Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân Anh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 62.20), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. La Khắc Hòa. Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính trong lĩnh vực nghiên cứu văn học và lý luận thi pháp học hiện đại.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo trình bày của tác giả, phụ nữ và vấn đề giới nữ là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học (tâm lý học, sinh học, xã hội học, chính trị học, nghiên cứu văn học). Trong văn học, phụ nữ không chỉ là con người sinh học hay xã hội trừu tượng mà là sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật, một hiện tượng thẩm mỹ.

Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một hiện tượng lịch sử quan trọng. Các bài viết và công trình nghiên cứu trước đây bàn về người phụ nữ trong bộ phận văn học này phần lớn tiếp cận giới nữ như một hình tượng khách thể và là sản phẩm của mô hình tư duy phản ánh luận. Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu tập trung, có hệ thống về giới nữ dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn, nhằm giải mã cơ chế kiến tạo diễn ngôn: không chỉ nhận diện người phụ nữ có đặc điểm gì, mà quan trọng hơn là lý giải vì sao phụ nữ lại được miêu tả như thế dưới sự chi phối của các thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục đích nghiên cứu cơ bản:

  1. Làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  2. Phân tích tính đặc thù của diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các bộ phận văn học khác.
  3. Chỉ ra những đóng góp và các giới hạn của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa về các phương diện nói trên.

Để đạt được mục đích trên, tác giả thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác lập một cách hiểu thống nhất về khái niệm diễn ngôn.
  2. Chứng minh toàn bộ nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật thông qua hệ thống luận điểm và dẫn chứng cụ thể.
  3. Vận dụng lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa để khảo sát các sáng tác, chỉ ra đặc điểm, cơ chế và phương thức kiến tạo diễn ngôn về giới nữ ở bộ phận văn học này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khảo sát qua các bình diện trọng yếu gồm chiến lược diễn ngôn, trật tự diễn ngôn và phương thức tạo lập diễn ngôn (hệ thống tu từ).
  • Phạm vi khảo sát chính: Các tác phẩm văn học thuộc phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khung thời gian trọng tâm thường được quy ước là giai đoạn 1945 – 1975, nhưng luận án nới rộng biên độ sang các tác phẩm tiền đề trước năm 1945 (sáng tác của Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu) và các tác phẩm tiếp nối sau năm 1975.
  • Phạm vi đối chiếu: Nhằm làm nổi bật tính đặc thù, luận án mở rộng khảo sát so sánh với văn học dân gian, văn học trung đại, văn học giai đoạn 1930 – 1945, văn học sau 1975 và một số tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Liên Xô.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án tổng quan lịch sử nghiên cứu theo ba mạch nội dung chính:

                                   Hoàng Thị Thu Giang 2014, La Khắc Hòa 2012-2015,...)

1. Hướng nghiên cứu về giới nữ trong văn hóa và văn học Việt Nam trước năm 1945

  • Báo chí và tư tưởng đầu thế kỷ XX: Vấn đề nữ quyền được đề cập trong mục Nhời đàn bà trên Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí (Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh); tuần báo Nữ giới chung (1918) do Sương Nguyệt Anh làm chủ bút; các chuyên luận Nam nữ bình quyền (1928) của Đặng Văn Bảy, Vấn đề phụ nữ (1929) của Phan Bội Châu; các ấn phẩm Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Phụ nữ tân văn. Các cuộc thảo luận phân hóa thành hai khuynh hướng: ủng hộ nữ quyền (Nguyễn Văn Bá, Trịnh Đình Rư, Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm) và phản đối nữ quyền (Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long). Sau năm 1930, Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc, dẫn tới sự thành lập của Phụ nữ giải phóng (1930-1936), Hội phụ nữ Dân chủ (1936-1938), Hội phụ nữ Phản đế (1939-1941), Đoàn phụ nữ Cứu quốc (1941-1945), Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1946), Trường Phụ vận Trung ương (1960).
  • Phê bình văn học về giới trước 1945: Phan Khôi khởi xướng phê bình giới qua loạt bài năm 1929 trên Phụ nữ tân văn (Về văn học của phụ nữ Việt Nam, Văn học với nữ tánh, Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta), chỉ ra áp chế của chế độ phụ quyền phong kiến. Lê Văn Hòe với Lược luận về phụ nữ Việt Nam (1944) khảo sát hình tượng phụ nữ qua văn học dân gian và Bích câu kỳ ngộ. Trần Gia Linh (1979) nghiên cứu nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian; Bích Thu (2002) nghiên cứu nhân vật nữ của Vũ Trọng Phụng; Trần Nho Thìn (2009) công bố tham luận Nho giáo và nữ quyền, phân hóa thái độ của nhà nho tích cực (Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều) và nhà nho bảo thủ (Nguyễn Công Trứ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế); Hồ Khánh Vân (2010) đánh giá ý thức nữ quyền của văn học nữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX; Trần Văn Toàn (2011) công bố bài nghiên cứu Nam tính hóa nữ tính - đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính; Mariam B. Lam (Đại học California, Riverside) phân tích biểu tượng dân tộc của Thúy Kiều trong Truyện Kiều qua bản dịch của Phương Chi.

2. Nghiên cứu hình tượng giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (1945 – 1975)

  • Giai đoạn 1960 – 1975: Phan Nhân (1967) phân tích nhân vật Quyên, chị Sứ trong Hòn Đất (Anh Đức); Hoài Thanh (1968) viết bài Hòn Đất - hòn ngọc; Phan Cự Đệ trong công trình hai tập Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974 - 1975) phân tích sự điển hình hóa qua nhân vật Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái), hình tượng bà má miền Nam, nhân vật nữ của Nguyễn Đình Thi trong Vỡ bờ, Út Tịch trong Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi).
  • Giai đoạn sau năm 1975: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1 năm 1978 dành riêng cho chủ đề phụ nữ với các bài viết của Mai Hương (phân tích thơ chống Pháp, chống Mỹ, bài Mẹ Suốt của Tố Hữu, thơ Dương Hương Ly), Bích Thu (thơ cách mạng miền Nam), Lê Thị Đức Hạnh (truyện ngắn của Phan Tứ), Đoàn Thị Hương (hình tượng phụ nữ trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật qua tác phẩm của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hồ Thủy Giang, Chu Văn). Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập III, Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Văn Long chủ biên) có các bài viết của Trần Đăng Suyền (biểu tượng người mẹ trong thơ trẻ thời chống Mỹ), Đoàn Trọng Huy (nhân vật Mỵ, bà Ảng trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài).

3. Nghiên cứu theo hướng tiếp cận thi pháp học và lý thuyết diễn ngôn

  • Nguyễn Thị Nga (2010) với luận án tiến sĩ Hình tượng tác giả nữ trong thơ thời chống Mĩ khảo sát vai giao tiếp sử thi và vai giao tiếp nữ cùng hệ thống biểu tượng.
  • Hoàng Thị Thu Giang (2014) với luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn khảo sát thẩm quyền diễn ngôn ở khu vực trung tâm và ngoại biên.
  • La Khắc Hòa (2012, 2014, 2015) với các công trình Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật, Chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1975, Thơ Tố Hữu - kho ký ức thể loại của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét nhân vật nữ dưới góc độ phản ánh hiện thực, xã hội học dung tục hoặc phân tích hình tượng thẩm mỹ đơn lẻ. Luận án của Nguyễn Thị Vân Anh lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập một hệ thống phân tích toàn diện về cơ chế kiến tạo diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giải mã các quy tắc quyền lực, chiến lược phân vai và hệ thống tu từ học đặc thù của loại hình văn học này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng ba trục lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault: Tiếp cận diễn ngôn như một hệ thống các quy tắc thực hành tạo lập lời nói, bị quy định bởi thể chế, quyền lực và tri thức. Khung phân tích sử dụng mô hình Trật tự diễn ngôn (L'Ordre du discours) với hai bình diện:
    • Trật tự bên ngoài: Các quy tắc cấm đoán/ngăn cấm (đối tượng bị cấm, hoàn cảnh, đặc quyền chủ thể phát ngôn), sự chia tách và loại trừ (đối lập giữa lý trí và điên rồ, giữa chân lý và sai lầm).
    • Trật tự bên trong: Các quy tắc kiểm soát tính ngẫu nhiên của diễn ngôn gồm nguyên tắc bình luận (commentary), nguyên tắc tác quyền (author), và nguyên tắc chuyên khoa (discipline).
  • Lý thuyết thi pháp học và thẩm quyền diễn ngôn của M. Bakhtin và V. Chiupa:
    • Định nghĩa diễn ngôn là một sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội giữa chủ thể sáng tạo, khách thể tiếp nhận và đối tượng được nói tới.
    • Hệ thống ba thẩm quyền giao tiếp: thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền của cái được tham chiếu, thẩm quyền tiếp nhận.
    • Bốn hình thái diễn ngôn theo phân loại của V. Chiupa:
Hình thái diễn ngôn Không gian giao tiếp Đặc điểm chủ thể phát ngôn Đặc điểm người tiếp nhận
Vị thế - bầy đàn Không gian huyền thoại, tuần hoàn Vị thế lĩnh xướng, định hướng phát ngôn Sao chép ý thức cộng đồng ("chúng ta")
Vai - quy phạm Không gian quyền uy, đồng thuận độc điệu Tự hạn chế theo khuôn mẫu, quy phạm định sẵn Chịu sự điều khiển của quy ước, tập quán
Đối nghịch - chủ động Không gian phi quyền lực, ngẫu nhiên Tự biểu hiện ngập tràn cảm hứng cá nhân Lựa chọn sáng tạo của ý thức cá nhân
Hội tụ - chủ động Không gian đối thoại đồng thuận Tự khách quan hóa Bổ sung, phóng chiếu ý nghĩa cho phát ngôn

