, thực tiễn xuất khẩu lao động giai đoạn này cũng bộc lộ những hạn chế: chất lượng lao động chưa cao, chủ yếu là lao động phổ thông; cơ chế quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp còn nhiều bất cập; tình trạng lao động bỏ trốn cư trú bất hợp pháp; việc tổ chức tái hòa nhập và giải quyết việc làm sau khi người lao động về nước chưa đồng bộ. Việc nghiên cứu có hệ thống chặng đường 25 năm (1991–2016) kể từ khi ban hành Nghị định số 370/HĐBT cho đến mốc 30 năm Đổi mới là khoảng trống cần được làm sáng tỏ từ góc độ sử học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu của luận án là làm rõ những vấn đề cơ bản của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016, góp phần làm sáng tỏ hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới và đem lại cái nhìn toàn diện về công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 điểm cụ thể:

  1. Phân tích các nhân tố chủ quan và khách quan tác động đến tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016; cách thức Việt Nam khai thác các điều kiện đó thông qua chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước.
  2. Nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao động trong 25 năm (1991–2016) trên các phương diện: thị trường, trình độ lao động, hình thức xuất khẩu, cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện dưới tác động của bối cảnh quốc tế và trong nước.
  3. Khái quát thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động, nêu rõ những thành tựu nổi bật và các hạn chế còn tồn tại.
  4. Tìm hiểu những đóng góp của hoạt động xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
  5. So sánh những điểm khác biệt của hoạt động xuất khẩu lao động giai đoạn 1991–2016 với giai đoạn 1980–1990.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lĩnh vực xuất khẩu lao động trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016. Luận án giới hạn nghiên cứu ở dòng xuất khẩu lao động chính thức (được cơ quan Nhà nước cấp phép), đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn; không nghiên cứu xuất khẩu lao động không chính thức (tiểu ngạch, chui) hoặc di cư tự do.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2016. Năm 1991 là thời điểm Liên Xô tan rã, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng vùng Vịnh nổ ra làm mất đi các thị trường truyền thống, đồng thời Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 370/HĐBT chuyển hoạt động xuất khẩu lao động sang cơ chế thị trường. Năm 2016 là mốc kỷ niệm 30 năm đổi mới đất nước và 25 năm thực hiện cơ chế xuất khẩu lao động theo Nghị định 370/HĐBT.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào mối quan hệ và quá trình dịch chuyển lao động giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận lao động.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố tác động (quốc tế, trong nước, chính sách); thực trạng hoạt động (hình thức, số lượng, thị trường, cơ cấu); và các tác động kinh tế, xã hội nổi bật nhất đối với Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, chia thành các nhóm nội dung chính:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Nghiên cứu bối cảnh quốc tế và hoạt động xuất khẩu lao động thế giới: Tác giả Nguyễn Thị Hiền (2002) nghiên cứu hội nhập kinh tế khu vực ASEAN; Võ Văn Đức (2004) và Nguyễn Lương Trào (2009) phân tích tác động của toàn cầu hóa đối với thị trường lao động; Nguyễn Quang Hồng (2009, 2012) phân tích xuất khẩu lao động thời kỳ khủng hoảng và năng lực cạnh tranh; John Walsh (2010) đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế đến thị trường lao động Đông Nam Á. Về hoạt động tại các nước, Chinglung Tsay (2002) nghiên cứu dòng lao động Thái Lan sang Đài Loan; Nguyễn Thị Hồng Bích (2007) phân tích kinh nghiệm xuất khẩu lao động của Philippines, Indonesia, Thái Lan; Dang Nguyen Anh (2008) chỉ ra chính sách và thực tiễn di cư lao động của Việt Nam trong khu vực Đông Á; Amarjit Kaur (2009) tiếp cận lịch sử di cư lao động ở Đông Nam Á và trường hợp Malaysia; Phạm Thị Thanh Bình (2010) khảo sát xu hướng di chuyển lao động chuyên môn cao; Pasadilla (2011) và Aysun Uyar Makibayashi (2014) khảo sát chính sách di cư và an sinh xã hội trong khối ASEAN; Vũ Hoàng Mạnh Trung (2017) nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu lao động chất lượng cao.
  • Nghiên cứu về chủ trương, chính sách quản lý nhà nước: Đề tài của Phạm Kiên Cường (1989) nghiên cứu tổ chức sử dụng nguồn lao động làm việc ở nước ngoài; Trần Văn Hằng (1996) nghiên cứu đổi mới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động giai đoạn 1995–2010; Hoàng Kim Ngọc (2009) tổng quan hệ thống chính sách xuất khẩu lao động từ những năm 1980 đến đầu thế kỷ XXI; Phạm Thị Hoàn (2011) làm rõ vai trò quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và người lao động; Nguyen An Ha (2014), Nguyen Ngoc Anh và cộng sự (2015), Achim D. Schmillen và Truman G. Packard (2016) nghiên cứu thể chế, can thiệp chính sách và sự chuyển dịch của thị trường lao động Việt Nam sang cơ chế thị trường.
  • Nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam: Các sách về kinh tế đối ngoại của Thế Đạt (2001), Lê Thanh Bình (2002), Nguyễn Hoàng Giáp (2005), Nguyễn Văn Trình (2007), Nguyễn Thường Lạng (2007). Về thực trạng xuất khẩu lao động, luận án của Nguyễn Tiến Dũng (2010) khảo sát thực trạng giai đoạn 1991–2010; Lưu Văn Hưng (2010, 2011) phân tích xuất khẩu hàng hóa sức lao động trong hội nhập quốc tế; Đoàn Minh Duệ (2011) nghiên cứu số lượng và giải pháp cho lao động ngoài nước đến năm 2020; Bùi Sỹ Tuấn (2011) tiếp cận chất lượng nguồn nhân lực; Nguyễn Thị Hoàng Lan (2013) khảo sát biến động trước và sau khủng hoảng tài chính 2008; Futaba Ishizuka (2013) nghiên cứu chính sách nước tiếp nhận và hiện tượng lao động bỏ trốn; Phung Quang Huy (2008) đánh giá thực tiễn chính sách xuất khẩu lao động của Việt Nam tại diễn đàn PECC-ABAC. Về các thị trường chuyên biệt có nghiên cứu của Phan Cao Nhật Anh (2007) và Đỗ Ánh (2007) về thị trường Đài Loan; Trần Thị Ái Đức (2011) về thị trường Trung Đông; Nguyễn Thị Kim Chi (2014, 2015) về thị trường Malaysia.
  • Nghiên cứu tác động của xuất khẩu lao động: Về mặt kinh tế và kiều hối có Nguyễn Hồng Thu (2010), Nguyễn Thị Ngọc Loan (2013), Nguyễn Đức Thành và Hoàng Thị Chinh Thon (2012), Nguyễn Kim Anh (2017), Nguyen Minh Thao. Về mặt xã hội có Hoàng Minh Hà (2006), Nguyễn Huyền Lê (2009), Nguyễn Vĩnh Giang (2011), báo cáo "Review of Vietnamese migration abroad" (2012), bài viết của Việt Hùng và Nguyễn Trường (2012), Nguyễn Thanh Hòa (2014), Nguyen Chi Hong (2014), Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014) về góc độ giới, Nghiêm Thị Thủy (2016) về việc chăm sóc trẻ em trong gia đình có cha mẹ đi xuất khẩu lao động, Thanh Nga (2019) về thực tế đời sống thôn quê.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Từ việc đánh giá tổng quan, tác giả xác định các công trình trước phần lớn tiếp cận dưới góc độ kinh tế ngành, nghiên cứu các khía cạnh độc lập hoặc phạm vi thời gian chỉ dừng lại ở thập niên đầu thế kỷ XXI. Luận án lựa chọn giải quyết ba vấn đề:

  1. Phân tích hệ thống những yếu tố tác động (quốc tế và trong nước) chi phối đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước giai đoạn 1991–2016.
  2. Phục dựng bức tranh toàn diện, liên tục về thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam trong suốt 25 năm đổi mới (1991–2016).
  3. Đánh giá tác động đa chiều về kinh tế và xã hội, trong đó lấp đầy khoảng trống tư liệu về đời sống của người lao động ở nước ngoài và tình hình của họ sau khi kết thúc hợp đồng về nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm

Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận Mác-xít về nghiên cứu lịch sử, kết hợp các lý thuyết về phân công lao động quốc tế, thương mại dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ toàn cầu hóa. Luận án sử dụng khái niệm xuất khẩu lao động như một hình thức kinh tế đối ngoại, trong đó các tổ chức được cấp phép đưa công dân đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các hợp đồng ký kết, tuân thủ pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ đạo: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp thu thập, sắp xếp và khôi phục tiến trình diễn biến của hoạt động xuất khẩu lao động trong 25 năm (1991–2016). Phương pháp logic được áp dụng để phân tích bản chất, tìm ra quy luật chuyển biến, mối quan hệ nhân quả giữa bối cảnh trong nước, quốc tế với các quyết sách quản lý, từ đó đánh giá tác động kinh tế – xã hội.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu và phương pháp so sánh lịch sử (so sánh giai đoạn 1991–2016 với giai đoạn 1980–1990).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu sử học với các phương pháp của kinh tế học và xã hội học, đặc biệt là phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát điền dã thực tế.

Nguồn tư liệu

  • Văn bản pháp quy: Văn kiện, nghị quyết của Đảng; các quyết định, chỉ thị, nghị định của Chính phủ (Quyết định số 46-CP, Chỉ thị số 108/CT-HĐBT, Nghị định số 370/HĐBT...) và các luật lao động.
  • Tài liệu lưu trữ, thống kê: Báo cáo kinh tế – xã hội định kỳ, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB) thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Di dân Quốc tế.
  • Tư liệu điền dã, điều tra xã hội học: Luận án sử dụng số liệu điều tra trực tiếp tại 3 địa bàn cơ sở: xã Kì Châu (huyện Kì Anh, tỉnh Hà Tĩnh), xã Hương Ngải (huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội) và xã Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội).
  • Tài liệu tham khảo: Các sách chuyên khảo, bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu lao động theo 4 mảng lớn: bối cảnh quốc tế và kinh nghiệm các nước; cơ chế, chính sách quản lý nhà nước; thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam; tác động kinh tế và xã hội của hoạt động này.

Trên cơ sở điểm luận, tác giả chỉ ra các công trình đi trước đã làm rõ bối cảnh và chính sách ở từng thời điểm nhưng chủ yếu phân tích lát cắt ngắn (dừng lại trước năm 2011), tiếp cận thuần túy kinh tế học hoặc chỉ tập trung vào một vài thị trường nhất định. Chương này xác định rõ khoảng trống khoa học cần bổ khuyết và nêu ba nhóm vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016

Chương 2 làm rõ tiền đề lịch sử trước năm 1991, phân tích bối cảnh quốc tế, bối cảnh trong nước và sự hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 1991–2016.

1. Hoạt động xuất khẩu lao động trước năm 1991

Trước năm 1991, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được triển khai trên cơ sở các hiệp định hợp tác quốc tế giữa Chính phủ Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, khởi đầu từ Quyết định số 46-CP ngày 11/2/1980 của Hội đồng Chính phủ. Giai đoạn này do Nhà nước trực tiếp thực hiện cơ chế bao cấp, làm thay các tổ chức kinh tế nhằm bồi dưỡng tay nghề, kỹ thuật và hỗ trợ các nước bạn giải quyết khó khăn nhân lực.

Giai đoạn Tổng số lao động (người) Lao động Nam (người / %) Lao động Nữ (người / %) Lao động có nghề (%) Tiền gửi về (triệu đồng)
1980–1986 66.279 39.657 (59,8%) 26.622 (40,2%) 57,67% 577 (tăng từ ~1 lên 433 triệu)
1987–1990 161.000 96.000 (59,6%) 65.000 (41,6%) 36,56% Số lượng biến động mạnh

Năm 1988 đạt đỉnh với hơn 71.000 người xuất khẩu. Tuy nhiên, đến năm 1989–1990, số lượng sụt giảm nghiêm trọng do hai biến cố địa chính trị: sự khủng hoảng rồi sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (Việt Nam mất đi thị trường tiếp nhận chính); và cuộc khủng hoảng vùng Vịnh (1990–1991) buộc Việt Nam phải sơ tán khẩn cấp hơn 17.000 lao động tại Iraq về nước. Trước tình hình đó, Chỉ thị số 108/CT-HĐBT ngày 30/6/1988 đã khẳng định mở rộng hợp tác lao động là nhiệm vụ chiến lược lâu dài để phát huy tiềm năng lao động, giải quyết việc làm và tăng thu ngoại tệ.

2. Bối cảnh quốc tế từ sau năm 1991

  • Cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa: Làm thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới, giảm tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy luân chuyển vốn, công nghệ và lao động quốc tế. Di chuyển lao động nội khối (như EU, ASEAN) phát triển mạnh.
  • Sự phân hóa thu nhập giữa các quốc gia: Thúc đẩy dòng di cư từ các nước thu nhập thấp sang các nước phát triển để tìm kiếm việc làm.
Năm Nhật Bản (USD) Singapore (USD) Hồng Kông (USD) Việt Nam (USD) Lào (USD)
1991 28.590 Khoảng 10.000–40.000 Khoảng 10.000–40.000 Khoảng 1.000 Khoảng 1.000
1995 42.110 - - Khoảng 1.000 Khoảng 1.000
2016 - 52.520 - Khoảng 2.000 Khoảng 2.000

Ghi chú số liệu: Năm 1991, GNI/người của Nhật Bản gấp 259 lần Việt Nam, 136 lần Lào và 81 lần Trung Quốc. Năm 2016, Singapore có mức GNI/người gấp 25 lần Việt Nam.

  • Xu hướng già hóa dân số ở các nước phát triển: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của các nước tiếp nhận ở mức thấp (năm 2016: Nhật Bản -0,1%, Hàn Quốc 0,5%, Đức 0,8%, Mỹ 0,7%), dẫn tới thiếu hụt trầm trọng lao động phổ thông và kỹ thuật trung bình, buộc các nước này phải mở rộng tiếp nhận lao động nhập cư.
  • Sự gia tăng quy mô di cư lao động toàn cầu: Theo Liên hợp quốc, tổng số lao động di cư toàn cầu tăng từ 156 triệu người (1990) lên 191 triệu người (2005) và đạt 232 triệu người (2015). Trong đó, lao động châu Á chiếm từ 60% đến 85% tổng số lao động tham gia xuất khẩu trên thế giới.
  • Các cú sốc và khủng hoảng kinh tế: Khủng hoảng tài chính châu Á (1997–1998), dịch SARS (2003), khủng hoảng kinh tế thế giới (2008) và biến động chính trị tại Libya (2011) làm suy giảm tạm thời nhu cầu tiếp nhận, dẫn tới tình trạng lao động phải về nước trước hạn và gia tăng lao động bất hợp pháp.

3. Bối cảnh trong nước và chủ trương, chính sách

  • Kinh tế trong nước tăng trưởng liên tục: GDP Việt Nam tăng từ 7,64 tỷ USD (1991) lên 205,3 tỷ USD (2016), tức tăng 26,8 lần; tốc độ tăng GDP bình quân trên 5%/năm (thấp nhất là 4,8% năm 1999, cao nhất gần 10% các năm 1995–1996). Tỷ lệ lạm phát giảm từ trên 700% (1986) xuống 12% (1995), đạt mức thấp kỷ lục 0,63% (2015) và ở mức 2,4% (2016).
  • Quy mô dân số và áp lực việc làm: Dân số tăng nhanh (đạt trên 66 triệu người năm 1990, tăng tự nhiên khoảng 1,5%), tạo ra nguồn lao động dồi daw nhưng tỷ lệ qua đào tạo còn thấp, dẫn tới áp lực thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao.
  • Chính sách của Nhà nước: Bước ngoặt căn bản là Nghị định số 370/HĐBT (năm 1991) chuyển dịch hoạt động xuất khẩu lao động từ cơ chế hợp tác hành chính nhà nước sang cơ chế thị trường, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cho phép các doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ lao động.

Chương 3: Tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016

Chương 3 tái hiện chi tiết thực trạng triển khai hoạt động xuất khẩu lao động theo các nội dung cấu trúc:

  • Về hệ thống quản lý: Nhà nước chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng pháp luật, thể chế hóa qua các bộ luật lao động, nghị định của Chính phủ, quy chế cấp phép và thành lập Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB) thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng sự ra đời của Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS).
  • Về hình thức xuất khẩu lao động: Hoạt động qua 4 hình thức chính:
    1. Xuất khẩu qua các doanh nghiệp và tổ chức sự nghiệp được cấp phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (hình thức chiếm tỷ trọng lớn nhất).
    2. Xuất khẩu thông qua hình thức nhận thầu, trúng thầu dự án và đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.
    3. Xuất khẩu lao động theo hợp đồng cá nhân trực tiếp ký kết với người sử dụng lao động nước ngoài.
    4. Xuất khẩu dưới dạng tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng nhằm nâng cao tay nghề (đặc biệt tại Nhật Bản, Hàn Quốc).
  • Về thị trường xuất khẩu và số lượng lao động: Phản ánh sự chuyển hướng từ thị trường các nước XHCN sang các thị trường mới:
    • Khu vực Đông Bắc Á: Trở thành thị trường trọng điểm, tiếp nhận số lượng lớn nhất, gồm Đài Loan (thị trường tiếp nhận lao động quy mô lớn và ổn định), Nhật Bản (chủ yếu theo chương trình thực tập sinh kỹ năng), Hàn Quốc (thông qua chương trình cấp phép việc làm EPS hợp tác với HRD Korea).
    • Khu vực Đông Nam Á: Malaysia (thị trường lao động phổ thông lớn từ năm 2002), Lào (lao động xây dựng, hợp tác biên giới).
    • Khu vực Trung Đông và châu Phi: Các nước vùng Vịnh (Ả Rập Xê Út, UAE...) và Libya (tiếp nhận nhiều lao động xây dựng, dịch vụ).
    • Khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương: Tiếp nhận số lượng ít hơn nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn hoặc theo các hiệp định hợp tác lao động cụ thể.
  • Về cơ cấu xuất khẩu lao động:
    • Theo trình độ chuyên môn và ngành nghề: Lao động phổ thông, giản đơn vẫn chiếm tỷ trọng cao; lao động kỹ thuật, có nghề qua đào tạo tăng dần nhưng chậm; tập trung vào cơ khí, xây dựng, dệt may, nông nghiệp, giúp việc gia đình và hộ lý điều dưỡng.
    • Theo giới tính: Lao động nam chiếm đa số ở các ngành xây dựng, cơ khí; lao động nữ tập trung ở ngành may mặc, giúp việc gia đình, chăm sóc người già.
    • Theo địa phương, vùng miền: Lao động tập trung đông ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng (như Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Nội...).

Chương 4: Tác động của hoạt động xuất khẩu lao động đến kinh tế - xã hội Việt Nam

Chương 4 phân tích hai nhóm tác động lớn và chỉ rõ những mặt hạn chế:

  • Tác động về kinh tế:
    • Gia tăng nguồn thu ngoại tệ và lượng kiều hối gửi về nước (giai đoạn 1998–2015), hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế và ổn định tỷ giá.
    • Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đối ngoại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước; kích thích các ngành liên quan như ngân hàng chuyển tiền, giáo dục nghề nghiệp và vận tải hàng không.
    • Tạo nguồn tích lũy vốn cho người lao động và hộ gia đình (số liệu điều tra tại xã Kì Châu, huyện Kì Anh, Hà Tĩnh cho thấy các hộ có người đi xuất khẩu tích lũy được nguồn vốn đáng kể để đầu tư sản xuất kinh doanh).
    • Hình thành bộ phận nhân lực có tác phong công nghiệp và tay nghề kỹ thuật sau thời gian làm việc ở nước ngoài trở về.
  • Tác động về xã hội:
    • Giải quyết việc làm cho hàng vạn đến hàng trăm nghìn lao động mỗi năm, giảm bớt áp lực thất nghiệp và thiếu việc làm trong nước (giai đoạn 1996–2016).
    • Cải thiện mức sống, góp phần xóa đói giảm nghèo tại các địa phương khó khăn; số liệu khảo sát tại xã Phú Nghĩa (Chương Mỹ, Hà Nội) và xã Kì Châu (Kì Anh, Hà Tĩnh) ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt, điều kiện nhà ở và trang thiết bị sinh hoạt được nâng cấp.
    • Thúc đẩy chuyển biến văn hóa, nâng cao hiểu biết pháp luật và nhận thức xã hội của người lao động.
  • Một số vấn đề còn tồn tại:
    • Tỷ lệ lao động bỏ trốn hợp đồng, ở lại cư trú và làm việc bất hợp pháp cao (đặc biệt tại Hàn Quốc và Nhật Bản), gây tổn hại đến hình ảnh quốc gia và làm gián đoạn thị trường.
    • Doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động còn tình trạng thu phí vượt trần, thông tin không minh bạch; năng lực xử lý rủi ro khi xảy ra tranh chấp hoặc biến cố chính trị tại nước tiếp nhận còn lúng túng.
    • Chưa xây dựng được hệ thống kết nối việc làm hiệu quả để tiếp nhận và sử dụng nguồn lao động sau khi về nước, gây lãng phí kỹ năng đã tích lũy.
    • Các hệ lụy xã hội: tình trạng gia đình ly tán, tỷ lệ ly hôn gia tăng, trẻ em thiếu sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ, làng quê thiếu hụt lực lượng lao động trẻ tại chỗ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  • Luận án đã khôi phục một cách có hệ thống, toàn diện và khoa học bức tranh xuất khẩu lao động của Việt Nam trong 25 năm (1991–2016), làm sáng tỏ các biến động về thị trường tiếp nhận, số lượng, quy mô, cơ cấu và trình độ lao động.
  • Bước đầu làm rõ những điểm khác biệt căn bản giữa xuất khẩu lao động giai đoạn 1991–2016 so với giai đoạn 1980–1990: chuyển từ hợp tác tương trợ xã hội chủ nghĩa dựa trên phân bổ chỉ tiêu hành chính nhà nước sang cơ chế thị trường tự chủ, định hướng đa phương hóa, đa dạng hóa đối tác, cạnh tranh theo cung – cầu lao động quốc tế.
  • Khẳng định xuất khẩu lao động là một bộ phận không thể tách rời của kinh tế đối ngoại và là một hình ảnh phản ánh chân thực tiến trình Đổi mới của Việt Nam trên các mặt kinh tế, thể chế và xã hội.

Đóng góp về thực tiễn và giải pháp

  • Cung cấp luận cứ thực tiễn tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng như các cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác quản lý.
  • Cung cấp thông tin thực chứng về thị trường và cơ cấu lao động để các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động định hướng tuyển dụng, đào tạo nghề và bảo hộ quyền lợi người lao động.
  • Luận án là nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống, có thể ứng dụng để xây dựng chuyên đề giảng dạy về Lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới trong hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng và phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Do phạm vi xác định, luận án mới chỉ tập trung khảo sát kênh xuất khẩu lao động chính thức có hợp đồng và có thời hạn, chưa bao quát được các luồng di cư lao động không chính thức, di cư tự do qua đường tiểu ngạch sang các nước láng giềng.
    • Nguồn dữ liệu điều tra xã hội học và khảo sát điền dã thực tế mới chỉ thực hiện tại 3 xã thuộc hai tỉnh/thành phố (Hà Nội và Hà Tĩnh), chưa phản ánh hết tính đặc thù của hoạt động xuất khẩu lao động tại các vùng miền khác như Tây Nguyên hay Tây Nam Bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2016 đến nay dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và cách mạng công nghiệp 4.0.
    • Nghiên cứu sâu hơn cơ chế thị trường trong việc sử dụng và tái hòa nhập lực lượng lao động sau khi hết hạn hợp đồng về nước.
    • Điều tra toàn diện về các dòng di cư lao động quốc tế tự do và các biện pháp bảo hộ công dân trong bối cảnh xung đột khu vực và thiên tai dịch bệnh mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, DOLAB): Cung cấp tư liệu phân tích chính sách qua 25 năm, giúp đánh giá hiệu lực của hệ thống văn bản pháp lý, từ đó cải tiến công tác cấp phép, kiểm tra doanh nghiệp dịch vụ và xây dựng các chương trình đào tạo định hướng.
  • Đối với các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Giúp nắm bắt tổng quan các chu kỳ biến động thị trường (Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Đông), nhận diện rủi ro pháp lý và tranh chấp lao động để hoàn thiện quy trình tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ, tay nghề.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Lịch sử, Kinh tế đối ngoại, Xã hội học: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo khi nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam hiện đại, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1986–2016 và các vấn đề an sinh xã hội thời kỳ Đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trước năm 1991 diễn ra theo cơ chế nào và kết quả ra sao?
Trước năm 1991, hoạt động này dựa trên Quyết định số 46-CP (ngày 11/2/1980), thực hiện theo các hiệp định song phương giữa Chính phủ Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, CHDC Đức, Bungari, Tiệp Khắc). Nhà nước thực hiện quản lý bao cấp toàn diện. Giai đoạn 1980–1986 đưa được 66.279 người; giai đoạn 1987–1990 đưa được 161.000 người (đỉnh cao năm 1988 đạt 71.000 người). Sau đó số lượng sụt giảm mạnh do sự sụp đổ của hệ thống XHCN Đông Âu và cuộc khủng hoảng vùng Vịnh năm 1990–1991.

2. Nghị định số 370/HĐBT năm 1991 có vai trò bước ngoặt như thế nào đối với xuất khẩu lao động?
Nghị định số 370/HĐBT đã chính thức chuyển đổi hoạt động xuất khẩu lao động sang cơ chế thị trường và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Văn bản này xóa bỏ cơ chế nhà nước bao cấp trực tiếp, cho phép các doanh nghiệp kinh tế tham gia hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập và bổ sung nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.

3. Tác động của cuộc khủng hoảng vùng Vịnh (1990–1991) đối với lao động Việt Nam ở nước ngoài là gì?
Khi chiến sự bùng nổ giữa Iraq và lực lượng liên quân, hơn mười nghìn lao động Việt Nam làm việc tại Iraq bị đe dọa trực tiếp về tính mạng. Nhà nước Việt Nam đã tổ chức một chiến dịch khẩn cấp sơ tán an toàn hơn 17.000 lao động tại Iraq về nước, khiến thị trường Trung Đông giai đoạn này tạm thời bị gián đoạn hoàn toàn.

4. Đâu là các thị trường tiếp nhận lao động chính của Việt Nam giai đoạn 1991–2016?
Thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam được tái định hình, tập trung chủ yếu vào: khu vực Đông Bắc Á (Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc) - khu vực tiếp nhận số lượng lớn và thu nhập cao nhất; khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Lào); khu vực Trung Đông và châu Phi (Ả Rập Xê Út, UAE, Libya); cùng một tỷ lệ nhỏ tại châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương.

5. Những hạn chế xã hội nổi bật nhất của hoạt động xuất khẩu lao động được luận án chỉ ra là gì?
Đó là tình trạng lao động bỏ trốn cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài (chủ yếu tại Hàn Quốc, Nhật Bản); chi phí xuất cảnh bị doanh nghiệp nâng cao; việc làm sau khi về nước chưa được bố trí phù hợp; và các hệ lụy đời sống gia đình ở nông thôn như tình trạng ly hôn, trẻ em thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, làng quê vắng bóng lực lượng lao động trẻ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016" của tác giả Nguyễn Thùy Linh là công trình khoa học chuyên khảo khôi phục bức tranh toàn cảnh về hoạt động xuất khẩu lao động trong 25 năm đổi mới. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, logic và điều tra điền dã liên ngành, luận án đã làm rõ sự chuyển đổi căn bản từ cơ chế hợp tác hành chính nhà nước sang cơ chế thị trường theo tinh thần Nghị định 370/HĐBT, cùng những chuyển dịch sâu sắc về quy mô, thị trường và cơ cấu lao động. Công trình không chỉ đánh giá khách quan các đóng góp kinh tế – xã hội cùng các mặt hạn chế còn tồn tại, mà còn là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý lao động ngoài nước và giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại.