Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu một số bài tập phát triển kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ 3 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực tp hcm

Nghiên cứu bài tập phát triển kỹ năng vận động cho trẻ 3-6 tuổi tại TP.HCM, phương pháp hiệu quả giúp trẻ phát triển toàn diện thể chất và tinh thần.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

242
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục KNVĐCB cho trẻ MG

1.2. Một số khái niệm liên quan đến bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG

1.3. Giáo dục mầm non

1.4. Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

1.5. Vận động cơ bản – biểu tượng vận động cơ bản

1.6. Kĩ năng vận động cơ bản

1.7. Bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ

1.8. Đặc điểm phát triển KNVĐCB ở trẻ lứa tuổi MG

1.9. Đặc điểm phát triển tâm vận động của trẻ MG

1.10. Đặc điểm phát triển sinh lí vận động của trẻ MG

1.11. Đặc điểm phát triển KNVĐCB của trẻ MG (3 – 6 tuổi)

1.12. Nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi

1.13. Bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi theo Chương trình giáo dục mầm non

1.14. Các hoạt động giáo dục phát triển KNVĐCB tại trường MN

1.15. Hình thức tập luyện bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG

1.16. Hệ thống các phương pháp giáo dục KNVĐCB cho trẻ MG

1.17. Đánh giá phát triển KNVĐCB cho trẻ tại trường MN

1.18. Tổng quan tình hình nghiên cứu về bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG trên thế giới và tại Việt Nam

1.18.1. Một số công trình nghiên cứu về bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG tiêu biểu trên thế giới

1.18.2. Một số công trình nghiên cứu về bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG tiêu biểu tại Việt Nam

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Khách thể nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi anket

2.2.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.2.4. Phương pháp thực nghiệm

2.2.5. Phương pháp toán thống kê

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.4. Tổ chức nghiên cứu

2.5. Kế hoạch nghiên cứu

2.6. Địa điểm nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Nghiên cứu xây dựng test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường MN khu vực TP

3.1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn lựa chọn các test đánh giá KNVĐCB ở trẻ 3 – 6 tuổi tại trường MN khu vực TP

3.1.2. Xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ MG tại trường MN khu vực TP

3.1.3. Bàn luận về xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ MG tại TP

3.2. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục phát triển KNVĐCB của trẻ MG 3 – 6 tuổi tại các trường MN khu vực TP

3.2.1. Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục KNVĐCB cho trẻ tại một số trường MN ở TP

3.2.2. Thực trạng phát triển KNVĐCB của trẻ MG tại một số trường MN khu vực TP

3.2.3. Bàn luận về kết quả đánh giá thực trạng công tác tổ chức các hoạt động giáo dục KNVĐCB cho trẻ MG tại các trường MN ở TP

3.3. Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nâng cao hiệu quả phát triển KNVĐCB cho trẻ MG tại các trường MN ở TP

3.3.1. Cơ sở thực tiễn để xây dựng bài tập nâng cao hiệu quả phát triển KNVĐCB cho trẻ MG tại TP

3.3.2. Thiết kế và lựa chọn bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ MG (3 – 6 tuổi) trên địa bàn TP

3.3.3. Tổ chức thực nghiệm

3.3.4. So sánh KNVĐCB của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

3.3.5. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ KNVĐCB của trẻ MG ở nhóm TN và ĐC

3.3.6. Đánh giá sự phát triển các KNVĐCB của trẻ MG nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm

3.3.7. So sánh KNVĐCB của trẻ MG (3 – 6 tuổi) ở nhóm TN và nhóm ĐC khu vực nội và ngoại thành sau TN

3.3.8. So sánh KNVĐCB của trẻ 3 – 6 tuổi ở nhóm TN và nhóm ĐC sau TN thông qua xếp loại vận động

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nghiên cứu bài tập phát triển kỹ năng vận động cho trẻ 3 6 tuổi

Nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng và đánh giá hiệu quả của các bài tập phát triển kỹ năng vận động cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi tại các trường mầm non ở TP.HCM. Các bài tập được thiết kế nhằm cải thiện kỹ năng vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, và ném. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm để so sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng, từ đó đánh giá sự tiến bộ của trẻ.

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về phát triển thể chấtgiáo dục mầm non, đồng thời phân tích thực trạng tổ chức các hoạt động thể chất tại các trường mầm non ở TP.HCM. Các khái niệm liên quan đến kỹ năng vận động cơ bảnphương pháp giáo dục được làm rõ, giúp xác định mục tiêu và phương pháp nghiên cứu.

1.2. Thiết kế bài tập

Các bài tập vận động được thiết kế phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 3-6 tuổi. Nghiên cứu đề xuất các bài tập như đi bộ trên đường thẳng, nhảy qua vòng, và ném bóng vào rổ. Các bài tập này được lồng ghép vào các hoạt động hàng ngày của trẻ tại trường mầm non.

II. Phương pháp nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của các bài tập phát triển kỹ năng vận động. Các test đánh giá được xây dựng để đo lường sự tiến bộ của trẻ. Kết quả được phân tích bằng phương pháp toán thống kê, giúp đưa ra kết luận khoa học về hiệu quả của các bài tập.

2.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là trẻ từ 3 đến 6 tuổi tại các trường mầm non ở TP.HCM. Khách thể nghiên cứu bao gồm giáo viên và phụ huynh, những người trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục và phát triển kỹ năng vận động của trẻ.

2.2. Phương pháp thực nghiệm

Nghiên cứu tiến hành thực nghiệm trên hai nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm được áp dụng các bài tập vận động mới, trong khi nhóm đối chứng tiếp tục theo chương trình hiện có. Kết quả được so sánh để đánh giá hiệu quả của các bài tập.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các bài tập phát triển kỹ năng vận động có tác động tích cực đến sự phát triển thể chất của trẻ. Nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt về kỹ năng vận động cơ bản so với nhóm đối chứng. Nghiên cứu đề xuất áp dụng các bài tập này vào chương trình giáo dục mầm non tại TP.HCM.

3.1. Đánh giá kết quả

Kết quả thực nghiệm được đánh giá thông qua các test đo lường kỹ năng vận động cơ bản. Trẻ trong nhóm thực nghiệm có sự cải thiện đáng kể về tốc độ, sự linh hoạt và khả năng phối hợp so với nhóm đối chứng.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đề xuất áp dụng các bài tập vận động vào chương trình giáo dục mầm non tại TP.HCM. Các bài tập này có thể được lồng ghép vào các hoạt động hàng ngày của trẻ, giúp phát triển toàn diện về thể chất và kỹ năng vận động.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu một số bài tập phát triển kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ 3 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này. Tại Điều 22 Luật Giáo dục (2005) của nước ta xác định “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”. Nhiệm vụ của GDMN hiện nay là: giáo dục sức khoẻ, giáo dục và phát triển hoạt động nhận thức, phát triển ngôn ngữ, giáo dục tình cảm đạo đức – xã hội, giáo dục thẩm mĩ. Theo sự phát triển của xã hội hiện đại, các mô hình giáo dục cho trẻ lứa tuổi mầm non (MN) ngày càng chú trọng đến sự phát triển các năng lực bản thân của trẻ thông qua các hoạt động ngoài trời cũng như cho trẻ trải nghiệm thực hành theo hướng phát triển tự do ở từng trẻ, kích thích trẻ tích cực tham gia các hoạt động và sáng tạo.

Phương pháp GDMN hiện đại thống nhất quan điểm là trẻ học thông qua chơi và hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục trẻ tại các trường mầm non. Bên cạnh đó, môi trường học tập của trẻ tại trường MN cũng chú trọng đến sự tương tác giữa trẻ với nhau, giữa trẻ với giáo viên và thế giới bên ngoài thông qua các hoạt động vui chơi. Chương trình GDMN tại Anh được thiết kế để trẻ vừa chơi vừa học giúp phát triển tối đa về thể chất, trí tuệ và tâm hồn của trẻ thông qua 6 lĩnh vực học tập: giao tiếp và ngôn ngữ, phát triển thể chất, phát triển cá nhân xã hội và cảm xúc, toán học, hiểu về thế giới, nghệ thuật thể hiện và thiết kế. Tại Nhật Bản, hoạt động giáo dục cho trẻ MG chú trọng đến tính kỹ luật, gọn gàng, tinh thần vượt khó, khả năng làm việc nhóm,… áp dụng mô hình giáo dục linh hoạt, chú trọng đến năng lực riêng của từng trẻ để áp dụng phương pháp dạy và học cá thể hoá.

