Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật; Chương 3. Giới nữ trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa; Chương 4.
Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ thống tu từ. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề giới nữ trong văn hóa Việt Nam Những quan niệm, suy tư về giới nữ đã xuất hiện khá sớm trong ý thức cộng đồng người Việt thông qua các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần như diễn xướng, ca dao, dân ca, tín ngưỡng thờ mẫu. Dưới thời phong kiến, Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí tương đối thấp.
Chúng ta chưa tiếp cận được với văn minh in ấn, xuất bản và báo chí. Chính vì thế, tiếng nói về phụ nữ và nữ quyền cũng chưa có điều kiện và phương tiện thuận lợi để lan tỏa và thẩm thấu sâu rộng vào tâm thức cộng đồng. Sang đầu thế kỉ XX, khi chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, cùng với đó là sự xuất hiện của các phương tiện in ấn, xuất bản và các trào lưu văn hoá phương Tây thì vấn đề giới nữ, bình đẳng giới ở nước ta mới chính thức được phát biểu công khai trên báo chí. Sự ra đời của các tờ báo và tạp chí như Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí và đặc biệt là tờ báo dành riêng cho phụ nữ lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử dân tộc năm 1918 là Nữ giới chung đã khiến cho làn sóng nữ giới và nữ quyền trong nước có dịp khởi phát mạnh mẽ.
Mục Nhời đàn bà trên Đăng cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí đăng những bài luận bàn của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh về giới nữ. Nhìn chung, các bài viết này ít nhiều đã đề cập đến những bất công của lễ giáo phong kiến đối với phụ nữ. Các tác giả đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cho rằng xã hội phụ quyền đã nhận thức chưa đúng đắn về việc học hành của nữ giới. Sự quan tâm đối với giới nữ của họ, do thế, mới chỉ dừng lại ở tinh thần nam nữ bình quyền trên lĩnh vực giáo dục.
Về cơ bản, giới nữ vẫn chưa thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của chức phận đàn bà trong gia đình phong kiến. Vì vậy, việc chị em phụ nữ dù có học hành tốt thì rốt cuộc vẫn chỉ là để quay về phụng sự gia đình, chồng con mà thôi. Vấn đề giới nữ, trọng tâm là nữ quyền được đặt ra một cách trực tiếp khi tờ Nữ giới chung do Sương Nguyệt Anh làm chủ bút ra đời. Lần đầu tiên, trên các trang báo, câu hỏi “nữ quyền là gì?” được nêu lên công khai để mọi người cùng bàn luận.
Có thể thấy, ở đây, ý thức về giới, về nữ quyền đã có sự dịch chuyển, đúng hơn là một bước tiến vượt bậc cho thấy phụ nữ không còn là yếu tố khách thể được bàn đến qua các trang viết của nam giới, mà họ đã đóng vai trò chủ thể, tự nhận thức, tự cất lên tiếng nói đấu tranh về quyền bình đẳng giới trên báo chí. Trong khi 7 truy tìm nguồn gốc và cắt nghĩa khái niệm nữ quyền, mặc dù đã có nhiều nỗ lực và thành quả song các tác giả của những bài báo cũng bộc lộ không ít hạn chế. Rốt cuộc, với các cây bút của Nữ giới chung, nam nữ tuy bình đẳng về lợi ích nhưng người phụ nữ vẫn phải lấy việc “trông coi nhà cửa, giúp đỡ chồng con, dạy dỗ con cái là lẽ tự nhiên”, đó chính là bổn phận mà xã hội đã mặc định cho họ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vấn đề giới nữ và nữ quyền trong nước có điều kiện nảy nở để trở thành một trong những mối quan tâm đặc biệt của xã hội.
Thời kì này, phong trào phụ nữ và nữ quyền trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, tiếp tục ảnh hưởng đến Việt Nam. Bên cạnh đó là chủ trương mở rộng giáo dục của Pháp (chủ yếu là bằng ngôn ngữ Pháp) ở Việt Nam đã khiến cho văn hóa Pháp ngày càng ảnh hưởng sâu đậm vào nước ta. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng tác động lớn đến nhận thức của cộng đồng về vai trò của người phụ nữ. Trên cả ba miền đất nước, người ta thấy xuất hiện hàng loạt các sách báo bàn về nữ giới như: Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy (1928), Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu (1929), các tờ báo Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Phụ nữ tân văn… Cuốn chuyên khảo Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy được xem là cuốn sách bàn về phụ nữ đầu tiên ở nước ta dưới góc nhìn giới.
Với công trình này, ông trở thành một trong những nhà nữ quyền tiên phong, là người đại diện tiêu biểu của khuynh hướng nữ quyền tích cực. Trong nhãn quan của Đặng Văn Bảy, nam nữ bình quyền gắn liền với công lí và nhân đạo. Nam nữ bình quyền là thuận theo lẽ trời, thuận theo lẽ tự nhiên của tạo hóa và đạo làm người. Ông cho rằng: “Phép công bình là đôi bên phải đồng, không khinh không trọng, không thấp không cao” [14, tr.
Đặng Văn Bảy nhận thấy tình trạng bất bình đẳng giới trong xã hội ta chủ yếu là do “cái lòng quá tự trọng tự cao, cái quyền sanh sát, cái thói hẹp hòi của người đàn ông, và cái lòng quá e dè sợ sệt, cái tánh quá êm thấm, cái thói yếu ớt của người đàn bà nước ta mà ra” [14, tr.86], chung quy lại bất bình đẳng là vì “cái tập tục tập quán” của xã hội chứ không phải bởi lẽ tự nhiên. Ông phân tích cặn kẽ và chỉ ra những bất công trong cách ứng xử của xã hội nam quyền đối với nữ giới. Ông lên án quan niệm “chồng chúa, vợ tôi”, phê phán thói trọng nam khinh nữ, nêu lên sự phi lí và cứng nhắc trong quan niệm về chữ trinh của lễ giáo phong kiến áp đặt cho người phụ nữ. Bên cạnh đó, Đặng Văn Bảy còn bộc lộ những suy nghĩ của mình về vấn đề tự do hôn nhân.
Tác giả cho rằng: “Cha mẹ lựa dâu sao bằng con chọn vợ, vì cưới vợ cho con chứ không phải kiếm dâu cho 8 cha mẹ” và “trong cuộc hôn nhân không chi hay bằng để đôi lứa trai gái tự chọn lựa lấy” [14, tr. Cũng giống như nhiều nhà trí thức thời đó, Đặng Văn Bảy quan niệm nam nữ bình quyền còn thể hiện ở việc giáo dục cho phụ nữ cũng phải được coi trọng như là với nam giới. Theo ông, bậc làm cha mẹ không nên phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Đối với con nào thì cũng phải lo dạy dỗ “cho nên người đúng đắn”, cho con học hành để trở thành người biết tự trọng, biết nhân quyền… Những điều đã trình bày ở trên cho thấy tư tưởng nam nữ bình quyền rất tiến bộ và nhân văn của Đặng Văn Bảy.
Vấn đề nữ quyền được ông nêu lên và phân tích một cách hệ thống. Các lí lẽ và dẫn chứng mà tác giả viết trong cuốn chuyên luận vừa chặt chẽ vừa xác đáng, mang lại hiệu quả thuyết phục cao, góp phần quan trọng vào cuộc cách mạng tư tưởng của xã hội Việt Nam. Quan sát các bài viết đăng trên sách báo thời kì này có thể nhận ra sự phân hóa rõ rệt của tư tưởng giới và nữ quyền. Về cơ bản, có thể chia làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Văn Bá, Trịnh Đình Rư, Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm…) nhiệt tình ủng hộ, đấu tranh vì nữ quyền, còn bộ phận thứ hai (đại diện là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long.) thì phản đối nữ quyền vì cho rằng nó có hại.
Những bài viết thể hiện quan niệm về vấn đề nữ quyền của cả hai khuynh hướng trên được đăng tải trên các báo Phụ nữ tân văn, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí… Bên cạnh hoạt động báo chí còn có hoạt động diễn thuyết nhằm tuyên truyền, giác ngộ và thể hiện tinh thần đấu tranh vì nữ quyền của các nữ trí thức như: Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Nga… Các bài diễn thuyết của họ thường đề cập đến một số vấn đề: hôn nhân tự do, chế độ đa thê, phụ nữ với vấn đề giải phóng, một ngày của người phụ nữ tân tiến… Song song với đó là sự ra đời của các tổ chức phụ nữ như Hội nữ quyền, Nữ công học hội… Trên thực tế, những hoạt động kể trên đã khiến cho phong trào đấu tranh nữ quyền, giải phóng phụ nữ thời kì này phát triển rầm rộ khắp cả nước. Sau năm 1930, quan điểm về giới nữ ở Việt Nam có sự biến chuyển sâu sắc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đã mang đến một nhận thức quan trọng: giải phóng phụ nữ phải gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Do vậy, vấn đề vai trò của nữ giới và vấn đề nam nữ bình quyền đã trở thành một trong những nội dung then chốt được trình bày trong Luận cương chính trị của Đảng ngay từ khi mới thành lập (1930).
Dưới ánh sáng của lý 9 tưởng cộng sản, người phụ nữ trở thành một lực lượng trọng yếu trong cuộc cách mạng dân tộc. Ở đây, giải phóng dân tộc cũng bao hàm cả việc giải phóng phụ nữ. Do vậy, phụ nữ không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân. Từ thời điểm này, các tổ chức phụ nữ gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc liên tiếp được thành lập, chẳng hạn như Phụ nữ giải phóng (1930 - 1936), Hội phụ nữ Dân chủ (1936 - 1938), Hội phụ nữ Phản đế (1939 - 1941), Đoàn phụ nữ Cứu quốc (1941 - 1945), Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam (1961)… Ngay từ năm 1960, Đảng và nhà nước ta đã chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ để tạo nguồn cho các mảng công tác của xã hội thông qua việc thành lập Trường Phụ vận Trung ương (nay là Học viện Phụ nữ Việt Nam).
Như thế, vấn đề quyền tự do, bình đẳng của giới nữ đến thời kì này đã được nhận thức đầy đủ, có phương hướng và con đường đấu tranh rõ ràng. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, lịch sử dân tộc chuyển sang một trang mới.