Luận án tiến sĩ đối chiếu ngôn ngữ của bài báo tạp chí tài chính tiếng anh và tiếng việt

Luận án tiến sĩ phân tích đối chiếu ngôn ngữ bài báo tạp chí tài chính tiếng Anh và tiếng Việt, khám phá sự khác biệt và tương đồng trong diễn đạt chuyên ngành.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

293
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và cơ sở lý thuyết

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc đối chiếu ngôn ngữ của bài báo tạp chí tài chính bằng tiếng Anhtiếng Việt từ góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích và so sánh các đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong hai ngôn ngữ, đồng thời tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ. Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday được sử dụng làm khung lý thuyết chính, tập trung vào ba siêu chức năng: chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng văn bản.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận án tiến sĩ là phân tích ngôn ngữ của bài báo tạp chí tài chính từ góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống, tìm ra các đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong tiếng Anhtiếng Việt. Nghiên cứu cũng nhằm đối chiếu hai ngôn ngữ để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt, hỗ trợ các nhà nghiên cứu và sinh viên trong lĩnh vực tài chính sử dụng ngôn ngữ một cách khoa học.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp miêu tả, phân tích diễn ngôn, so sánh đối chiếuthống kê. Phương pháp phân tích diễn ngôn dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống giúp làm rõ các đặc trưng về Trường, Không khíCách thức trong các bài báo tài chính. Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.

II. Đối chiếu đặc điểm Trường

Chương này tập trung vào việc phân tích và đối chiếu các kiểu quá trìnhchu cảnh trong bài báo tạp chí tài chính bằng tiếng Anhtiếng Việt. Các kiểu quá trình bao gồm quá trình quan hệ, vật chất, hiện hữu, tinh thần, phát ngôn và hành vi. Chu cảnh được phân tích dựa trên các yếu tố thời gian, không gian và quan điểm. Kết quả cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng các quá trình và chu cảnh giữa hai ngôn ngữ.

2.1. Kiểu quá trình

Các kiểu quá trình trong bài báo tạp chí tài chính được phân tích dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống. Quá trình quan hệ và vật chất xuất hiện phổ biến trong cả tiếng Anhtiếng Việt, trong khi quá trình tinh thần và phát ngôn có sự khác biệt đáng kể giữa hai ngôn ngữ.

2.2. Chu cảnh

Chu cảnh được phân tích dựa trên các yếu tố thời gian, không gian và quan điểm. Kết quả cho thấy tiếng Anh thường sử dụng chu cảnh thời gian và không gian một cách chi tiết hơn so với tiếng Việt, trong khi chu cảnh quan điểm có sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

III. Đối chiếu đặc điểm Không khí

Chương này tập trung vào việc phân tích và đối chiếu các kiểu thứctình thái trong bài báo tạp chí tài chính bằng tiếng Anhtiếng Việt. Các kiểu thức bao gồm thức khẳng định, phủ định và nghi vấn. Tình thái được phân tích dựa trên các yếu tố tình thái động từ và tình thái từ. Kết quả cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng thức và tình thái giữa hai ngôn ngữ.

3.1. Kiểu thức

Các kiểu thức trong bài báo tạp chí tài chính được phân tích dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống. Tiếng Anh thường sử dụng thức khẳng định và phủ định một cách rõ ràng hơn so với tiếng Việt, trong khi thức nghi vấn có sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

3.2. Tình thái

Tình thái được phân tích dựa trên các yếu tố tình thái động từ và tình thái từ. Kết quả cho thấy tiếng Việt thường sử dụng tình thái từ một cách linh hoạt hơn so với tiếng Anh, trong khi tình thái động từ có sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

IV. Đối chiếu đặc điểm Cách thức

Chương này tập trung vào việc phân tích và đối chiếu các cấu trúc Đề-Thuyết, quy chiếuliên kết logic trong bài báo tạp chí tài chính bằng tiếng Anhtiếng Việt. Cấu trúc Đề-Thuyết được phân tích dựa trên các yếu tố đề ngữ đơn và đề ngữ đa. Quy chiếu và liên kết logic được phân tích dựa trên các yếu tố quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định. Kết quả cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng các cấu trúc này giữa hai ngôn ngữ.

4.1. Cấu trúc Đề Thuyết

Các cấu trúc Đề-Thuyết trong bài báo tạp chí tài chính được phân tích dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống. Tiếng Anh thường sử dụng đề ngữ đơn một cách rõ ràng hơn so với tiếng Việt, trong khi đề ngữ đa có sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

4.2. Quy chiếu và liên kết logic

Quy chiếuliên kết logic được phân tích dựa trên các yếu tố quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định. Kết quả cho thấy tiếng Việt thường sử dụng quy chiếu ngôi một cách linh hoạt hơn so với tiếng Anh, trong khi liên kết logic có sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đối chiếu ngôn ngữ của bài báo tạp chí tài chính tiếng anh và tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo, luận án gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết. Trong chương này, luận án tổng quan về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận án như tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trên các phương diện như lý thuyết về diễn ngôn, thực tiễn vận dụng phân tích diễn ngôn và các nghiên cứu về diễn ngôn kinh tế. Ngoài ra, luận án cũng xây dựng cơ sở lý thuyết về diễn ngôn (văn bản), phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, khái niệm và cấu trúc của bài báo khoa học, phong cách và phong cách khoa học, ngữ vực, ngữ pháp chức năng hệ thống (SFL) của Halliday trên các phương diện Trường, Không khí và Cách thức nhằm biểu đạt nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân, nghĩa văn bản và phương pháp so sánh đối chiếu. Chƣơng 2: Đối chiếu đặc điểm của Trường trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt.

Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích các kiểu quá trình và chu cảnh; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Trường trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm của Không khí trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích các kiểu thức và tình thái; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Không khí trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. 8 Chƣơng 4: Đối chiếu đặc điểm của Cách thức trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt.

Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích cấu trúc Đề-Thuyết, quy chiếu, liên kết logic; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Cách thức trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để có được hướng tiếp cận đề tài, chương này sẽ giải quyết một số vấn đề cơ bản sau. Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và về các lý thuyết liên quan đến diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, các ứng dụng của phân tích diễn ngôn, phân tích diễn ngôn dựa vào ngữ pháp chức năng hệ thống. Thứ hai, trình bày các khái niệm về diễn ngôn (văn bản), phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, định nghĩa và cấu trúc của bài báo khoa học, đặc điểm ngôn ngữ của các bài báo trong tạp chí chuyên ngành Tài chính, các khái niệm về phong cách và phong cách khoa học, thể loại, ngữ cảnh và ngữ vực, các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday (SFG), khái niệm cú trong tiếng Anh và tiếng Việt và khái niệm về ngôn ngữ so sánh, đối chiếu.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Lý thuyết về diễn ngôn Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh của diễn ngôn như liên kết văn bản, kết cấu văn bản. Khi bàn về mối quan hệ giữa liên kết văn bản và kết cấu văn bản, các tác giả đã đề cập đến đến các công cụ liên kết về mặt ngữ nghĩa như Halliday, M. Theo Halliday (1976), tính liên kết trong văn bản là một yếu tố tạo ra sự kết nối về ngữ nghĩa của chúng.

Các tác giả đã liệt kê các yếu tố tạo nên sự liên kết trong văn bản như hệ quy chiếu, tỉnh lược, phép thế, từ nối, liên kết từ vựng. Cụ thể, các tác giả cho rằng liên kết là một thành tố cấu thành văn bản trong hệ thống ngôn ngữ. Các 10 yếu tố liên kết là công cụ để các yếu tố ngôn ngữ không có mối liên hệ với nhau về mặt cấu trúc lại được liên kết với nhau thông qua sự phụ thuộc của yếu tố này vào yếu tố kia để hiểu nghĩa (“Cohesion, therefore, is part of the text-forming component in the linguistic system. It is the means whereby elements that are structurally unrelated to one another are linked together, through the dependence of one on the other for its interpretation.

Khi đề cập đến cách tiếp cận nghiên cứu của Halliday and Hasan về tính liên kết Halliday, M. (1976) [123], chúng tôi nhận thấy các chỉ tố diễn ngôn đa dạng và phong phú và có mối liên hệ giữa các chỉ tố diễn ngôn và bối cảnh. Các kết quả nghiên cứu này đã đóng góp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ ở khía cạnh nghĩa của từ và chức năng ngôn ngữ. Một khía cạnh nghiên cứu nữa được các tác giả bàn đến đó là vấn đề ngữ vực trong phân tích diễn ngôn.

Tác giả cũng nhấn mạnh thêm rằng việc tổ chức sắp xếp ngôn ngữ phản ánh ba loại nghĩa tương ứng với ba siêu chức năng - đó là nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản (“All languages are organized around two main kinds of meaning, the ideational‟ or reflective, and the interpersonal or active and combined with these is a third metafunctional component, the textual‟), which breathes relevance into the other two” [113, p. Các tác giả như Sinclair, & Coulthard (1975) [179], Halliday, M.M (1975) [179], Eggins, S &Slade, D (1997) [80], Louhiala-Salminen, L(1999) [160] khi bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, ý nghĩa và bối cảnh đã đưa ra các quan điểm, nhận định khác nhau về mối quan hệ giữa các chỉ tố diễn ngôn và tính liên kết. Halliday (1976) cho rằng nghĩa 11 ngoại tại cố hữu trong bản thân hiện tượng được nói về, còn nghĩa nội tại cố hữu trong quá trình giao tiếp và ý nghĩa này phụ thuộc vào sự lựa chọn vai giao tiếp, kênh giao tiếp và thái độ giao tiếp [123, p. Một khía cạnh khác trong nghiên cứu diễn ngôn được nhiều học giả quan tâm đó là mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ nghĩa bao gồm các nghiên cứu về sự thay đổi của nghĩa như trong tác phẩm của Shuy (2001) [176], hay nghiên cứu về yếu tố tình huống được đề cập đến trong việc hiểu nghĩa của thông điệp giao tiếp, mối quan hệ giữa ngôn ngữ, ngữ nghĩa, văn hóa của Bloom Field (1984).

Trong tác phẩm của mình, ông cho rằng “định nghĩa về nghĩa bao gồm tình huống ở đó người nói phát ngôn và người nghe phản hồi lại phát ngôn” [52, p. Ngoài ra, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh trong diễn ngôn cũng được quan tâm nghiên cứu. Nhiều tác giả đã đưa ra các nhận định khác nhau về vai trò của bối cảnh trong phân tích diễn ngôn. Trong Discourse Analysis, Harris cho rằng từ bối cảnh tình huống chúng ta có thể suy ra những gì người nói đang nói (“from the situation that they are in, how to interpret what someone says”).

Nhận định của Harris cho thấy vai trò quan trọng của bối cảnh tình huống trong giao tiếp. Tác giả cho rằng nếu không có ngữ cảnh tình huống thì những gì người phát ngôn muốn nói sẽ bị hiểu sai lệch [143]. Cùng quan điểm với Harris, Vandijk có một số quan điểm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh. Tác giả cho rằng bối cảnh là yếu tố không những tạo ra tính đơn nhất của mỗi văn bản mà còn tạo ra nền tảng cơ bản giúp người tham gia giao tiếp sử dụng ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh [201].

Năm 2009, Vandijk bổ sung thêm mối liên hệ giữa xã hội và diễn ngôn và cho rằng mối quan hệ này thường mang tính gián tiếp và phụ thuộc vào cách bản thân người sử dụng ngôn ngữ định nghĩa sự đan xen giữa thể loại diễn ngôn và sự kiện giao tiếp [203]. Nói cách khác, bối cảnh xã hội không những ảnh hưởng hoặc bị ảnh 12 hưởng bởi diễn ngôn mà còn bởi cách những người tham gia diễn ngôn xác định tình huống ở đó diễn ngôn xuất hiện. Bối cảnh không phải là yếu tố khách quan mà nó luôn được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan trong quá trình tương tác của những nhóm người, cộng đồng người tham gia giao tiếp. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh cũng được đề cập đến trong Firth,J.

Trong các công trình nghiên cứu của mình, mỗi tác giả đều có những đóng góp riêng đối với lĩnh vực phân tích diễn ngôn. Chẳng hạn, Firth khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ học, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa, ông cho rằng để hiểu được những gì người tham gia giao tiếp đang nói và viết, chúng ta cần hiểu bối cảnh tình huống và bối cảnh văn hóa trong sự kiện giao tiếp đó [93]. Một người tham gia giao tiếp có thể lựa chọn bối cảnh văn hóa phù hợp với bối cảnh tình huống. Cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp [135].

Khía cạnh tiếp theo trong nghiên cứu diễn ngôn được các tác giả tiếp cận đó là nghiên cứu diễn ngôn trong các lĩnh vực như diễn ngôn phê phán [202] diễn ngôn chính trị, diễn ngôn luật pháp, diễn ngôn giáo dục [56]. Trong các công trình này, các tác giả đã đưa ra các kết luận nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội, qua đó giúp người nói/ người viết hiểu và sử dụng đúng các thuật ngữ, từ vựng và văn phong trong từng lĩnh vực cụ thể. Khi bàn về khái niệm phân tích diễn ngôn, Harris, Z. (1952) đã tập trung nghiên cứu ngôn ngữ ở cấp độ lớn hơn câu nhằm mục đích miêu tả cách thức ngôn ngữ được phân bổ trong văn bản và cách 13 thức các ngôn ngữ này được kết hợp lại với nhau để tạo ra phong cách văn bản đặc trưng.

[141] Bên cạnh các vấn đề về mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ nghĩa thì hành động ngôn từ cũng là một khía cạnh trong nghiên cứu ngôn ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm. Lý thuyết về hành động ngôn từ lần đầu tiên được Austin đưa ra năm 1962. Trong tác phẩm How to do things with words, ông đã miêu tả các phát ngôn ngôn hành hiển ngôn giống như các cú tuyên bố có nghĩa, thực hiện một chức năng nào đó, thực hiện một hành động ngôn trung. Ông đã tập trung vào một nhóm được gọi là phát ngôn ngôn hành để đối lập với phát ngôn tường thuật.

Tác giả cho rằng qua các phát ngôn của mình, chúng ta thể hiện hành động làm một cái gì đó để đưa ra lời hứa, lời cảnh báo, lời khen hay lời thề [45]. Bên cạnh đó, một số tác giả khác cho rằng ngôn ngữ không chỉ được sử dụng để truyền đạt thông tin mà còn thể hiện hành động như trong các nghiên cứu của Halliday (1989) [125], Halliday, M.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Đối chiếu ngôn ngữ bài báo tạp chí tài chính tiếng Anh và tiếng Việt là một nghiên cứu chuyên sâu so sánh cách sử dụng ngôn ngữ trong các bài báo tài chính bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự khác biệt văn hóa và ngôn ngữ trong lĩnh vực tài chính mà còn cung cấp những gợi ý quan trọng cho việc dịch thuật và biên tập tài liệu chuyên ngành. Đối với các nhà nghiên cứu, dịch giả, và chuyên gia tài chính, luận án này là nguồn tài liệu quý giá để nâng cao hiệu quả giao tiếp và truyền đạt thông tin trong môi trường đa ngôn ngữ.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến tài chính và tiền tệ, bạn có thể tham khảo thêm Vai trò của tỷ giá hối đoái trong cơ chế dẫn truyền chính sách tiền tệ Việt Nam, Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và hiệu quả của chính sách tiền tệ tại một số quốc gia ở châu Á, và Tác động của dự trữ ngoại hối đến nguồn cung tiền rộng tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường tài chính và chính sách tiền tệ.