Trong khi đó chương trình GDMN tại Canada lại rất thành công trong phương pháp giáo dục sớm và dạy học tích hợp, các nội dung và phương pháp dạy học được xây dựng phù hợp với tậm lý trẻ và giúp trẻ có được một nền tảng về trí tuệ, xã hội, tình cảm, thể chất và sáng tạo cũng như các kỹ năng mềm. Mô hình giáo dục tiếp cận tích hợp cũng được thể hiện trong chương trình GDMN của 2 Newzealand với mục tiêu phát triển trẻ có khả năng giao tiếp và tự tin, khoẻ mạnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Triết lý GDMN ở Hà Quốc thì cho rằng cần giúp trẻ phát triển hài hoà, cân đối về thể chất, tinh thần và nhân cách. Nắm bắt được những quan điểm giáo dục cho trẻ ở lứa tuổi MN hiện nay trên thế giới, ngày 25/7/2009 Bộ GD&ĐT đã ban hành Chương trình GDMN kèm theo Thông tư 17/2009/TT-BGDDT, được sửa đổi bổ sung lần thứ 1 theo Thông tư 28/2016/TT-BGDDT ban hành ngày 30/12/2016 và bổ sửa đổi bổ sung lần thứ 2 tại Thông tư 51/2020/TT-BGDDT ban hành ngày 31/12/2020.

Chương trình thể hiện quan điểm giáo dục trẻ toàn diện, tích hợp, lấy trẻ làm trung tâm với phương châm giáo dục “chơi mà học, học bằng chơi”. Khác với các chương trình trước đây có tính ổn định cao về nội dung, chương trình GDMN hiện nay chỉ quy định cụ thể về các nội dung cốt lõi ở từng độ tuổi: mục tiêu, kế hoạch thực hiện, nội dung chăm sóc và giáo dục, kết quả mong đợi, các hoạt động giáo dục – hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ (được gọi là chương trình khung). Các trường MN căn cứ vào điều kiện thực tế của từng vùng miền, từng địa phương, đối tượng người học, điều kiện tổ chức, cơ sở vật chất… mà xây dựng xây dựng kế hoạch năm học và tổ chức thực hiện chương trình cụ thể (được gọi là chương trình chi tiết) phù hợp với từng địa phương, chú trọng đến các hoạt động giáo dục phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ. Các hoạt động giáo dục của trẻ tại trường MN được xây dựng dựa trên nhu cầu hoạt động vận động của trẻ để đáp lại sự tác động của thế giới khách quan.

Để giúp trẻ có thể tham gia và trải nghiệm các hoạt động giáo dục tại trường MN thì một trong những yếu tố quan trọng chính là trẻ được trang bị kỹ năng vận động cơ bản (KNVĐCB) phù hợp với độ tuổi và năng lực vận động của trẻ. Rèn luyện các tư thế vận động và hình thành các KNVĐCB theo độ tuổi là một trong những nội dung trong lĩnh vực giáo dục phát triển vận động (PTVĐ) được quy định trong chương trình GDMN. Các bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ hiện nay được thực hiện linh động và lồng ghép vào các hoạt động giáo dục đặc trưng tại trường MN như: thể dục sáng, tiết thể dục (hoạt 3 động học có chủ đích), hoạt động ở các góc, hoạt động chơi ngoài trời, hoạt động sinh hoạt chiều… Tuy nhiên thực tế hiện nay, nhiều giáo viên thiếu tính sáng tạo trong việc xây dựng nội dung giáo dục trong đó có giáo dục PTVĐ cho trẻ, chưa phát huy được khả năng của trẻ và đặc điểm địa phương, phương pháp và hình thức giáo dục KNVĐCB còn bó hẹp theo hướng truyền thống chưa tiếp cận được với các xu hướng giáo dục hiện đại, tiên tiến trên thế giới. Sự hiểu biết về chuyên môn trong giáo dục thể chất (GDTC), đặc biệt là trong lĩnh vực PTVĐ cho trẻ của nhiều GVMN còn hạn chế.

Giáo viên chưa xác định được khả năng vận động của trẻ và các bài tập phát triển KNVĐCB đáp ứng được nhu cầu vận động của trẻ qua các độ tuổi, các bài tập chủ yếu là rập khuôn theo nội dung của chương trình khung. Hình thức tổ chức giờ học và phương pháp dạy học chứa có sự đổi mới và linh hoạt, chưa thể hiện được nét đặc trưng ở khu vực TP. Việc lựa chọn và sắp xếp các nội dung giáo dục KNVĐCB còn rập khuôn, chưa sáng tạo và chưa phát huy được sự chủ động tích cực trong vận động của trẻ. Các hoạt động vận động chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức chứ chưa thể hiện được quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, phát huy năng lực vận động cá nhận của trẻ.

Ngày 25/02/2014, Bộ GD&ĐT ban hành Kế hoạch triển khai chuyên đề “Nâng cao chất lượng giáo dục PTVĐ cho trẻ trong trường mầm non, giai đoạn 2013 - 2016” kèm theo Công văn số 808/BGDĐT-GDMN với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục PTVĐ giúp cơ thể trẻ phát trẻ phát triển tố chất nhanh, bền, dẻo dai và khéo léo góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của trẻ em Việt Nam. Trong mục tiêu cụ thể có xác định “Nâng cao chất lượng giáo dục PTVĐ cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục trong các cơ sở GDMN: Tăng cường thời lượng vận động cho trẻ; Tăng cường hệ thống bài tập vận động giúp trẻ mạnh dạn - tự tin, nhanh nhẹn, khéo léo, khỏe mạnh; Đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động PTVĐ, tăng cường tính độc lập, tự chủ của trẻ.” Qua đó chúng ta có thể thấy công tác giáo dục PTVĐ nói chung và giáo dục KNVĐCB nói riêng cho trẻ MG hiện nay đang được sự quan tâm sâu sắc từ các cấp lãnh đạo. Trong những năm qua, ở nước ta đã có một số ít công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề khác nhau trong công tác tổ chức hoạt động PTVĐ cho trẻ 4 độ tuổi MN. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu sâu về bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ mẫu giáo (MG) từ 3 - 6 tuổi tại từng địa phương và những vấn đề liên quan còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Mặt khác, khu vực TP.HCM mang nét đặc trưng riêng biệt về điều kiện địa lý, tự nhiên, sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới những nét đặc thù riêng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục PTVĐ phù hợp với nhu của địa phương. Điều này cho thấy việc nghiên cứu các giải pháp và xác định được một số bài tập phát triển KNVĐCB phù hợp với từng độ tuổi cho trẻ MG tại trường MN phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại TP. HCM là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những bất cập hiện nay trong việc lựa chọn các bài tập phát triển KNVĐCB trong các hoạt động giáo dục vận động cho trẻ MG (3-6 tuổi) tại các trường MN ở TP.HCM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án: "Nghiên cứu một b i tập p át triể kĩ ă vậ độ cơ bả c o trẻ 3 - 6 tuổi tại các trườ mầm o k u vực TP.HCM” Mục đíc iê cứu Thông qua nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục PTVĐ cho trẻ tại các trường MN và đánh giá sự phát triển KNVĐCB của trẻ MG làm cơ sở để luận án xây dựng các bài tập giúp phát triển KNVĐCB cho trẻ MG tại các trường MN ở TP.

Mục tiêu iê cứu. Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án đã thực hiện 03 mục tiêu nghiên cứu sau đây: * Mục tiêu 1: Nghiên cứu xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP.HCM - Xác định cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP.HCM - Khảo sát và lựa chọn các test phù hợp để đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP. HCM - Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tại TP. HCM 5 * Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục phát triển KNVĐCB của trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường MN khu vực TP.HCM - Đánh giá thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại một số trường MN ở TP.HCM - Đánh giá thực trạng phát triển KNVĐCB của trẻ từ 3 – 6 tuổi tại một số trường MN khu vực TP.

* Mục tiêu 3: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường MN khu vực TP.HCM - Nghiên cứu cơ sở thực tiễn để xây dựng các bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại trường MN khu vực TP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu bài tập phát triển kỹ năng vận động cho trẻ 3-6 tuổi tại TP.HCM là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc thiết kế và áp dụng các bài tập nhằm nâng cao kỹ năng vận động cho trẻ trong độ tuổi mầm non. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở lý thuyết mà còn đưa ra các phương pháp thực tiễn, giúp giáo viên và phụ huynh hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc phát triển thể chất trong giai đoạn đầu đời của trẻ. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh vào việc tạo ra môi trường học tập và vui chơi phù hợp để trẻ phát triển toàn diện.

Để mở rộng kiến thức về giáo dục mầm non, bạn có thể tham khảo thêm Luận án giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ chuẩn bị vào lớp 1, nghiên cứu này tập trung vào việc chuẩn bị tâm lý và kỹ năng cần thiết cho trẻ trước khi bước vào môi trường tiểu học. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non tại TP.HCM sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quá trình đào tạo và nâng cao năng lực của giáo viên mầm non. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi cung cấp những phương pháp hiệu quả để rèn luyện tính tự lập cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mang đến góc nhìn đa chiều về giáo dục mầm non, giúp bạn có thêm công cụ để hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ.