Chương 1 tập trung vào phân tích các nghiên cứu chính liên quan đến đề tài theo trục vấn đề: (1) Thanh niên và TNDTTS là nhóm dễ tổn thương do thất nghiệp, thiếu việc làm; (2) Đào tạo nghề là công cụ hữu ích để giúp thanh niên nói chung và TNDTTS nói riêng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp và xã hội để tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập; (3) Các quốc gia đều xây dựng hệ thống đào tạo nghề và hỗ trợ các nhóm dân cư tiếp cận đào tạo nghề với những ưu điểm và hạn chế khác nhau; (4) CTXH có vai trò quan trọng trong trợ giúp TNDTTS học nghề thông qua cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và biện hộ chính sách hướng đến mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội và sự phát triển công bằng cho nhóm đặc thù này trong đời sống kinh tế - xã hội quốc gia. Thanh niên và thanh niên dân tộc thiểu số với vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm Thanh niên luôn là một nhóm xã hội quan trọng ở mỗi quốc gia. Khi họ được trao quyền, họ sẽ là đầu tàu cho sự phát triển của quốc gia [F. Có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận về thanh niên.
UN và các cơ quan trực thuộc như UNESCO, ILO, UNICEF dùng định nghĩa ―youth‖ với giới hạn độ tuổi từ 15 – 24. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt ở các quốc gia. Liên đoàn châu Phi [African Union, 2006] xác định thanh niên là lứa tuổi từ 15-34. Thanh niên ở Việt Nam được quy định trong Luật Thanh niên 2005 là công dân Việt Nam từ 16 đến 30 tuổi.
Tuy nhiên, dù tuổi của khác nhau nhưng cách hiểu tốt nhất về thanh niên vẫn là ―một giai đoạn chuyển đổi từ thiếu niên phụ thuộc sang người trưởng thành độc lập‖, với hai chủ đề được đề cập gắn bó là giáo dục và việc làm, vì đây là thời kỳ mỗi cá nhân hoàn thành giáo dục cơ bản và tìm kiếm công việc đầu tiên cho mình [UN, 2013]. Có hai vấn đề liên quan đến giáo dục và việc làm của thanh niên là đào tạo nghề và thất nghiệp thu hút sự quan tâm của hệ thống chính sách vì vai trò quan trọng của nó. 16 Có nhiều quan điểm về thất nghiệp, do đó việc xác định thế nào là thanh niên thất nghiệp, số lượng thanh niên thất nghiệp cũng có nhiều khác biệt. ILO xác định người thất nghiệp là người đang trong độ tuổi lao động với các tiêu chí: Không làm việc trong thời gian khảo sát, bao gồm cả làm việc được trả lương và tự làm chủ; đang sẵn sàng và mong muốn được làm việc; đang tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra còn tính đến số người đang chờ đi làm sau khi đã ký hợp đồng, số người chờ đi nước ngoài làm việc và cả những người đang tham gia học nghề. Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam định nghĩa thanh niên thất nghiệp là những người từ 16 – 30 tuổi đáp ứng các tiêu chí sau: ―Không làm việc nhưng sẵn sàng và mong muốn có việc làm‖ và ―Đang đi tìm việc làm có thu nhập, kể cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc [UNFPA, 2015, tr. Bên cạnh thất nghiệp, hệ thống chính sách ở Việt Nam còn quan tâm đến số lượng người thiếu việc làm. Quá trình phát triển kinh tế xã hội cho thấy thanh niên là một nhóm xã hội dễ tổn thương với những thay đổi.
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đến 2017 đã cơ bản phục hồi, tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ rất lớn thanh niên thất nghiệp. ILO [2017] đã cho thấy sự tổn thương của thanh niên trước những biến động kinh tế xã hội của thế giới. Sự phát triển của việc làm không cùng hướng với đà tăng trưởng kinh tế dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thế giới tăng nhẹ trong năm 2017, tỷ lệ 13,1% với khoảng 70,9 triệu thanh niên thất nghiệp năm 2017, chỉ ít hơn khoảng 10% so với đỉnh điểm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế 2009 (76,7 triệu). Mỹ La Tinh, vùng Caribe, châu Á và Bắc Phi có tỷ lệ thanh niên thất nghiệp dự kiến tăng, Châu Âu và các nước Ả rập giảm nhẹ.
Các nước Ả rập vẫn là khu vực có tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao nhất với tỷ lệ 30%. Điều đáng báo động là tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên cao gấp 3 lần người trưởng thành nói chung. Thêm vào đó, những công việc mà thanh niên đảm nhận cũng có điều kiện lao động không đảm bảo và hạn chế trong giá trị gia tăng. Tại các nước đang phát triển và mới nổi, chất lượng việc làm tương đối thấp khi có đến 16,7% lao động trẻ sống dưới ngưỡng nghèo là 1,9 đô la/ngày do phần lớn công việc của họ 17 là ở khu vực phi chính thức.
Kể cả tại các quốc gia phát triển, thất nghiệp ở thanh niên cũng là vấn đề đáng quan tâm và được nhiều nước đưa vào các chính sách cấp thiết để đối phó với khủng hoảng. Năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên Tây Ban Nha và Hy Lạp lên đến 50%, Ý là 35,9%, Bồ Đào Nha là 36,2%. Tổng thể tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên của khu vực EU cũng lên đến 18% [Nguyễn Văn Lịch, Hoàng Quốc Việt 2012]. Tại Việt Nam, báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam của UNFPA và Bộ Nội vụ [2015] cho thấy năm 2014, số thanh niên Việt Nam là 25,08 triệu, chiếm 27,7% dân số, đến năm 2018, số thanh niên giảm xuống còn 23,3 triệu người, chiếm 24,6% dân số, giảm 0,7% so với năm 2017 [Chu Thanh Vân, 2018].
Trong các vấn đề mà thanh niên gặp phải, thất nghiệp là một vấn đề cần giải quyết. Tính hết quý 1 năm 2018, tỷ lệ thanh niên từ 15-24 thất nghiệp là 7,07%, giảm 0,19% so với quý 4 năm 2017. Tuy nhiên, số lao động thanh niên thất nghiệp lại chiếm 46,2% tổng số lao động thất nghiệp; thành thị có tỷ lệ thất nghiệp 41,3%, thấp hơn nông thôn là 58,7%. Lao động thanh niên thiếu việc làm chiếm 22,9%, tương ứng với trên 180.
Thất nghiệp và thiếu việc làm ở thanh niên là nguyên nhân kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác nhau. Những tác động này không chỉ trong ngắn hạn mà còn tồn tại trong dài hạn. Thất nghiệp khi còn trẻ tạo ra những ―vết sẹo‖ ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của cá nhân ở các khía cạnh như mức lương thấp hơn, nguy cơ thất nghiệp cao hơn, các cơ hội phát triển hạn chế, sức khỏe yếu kém. Điều này tạo ra những chi phí xã hội cao do thuế giảm và chi dịch vụ phúc lợi tăng lên [Mc Quaid, 2015].
Tuy nhiên, những tác động này ở các cá nhân khác nhau là khác nhau. Burgess và cộng sự [2003] thông qua sử dụng dữ liệu của Vương quốc Anh đã chứng minh rằng mức độ ảnh hưởng của thất nghiệp khi trẻ tuổi đến tương lai sau này phụ thuộc nhiều vào cấp độ của kỹ năng cá nhân sau này, người kém kỹ năng hơn sẽ gặp bất lợi nhiều hơn. Điều này cho thấy vai trò của tái đào tạo sau thất nghiệp đối với những lao động trẻ tuổi. Thất nghiệp làm thanh niên mất các kỹ năng cần thiết và bị đẩy ra khỏi thị trường lao động 18 [Nguyễn Văn Lịch, Hoàng Quốc Việt, 2012].
Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Heckman và Borjas [1980], lý thuyết kinh tế và các số liệu thống kê đã được sử dụng để trả lời câu hỏi thất nghiệp hiện tại có tạo ra thất nghiệp trong tương lai mà các nghiên cứu thời kỳ trước đặt ra dưới 2 góc độ phân tích. Về khía cạnh lý thuyết kinh tế, khi một người phải trải qua một thời gian thất nghiệp trước đó, họ có thể đánh mất những kinh nghiệm cho công việc, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thất nghiệp trong tương lai. Khi các yếu tố khác nhau của năng lực không đồng nhất, doanh nghiệp, tổ chức sẽ căn cứ vào hồ sơ của cá nhân để quyết định thuê mướn hay có kế hoạch sử dụng nhân sự phù hợp. Lúc đó, với những thay đổi về sở thích, giá cả, các hạn chế, những người đã từng thất nghiệp được đánh giá khác những người chưa từng thất nghiệp.
Còn về mặt thống kê, quy tắc phổ biến cho thấy cá nhân khác nhau trong những biến cụ thể không quan sát được có thể ảnh hưởng đến xác suất có việc làm của họ. Nếu các biến không đo lường được có tương quan qua thời gian và không được kiểm soát riêng biệt, việc từng thất nghiệp trong quá khứ trở thành yếu tố quyết định đến khả năng thất nghiệp trong tương lai. Không có việc làm hoặc việc làm thu nhập thấp dẫn đến nghèo đói của thanh niên nói riêng và cộng đồng nói chung [Victor Dike, 2009]. Đây là vấn đề của nhiều nước nghèo mà chính phủ cần phải quan tâm.
Nigeria đứng thứ 158 về chỉ số phát triển con người có nguyên nhân từ thực trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người dân. Muốn cải thiện điều đó cần một sự phát triển toàn diện về kinh tế, sản xuất, trong đó nhấn mạnh đến việc giải quyết thất nghiệp. Lương thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao tạo ra nghèo đói. Nghèo đói dẫn đến hạn chế nguồn lực đầu tư cho giáo dục, y tế, sức khỏe để tăng năng suất lao động.
Vòng tròn nghèo đói đó bủa vây không chỉ cá nhân mà cả gia đình và cộng đồng, không chỉ ở thế hệ này mà còn lan sang cả thế hệ khác [John O. Thất bại của hệ thống quản trị công Ai Cập sau phong trào Mùa xuân Ả rập và sự đình trệ, hạn chế của phát triển kinh tế dẫn đến sự thiệt thòi và những trở ngại chuyển đổi của thanh niên quốc gia này trong quá trình 19 phát triển. Sự thất bại của hệ thống đào tạo làm cho thanh niên thiếu kỹ năng để tiếp cận việc làm vốn đã hạn chế do sự sụt giảm của hoạt động kinh tế, buộc thanh niên phải lựa chọn các công việc có thu nhập thấp, điều kiện làm việc nghèo nàn, không an toàn trong các khu vực phi chính thức, đặc biệt là đối với nữ giới, dẫn đến cuộc sống bấp bênh và bị đe dọa bởi nghèo đói [Jennifer Bremer, 2018]. Điều này cũng là vấn đề phải đương đầu của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế gắn liền với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội.
Trịnh Thị Kim Ngọc [2014] cho rằng bên cạnh việc làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát, thất nghiệp ở thanh niên còn ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, các mặt đời sống của cả gia đình họ, đồng thời tạo ra những gánh nặng cho nền kinh tế và mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội.