Chương 1 từ trang 3 đến trang 24 đã phân tích về bản chất, mục đích, nguồn, cấu trúc của Luật hình sự và có những nội dung đề cập đến bản chất, chức năng của hình phạt. Giáo sư TS Larry J. Siegel của Trường ĐH Massachusetts_Lowell trong cuốn sách Tội phạm học (Criminology)24 có phần giới thiệu, bình luận lịch sử của Luật hình sự, lịch sử các học thuyết tội phạm học với những nội dung liên quan đến lịch sử hình phạt có nhiều giá trị tham khảo. Nghiên cứu lý luận về hình phạt được thực hiện rất nhiều trên thế giới mà luận án có thể kế thừa.
Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ gần như không được đề cập đến một cách trực tiếp mà chủ yếu ở các vấn đề lý luận có liên quan như chính sách thay thế hình phạt tù, chính sách tiết kiệm cưỡng chế hình sự. Tình hình nghiên cứu này xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất, pháp luật hình sự của nhiều nước không có sự phân chia hệ thống hình phạt thành hai nhóm là hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Thứ hai, hệ thống hình phạt của các nước quy định khác nhau về các hình phạt không giam giữ cụ thể. Một số công trình nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo cho nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ như: Tài liệu Sổ tay về Các nguyên tắc cơ bản và yêu cầu thực tiễn của các biện pháp thay thế hình phạt tù (Hanbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment) của UNODC25 là tài liệu chính thức của Liên Hiệp 22 Marc O.DeGirolami, Tlđd số 14, tr.
23 Peter Gillies (1990), Criminal Law, The Law Book Company Limited, tr. Siegel (1999), Criminology, West Publishing Company. 25 UNODC (2007), Hanbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, Publish forms online, tr. 12 Quốc nhằm giải thích và hướng dẫn cho Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên Hợp Quốc về những biện pháp không giam giữ năm 1990 (gọi tắt là Quy tắc Tokyo).
Tài liệu đã đề cập đến một số lý do của việc sử dụng các biện pháp thay thế hình phạt tù mà tác giả có thể tham khảo để nghiên cứu lý luận của hình phạt chính không giam giữ. Bài viết Các hiệu quả của chế tài giam giữ so với chế tài không giam giữ trong tái phạm: Bài học từ việc đánh giá hệ thống (The Effects of Custodial vs. Non- Custodial sanctions on reoffending: Lesson from a systematic review) của tác giả Killias, M và Villettaz, P, trường Đại học Lausanne, Thụy Sỹ26. Các tác giả đã xác định các biện pháp được xem là chế tài không giam giữ (hay còn gọi là chế tài không giam giữ) đưa ra nhiều kết luận quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp này đối với vấn đề tái phạm kể cả hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.
Tình hình nghiên cứu quy định về các hình phạt chính không giam giữ trong pháp luật hình sự một số quốc gia Hình phạt không giam giữ được quy định phổ biến trong hệ thống hình phạt của các nước. Trong xu thế hiện nay các hình phạt chính không giam giữ ngày càng phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt. Do vậy các nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ trong quy định của pháp luật hình sự của các quốc gia rất phong phú và có nhiều giá trị tham khảo. Hình phạt tiền và hình phạt hạn chế tự do là hai hình phạt chính không giam giữ được quy định phổ biến trong pháp luật hình sự của các nước.
Một số công trình tiêu biểu như: Bài viết Phạt tiền và phạt tiền theo ngày (Fines and Day Fines) của Giáo sư Sally T. Hillsman 27 phân tích hình phạt tiền và phạt tiền theo ngày trong quy định của pháp luật hình sự của Hoa Kỳ và so sánh với pháp luật các nước ở Châu Âu. Bài viết Học thuyết tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự của Đức (Theory of Crime and Punishment in German Criminal Law) 28 phân tích, bình luận các học thuyết về tội phạm và học thuyết hình phạt ảnh hưởng trong Luật hình sự của Đức từ trước đến nay. Công trình có giá trị tham khảo lớn khi luận án nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự nước ngoài và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Tiến sĩ Pat O’Malley của Trường ĐH Sydney trong bài viết Lý thuyết hình 26 Killias.
P (2008), “The Effects of Custodial vs. Non-Custodial sanctions on reoffending: Lesson from a systematic review”, Psicothema, 20 (1), tr. Hillsman (1990), “Fines and Day Fines”, Crime & Just (49), The University of Chicago. 28 Markus Dirk Dubber (2005), “Theory of Crime and Punishment in German Criminal Law”, University at Buffalo Law School, Legal Studies Research Paper (02); 13 phạt tiền (Theorizing Fines)29 đã lý giải sự thay đổi quan điểm về hình phạt tiền trong lịch sử Luật hình sự.
Tiến sĩ Wang Shizhuo của Trường Đại học Bắc Kinh có bài viết Nhìn nhận lại về mục đích của hình phạt (Rethinking The Purpose of Criminal Punishment)30 đã trình bày quan điểm về việc đánh giá lại mục đích của hình phạt và phân tích, bình luận mục đích của hình phạt trong pháp luật hình sự Trung Hoa. Theo đó kết luận pháp luật hình sự Trung Hoa xác định quan niệm về hình phạt dựa trên học thuyết liên hợp trong đó nhấn mạnh yếu tố phòng ngừa tội phạm. Bên cạnh hình phạt tiền, các nghiên cứu ở nước ngoài trong khoảng thời gian từ thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay có xu hướng tập trung nhiều vào các hình thức cưỡng chế hình sự mang tính chất hạn chế tự do của người phạm tội dưới dạng hình phạt hoặc các biện pháp hình sự khác. Các biện pháp này có nhiều tên gọi và hình thức khác nhau như chế tài cộng đồng (community sanctions), hình phạt cộng đồng (community penalty), quản chế (probation), quản chế bằng vòng điện tử (electronic monitoring).
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Bài viết Các tiêu chuẩn pháp lý và giới hạn của các chế tài cộng đồng (Legal Standards and the Limits of Community Sanctions) của tác giả D.van Zyl Smit.31 Tác giả phân tích các giới hạn chung, các công cụ pháp lý quốc tế, qua đó đề xuất các giới hạn pháp lý áp dụng cho chế tài cộng đồng. Bài viết Đánh giá sự ảnh hưởng của hình phạt cộng đồng (Evaluating the Impact of Community Penalties) của George Mair.32 Tác giả tập trung vào các nội dung lớn như quá trình tranh luận về hiệu quả của các hình phạt cộng đồng, các điểm chung liên quan đến sự đánh giá. Qua đó, đánh giá hiệu quả hiện tại của biện pháp quản chế của Vương quốc Anh và xứ Wales và các bài học rút ra từ việc đánh giá hiệu quả của biện pháp quản chế. Bài viết Các chế tài cộng đồng và hình phạt học Châu Âu (Community sanctions and European penology) của Giáo sư Fergus McNeill thuộc trường Đại học Glassgrow trong sách chuyên khảo Hình phạt học Châu Âu (European Penology).33 Tác giả đã phân tích các định nghĩa và phạm vi của các chế tài cộng đồng, trong đó tập 29 Pat O’Malley (2009), “Theorizing Fines”, The University of Sydney, Sydney Law School Legal Studies Research, (85).
30 Wang Shizhuo (2010), Tlđd số 16, tr.van Zyl Smit (1993), “Legal Standards and the Limits of Community Sanctions”, Eur. 32 George Mair (1995), “Evaluating the Impact of Community Penalties”, 2 U. Content downloaded/printed from HeinOnline (http://heinonline.org) Wed Nov 25 05:42:54 2015. Snacken, S and Van Zyl Smit, D.
14 trung nhiều vào hoạt động giám sát. Bài viết đã đưa ra các đánh giá quan trọng cho các quy định và thực tiễn của hoạt động giám sát trong các chế tài cộng đồng của các nước Châu Âu. Trong khoa học pháp lý hình sự, nghiên cứu về hình phạt rất phát triển ở nước ngoài đặc biệt từ cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, trãi trên nhiều phương diện từ lý luận hình phạt đặc biệt là các học thuyết hình phạt, nghiên cứu các hình phạt cụ thể, đánh giá mức độ hiệu quả của các hình phạt. Khi làn sóng nhân đạo cũng như vấn đề bảo đảm quyền con người đang là xu hướng chung của thế giới thì các nghiên cứu về hình phạt càng được quan tâm đặc biệt là các hình phạt không tước quyền sống hoặc sự tự do.
Các nghiên cứu về hình phạt ở nước ngoài có giá trị tham khảo rất lớn cho luận án, tuy nhiên các tài liệu nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ chưa tập trung và trực tiếp.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu về lý luận hình phạt và hình phạt chính không giam giữ Nghiên cứu lý luận về hình phạt đã được tiến hành từ rất sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam và luôn mang tính thời sự trong hoạt động khoa học. Các nghiên cứu lý luận về hình phạt thường tập trung vào các vấn đề lớn gồm bản chất của hình phạt, khái niệm hình phạt, mục đích của hình phạt. Các quan điểm khác nhau về hình phạt của khoa học luật hình sự thế giới cũng ảnh hưởng đến khoa học pháp lý hình sự Việt Nam.TS Trần Văn Độ trong bài viết Quan niệm về hình phạt, trong chuyên đề BLHS: thực trạng và phương hướng đổi mới đã nhận định rằng từ trước đến nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có thể chia thành hai nhóm quan điểm: 1) coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho người phạm tội; 2) coi hình phạt là công cụ pháp lý để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội”.34 Trong hai quan điểm trên thì quan điểm xem hình phạt là công cụ pháp lý để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, công cụ để giáo dục, cải tạo người phạm tội là quan điểm chủ đạo của khoa học Luật hình sự Việt Nam, thể hiện trong quy định của BLHS.
34 Trần Văn Độ (1994), Quan niệm về hình phạt, trong chuyên đề: BLHS: thực trạng và phương hướng đổi mới, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội, tr. 15 Vấn đề khái niệm, bản chất và mục đích của hình phạt được nghiên cứu nhiều trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Các công trình tiêu biểu bao gồm: Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ tư pháp35 là công trình nghiên cứu chuyên sâu và tập trung nhất về hình phạt trong giai đoạn trước khi có BLHS năm 1999.