Ghi chú: Luận án xác định văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam vận dụng triệt để hình thái diễn ngôn vai - quy phạm.

  • Lý thuyết văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: Dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của A. Lunacharsky, Đề cương văn hóa Việt Nam (Trường Chinh, 1943), báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (Trường Chinh, 1948), các chỉ thị và văn kiện của Hồ Chí Minh (1951), Phạm Văn Đồng (1960), nghiên cứu của Phương Lựu và Trần Đình Sử. Bốn nguyên tắc cơ bản gồm: nguyên lý tính Đảng cộng sản; nhân vật trung tâm là con người mới; phương pháp điển hình hóa cao độ trong hoàn cảnh điển hình; thi pháp kết hợp khái quát hiện thực và lý tưởng hóa.

2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp hệ thống: Chia tách và phân tích các yếu tố cấu thành chỉnh thể diễn ngôn (chiến lược, trật tự, tu từ) theo từng cấp độ và xác định mối quan hệ tương tác giữa chúng.
  • Phương pháp xác định lịch sử phát sinh (M. Khrapchenko): Nghiên cứu văn học gắn liền với nguồn gốc lịch sử - xã hội, bối cảnh kháng chiến và cách mạng vô sản để lý giải nguyên nhân hình thành cơ chế tạo lập diễn ngôn.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam với văn học dân gian, trung đại, văn học 1930 - 1945, văn học sau 1975 và văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Liên Xô.
  • Phương pháp phân tích văn bản: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi, thơ ca cụ thể để trích xuất các thao tác tu từ, cấu trúc phân vai và giọng điệu.

3. Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Các văn kiện chính trị, đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam và các bài phát biểu chỉ đạo của các nhà lãnh đạo (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng).
  • Tác phẩm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tiêu biểu: Thơ Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn; Văn xuôi của Anh Đức, Nguyễn Thi, Bùi Đức Ái, Phan Tứ, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Chu Văn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hồ Thủy Giang, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu.
  • Các tư liệu báo chí và chuyên luận từ đầu thế kỷ XX (Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, công trình của Đặng Văn Bảy, Phan Bội Châu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ bối cảnh lịch sử - văn hóa và lịch sử nghiên cứu về giới nữ trong văn học Việt Nam:

  • Vấn đề giới nữ trong văn hóa Việt Nam: Phân tích sự chuyển dịch nhận thức từ văn hóa truyền thống (tín ngưỡng thờ Mẫu, ca dao dân ca) sang báo chí quốc ngữ đầu thế kỷ XX (Đăng cổ tùng báo, Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn) và sự xác lập đường lối giải phóng phụ nữ gắn với giải phóng dân tộc từ sau khi Đảng Cộng sản thành lập năm 1930.
  • Lịch sử nghiên cứu: Phân tích các giai đoạn nghiên cứu trước năm 1945, giai đoạn 1945 – 1975, giai đoạn sau năm 1975 và sự thâm nhập của phê bình nữ quyền. Tác giả chứng minh rằng các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở phê bình phản ánh luận hoặc nghiên cứu xã hội học, từ đó xác định tính tất yếu của việc tiếp cận đề tài bằng lý thuyết diễn ngôn.

Chương 2: Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án bằng việc định nghĩa văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn:

  • Diễn ngôn sáng thế truyền đạt tri thức: Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa vận hành như một diễn ngôn tạo sinh thế giới mới, truyền đạt hai khối tri thức then chốt: tri thức về sự hình thành chế độ xã hội mới và tri thức về sự hình thành con người mới.
  • Bức tranh thế giới phân vai theo chức năng xã hội: Luận án chỉ ra thế giới nghệ thuật được cấu trúc hóa theo hai mô hình phân vai cơ bản:
    • Mô hình mặt trận ("Ta - Địch"): Phân tuyến rạch ròi giữa lực lượng cách mạng chính nghĩa và kẻ thù phản động, triệt tiêu các trạng thái trung gian, mơ hồ.
    • Mô hình gia đình ("Cha - Mẹ - Chúng con"): Quốc gia hóa quan hệ gia đình, chuyển hóa tình cảm huyết thống cá nhân thành quan hệ giai cấp và lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc.
  • Sự chuyển dịch từ diễn ngôn chính trị - xã hội sang diễn ngôn văn học: Diễn ngôn văn học tiếp thu các quy phạm tư tưởng từ các văn kiện và nghị quyết chính trị, chuyển hóa chúng thành hệ thống chuẩn mực thẩm mỹ quy định trực tiếp việc xây dựng hình tượng giới.

Chương 3: Giới nữ trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa

Chương 3 đi sâu vào cơ chế kiến tạo hình tượng người phụ nữ thông qua hai trục phân tích:

  • Chiến lược giao tiếp:
    • Tuyệt đối hóa vai xã hội của giới nữ: Người phụ nữ được định vị qua các vai chức năng xã hội cụ thể: vai Mẹ - Chiến sĩ, Mẹ - Tổ quốc (nguồn nuôi dưỡng và hậu phương của cách mạng), vai Chúng con - Anh hùng (thế hệ trẻ trực tiếp chiến đấu trên tuyến đầu), đối lập với vai Kẻ lầm đường, lạc lối (nhân vật cần được cải tạo hoặc bị thanh trừng).
    • Nguyên tắc đồng thuận của tiếng nói giới nữ: Tiếng nói của nhân vật nữ hoàn toàn phục tùng tiếng nói chân lý tuyệt đối của phe "Ta". Nhân vật nữ luôn ở vị thế "đồng ý, đồng tình", đồng thanh nhất trí với tiếng nói của người lãnh đạo và tập thể, không xuất hiện sự phản kháng hay lệch chuẩn ý thức hệ.
  • Trật tự diễn ngôn:
    • Trật tự bên trong: Vận hành cơ chế "xóa bỏ khoảng cách phái tính" (nữ giới thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, lao động nặng nhọc ngang hàng với nam giới) đồng thời với việc "tô đậm sự khác biệt giới tính" ở các phẩm chất chuyên biệt (đảm đang, chịu đựng, dịu dàng, đức hy sinh).
    • Trật tự bên ngoài: Phân chia ranh giới nghiêm ngặt giữa Hệ chủ đề chính thống (tình yêu cách mạng, sản xuất, chiến đấu, lòng yêu nước) và Hệ chủ đề cấm kỵ (nhục cảm bản năng, sự dao động tư tưởng, bi kịch cá nhân không gắn với lý tưởng tập thể).

Chương 4: Diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ thống tu từ

Chương 4 phân tích các phương tiện nghệ thuật cụ thể dùng để hiện thực hóa diễn ngôn:

  • Xu hướng biểu trưng hóa:
    • Không gian và thời gian: Biểu trưng hóa bản chất xã hội của nữ giới qua sự đối lập giữa "không gian chiến trường - thời gian khẩn trương, gấp gáp" (gắn với nhân vật nữ thanh niên xung phong, nữ du kích) và "không gian làng quê - thời gian chờ đợi, mong ngóng" (gắn với hình tượng người mẹ, người vợ hậu phương).
    • Hệ thống ẩn dụ phẩm chất: Hình tượng Hoa (vẻ đẹp thanh cao, tinh tế của tâm hồn phụ nữ); các chi tiết ngoại hình được ước lệ hóa (khuôn mặt, mái tóc, làn da, cánh tay, dáng vóc khỏe khoắn); hình tượng Lời ru (biểu trưng cho nguồn cội tình cảm gia đình và tình yêu quê hương đất nước).
  • Huyền thoại hóa hình tượng nữ giới:
    • Quy chiếu nhân vật nữ vào các cổ mẫu huyền thoại: Bà Mẹ Xứ sở, Nữ anh hùng chiến trận, và Người phụ nữ đa khổ, đa nạn được cứu rỗi (nhân vật đổi đời nhờ ánh sáng của Đảng).
    • Vận dụng thủ pháp trùng điệp và khuếch đại để nâng tầm kích thước nhân vật lên tầm vóc sử thi.
  • Nguyên tắc tạo hình tượng đài và tổ chức giọng điệu:
    • Nguyên tắc tạc tượng đài: Khắc họa nhân vật với màu sắc tươi sáng, rạng rỡ; đường nét, hình khối uy nghi, hoành tráng; chất liệu tạo hình bền vững, bất hoại (được so sánh với sắt thép, đá, kim loại kiên cường).
    • Hệ thống giọng điệu biểu cảm: Sự phối hợp giữa các giọng điệu chính gồm giọng ngợi ca, thành kính; giọng cảm phục, tự hào; giọng hân hoan, lạc quan; giọng ngọt ngào, đằm thắm (dành cho phe "Ta") và giọng châm biếm, khinh bỉ, phê phán (dành cho tuyến nhân vật phản diện, lạc hậu).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Đặt vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
  • Khẳng định tính hiệu quả của phương pháp luận diễn ngôn trong việc mở rộng biên độ nghiên cứu văn học sử và lý luận thi pháp học đối với các trào lưu văn học trong quá khứ.
  • Mô hình hóa thành công cấu trúc diễn ngôn về giới nữ thông qua bốn bình diện tương tác: chiến lược diễn ngôn, hệ hình diễn ngôn, trật tự diễn ngôn và mục đích diễn ngôn.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở khoa học để lý giải nguyên nhân vì sao người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại được miêu tả với những đặc tính thẩm mỹ khu biệt so với các thời kỳ văn học trung đại, văn học lãng mạn 1930 – 1945 hay văn học sau 1975.
  • Chỉ ra cơ chế kiến tạo của hệ thống chuẩn mực thẩm mỹ thời kỳ 1945 – 1975, từ việc thiết lập trật tự chủ đề chính thống đến việc định hình hệ thống biểu tượng tu từ học và nguyên tắc tạc tượng đài nhân vật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung vào cơ chế kiến tạo diễn ngôn mang tính quy phạm phổ quát của hệ hình văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, do đó phạm vi khảo sát chủ yếu tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu ở khu vực dòng chính; các hiện tượng sáng tác mang tính ngoại biên hoặc các biểu hiện cá nhân phân hóa sâu sắc ở thể loại truyện ngắn và thơ sau năm 1975 chỉ được khảo sát ở mức độ liên hệ, đối chiếu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng áp dụng khung phân tích lý thuyết diễn ngôn để nghiên cứu sự biến đổi của diễn ngôn giới nữ trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay).
    • Khảo sát sâu hơn diễn ngôn giới trong từng thể loại cụ thể (kịch bản văn học, ký báo chí thời chiến) hoặc so sánh đối chiếu liên văn hóa với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở các quốc gia khác ngoài Liên Xô (như Trung Quốc hay các nước Đông Âu).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung phương pháp luận về việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn của M. Foucault, M. Bakhtin, V. Chiupa vào nghiên cứu thi pháp học và văn học sử Việt Nam.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Hỗ trợ nguồn tư liệu và luận điểm khoa học trong việc giảng dạy các học phần Lý luận văn học, Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, và Chuyên đề Phê bình nữ quyền.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và xã hội học giới: Cung cấp dẫn chứng cụ thể về sự tác động của thiết chế ý thức hệ và chính sách xã hội đối với quá trình kiến tạo vai trò giới và biểu tượng người phụ nữ trong lịch sử Việt Nam hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "diễn ngôn" được luận án định nghĩa như thế nào?

Luận án xác định: Diễn ngôn là một hành động lời nói tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, là một "sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội" (theo quan niệm của Teun A. van Dijk) giữa chủ thể (tác giả), khách thể (người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới. Diễn ngôn không thuần túy là hệ thống ký hiệu học tĩnh tại mà là một hệ thống các thẩm quyền giao tiếp (thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền của cái được tham chiếu, thẩm quyền tiếp nhận) chịu sự quy định của thiết chế ý thức hệ, tri thức và quyền lực xã hội.

2. Bức tranh thế giới phân vai trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được mô hình hóa ra sao?

Bức tranh thế giới trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được phân thành hai mô hình cấu trúc:

  • Thế giới như một mặt trận ("Ta - Địch"): Phân định tuyệt đối giữa chính nghĩa cách mạng và phi nghĩa phản động.
  • Thế giới như một gia đình ("Cha - Mẹ - Chúng con"): Quốc gia hóa các mối quan hệ gia đình, chuyển hóa quan hệ riêng tư thành quan hệ giai cấp và trách nhiệm công dân đối với Đảng và Đất nước.

3. Người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được định hình qua những vai xã hội cơ bản nào?

Trong chiến lược giao tiếp phân vai, người phụ nữ được định vị qua ba vai chính:

  • Vai Mẹ - Chiến sĩ, Mẹ - Tổ quốc: Đại diện cho cội nguồn sự sống, hậu phương vững chắc và lòng hy sinh cao cả.
  • Vai Chúng con - Anh hùng: Đại diện cho thế hệ trẻ kiên cường, trực tiếp chiến đấu trên tiền tuyến.
  • Vai Kẻ lầm đường, lạc lối: Tuyến nhân vật mang tính tiêu cực, đóng vai trò làm nổi bật yêu cầu cải tạo tư tưởng và tính ưu việt của chế độ mới.

4. Cơ chế trật tự diễn ngôn bên trong và bên ngoài kiểm soát hình tượng giới nữ như thế nào?

  • Trật tự bên trong: Thực hiện đồng thời việc "xóa bỏ khoảng cách phái tính" (nữ giới tham gia chiến đấu, lao động nặng như nam giới) và "tô đậm sự khác biệt giới tính" (nhấn mạnh thiên tính nữ, đức hy sinh, sự chịu đựng).
  • Trật tự bên ngoài: Kiểm soát chủ đề thông qua việc ưu tiên hệ chủ đề chính thống (sản xuất, chiến đấu, lý tưởng cách mạng) và loại trừ hệ chủ đề cấm kỵ (dục vọng bản năng cá nhân, bi quan, suy thoái tư tưởng).

5. Những thao tác tu từ học chủ yếu được sử dụng để khắc họa người phụ nữ là gì?

Các thao tác tu từ học chủ yếu gồm:

  • Biểu trưng hóa không gian (chiến trường/làng quê) và thời gian (khẩn trương/chờ đợi).
  • Hệ thống ẩn dụ thẩm mỹ (hình tượng hoa, đặc điểm diện mạo thanh khiết, lời ru).
  • Huyền thoại hóa nhân vật qua các cổ mẫu (Bà Mẹ Xứ sở, Nữ anh hùng chiến trận, Người phụ nữ đa nạn được cứu rỗi).
  • Tạo hình theo nguyên tắc tạc tượng đài (màu sắc tươi sáng, hình khối hoành tráng, chất liệu bất hoại) kết hợp với các giọng điệu ngợi ca, tự hào và lạc quan.

Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Vân Anh đã tiếp cận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ hệ hình lý thuyết diễn ngôn, vượt thoát khỏi giới hạn của mô hình phê bình phản ánh luận truyền thống. Công trình giải mã cơ chế kiến tạo hình tượng giới nữ thông qua việc phân tích chiến lược giao tiếp phân vai, các quy tắc kiểm soát của trật tự diễn ngôn và hệ thống thao tác tu từ học mang tính tượng đài hóa. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ tính chất đặc thù của diễn ngôn giới nữ thời kỳ 1945 – 1975, đóng góp nguồn ngữ liệu và khung phân tích khoa học cho chuyên ngành Lý luận văn học và nghiên cứu giới tại Việt Nam.