phần mở đầu, kết luận, 4 phụ lục, 85 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và 44 tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh. Nội dung chính luận án được trình bày trong 3 chương với 150 trang đánh máy cùng 40 bảng số liệu in khổ giấy A4 và 16 bản đồ chuyên đề in khổ giấy A3. Cơ sở khoa học và các phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu cảnh quan tỉnh Sơn La.
Định hướng phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan và sinh thái cảnh quan 1.
Giai đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ 2 Đến đầu thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về tổng hợp thể địa lí tự nhiên không còn mang tính quan sát, mô tả mà đã khái quát thành những quy luật. Khái niệm về tổng hợp thể địa lí tự nhiên được hình thành nhờ tiến bộ trong phương pháp nghiên cứu, từ phân tích đến tổng hợp của khoa học tự nhiên. Các nhà Sinh vật học và Thổ nhưỡng học là những người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ tương hỗ, phức tạp giữa giới vô sinh và giới hữu sinh. Điều đó, là tiền đề làm cho các khoa học bộ phận tiến dần đến khoa học địa lí tự nhiên tổng hợp, hay cảnh quan học.
Trên cơ sở của nghiên cứu của Docutraev, học thuyết về đất của Ông là nhân tố khởi đầu về Tổng hợp thể địa lí tự nhiên [97]. Berg (1913), đã kế thừa và phát triển học thuyết về đới tự nhiên của Docutraev để đưa ra khái niệm cảnh quan, Ông coi CQ như một miền. Trong đó, đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhưỡng hợp nhất với nhau thành một tổng hợp thể toàn vẹn, cân đối và lặp lại điển hình trong phạm vi đới ấy trên Trái Đất. Đây là cơ sở nền tảng cho những nghiên cứu về cơ sở lí luận và hình thái học của cảnh quan [89].
Ngoài ra, một số hướng nghiên cứu cơ bản của cảnh quan học cũng được đề cập tới: các nguyên tắc về phát sinh trong nghiên cứu CQ học; xây dựng các chỉ số hình thái cơ bản của CQ, Larin (1937) [115]; phát triển các cách tiếp cận về vùng hoặc địa hình của CQ, Ramensky (1938) [120]. Trong giai đoạn này, cơ sở lí luận về CQ chưa thống nhất do sự ra đời, phát triển của các trường phái khác nhau. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến năm 1991 Thời kì này, chứng kiến sự ra đời của các Bản đồ CQ tỉ lệ lớn trên cơ sở dữ liệu ảnh hàng không tại khu vực đồng bằng trung tâm của nước Nga, Xontxev (1948). Các kết quả nghiên cứu đã xác định khái niệm “cảnh quan” chính xác hơn trên cơ sở những đơn vị hình thái học và thuộc tính được giải đoán của chúng.
Hình thái học của CQ được xác định trực tiếp thông qua quá trình khảo sát ngoài thực địa, tạo điều kiện nền tảng cho sự hình thành các nghiên cứu ứng dụng của CQ. 7 Các hướng nghiên cứu chính như: những nguyên lí cơ bản về động lực biến đổi của CQ, Xontxev (1948); địa hóa CQ, Perelman (1961); động lực biến đổi của CQ, Sochava (1978) [124]. Các nghiên cứu này trở thành công cụ hữu hiệu phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng hợp lí lãnh thổ ở một số vùng của nước Nga, thiết kế các địa điểm giải trí hay phục vụ các ngành khoa học khác. Trong giai đoạn này, Ixatsenko trở thành người đầu tiên xác lập cơ sở lí luận trong nghiên cứu, thành lập Bản đồ CQ và phân vùng địa lí tự nhiên [106], [107], [108].
Giai đoạn này cũng ưu tiên hướng nghiên cứu cấu trúc, động lực và biến đổi của CQ. Đồng thời, nghiên cứu các tác động nhân sinh và giải quyết các vấn đề quản lí tài nguyên thiên nhiên (TNTN). Sư phân hóa lãnh thổ được xác lập dựa trên các hệ thống phân loại và phân vùng CQ. Tuy nhiên, cách thức xác định được thực hiện khác nhau: phương pháp sắp đặt có hệ thống, Sochava (1978) [124]; Krauklis (1979) [113]; phương pháp xác định các địa khối, Beruchashvili (1986) [90]; phương pháp toán học, Viktorov (1986), phương pháp địa vật lí, Armand (1975) [86]; phương pháp CQ tổng hợp, Mamay (2005) [116].
Đây là tiền đề cho các nghiên cứu các tác động của con người tới sự hình thành CQ nhân sinh. Trên cơ sở hệ thống phân loại CQ của Ixatsenko (1985) và học thuyết CQ học của Armand (1975) [86]; Xontxev (1981) [dẫn theo 108]. Bản đồ CQ Liên bang Xô Viết và thế giới, tỉ lệ 1:4.000 được thành lập trên cơ sở giải đoán dữ liệu ảnh viễn thám. Ngoài ra, các hướng nghiên cứu mới được ứng dụng như đánh giá đất nông nghiệp, định hướng quản lí TNTN cho một số khu vực cụ thể.
Ở Việt Nam, đầu tiên là công trình “Việt Nam” của Seglova (1957). Tác giả đã sử dụng hệ thống phân vị gồm có 2 cấp là Vùng và Á vùng để phân chia các khu vực địa lí tự nhiên Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả không nêu chỉ tiêu chẩn đoán cho từng cấp phân vị, nên người khác không thể áp dụng được. Sau công trình này, “Thiên nhiên Miền Bắc Việt Nam” của Fridlan (1961) được xuất bản [dẫn theo 40].
Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1970), trong công trình “Về sự cần thiết nghiên cứu tổng hợp đất nước bằng phương pháp cảnh quan”. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự cần thiết phải phát triển ứng dụng của khoa học cảnh quan vào sự nghiệp phát triển đất nước. Cũng trong năm này, 2 tác giả tiếp tục cho ra đời công trình “Địa lí Tự nhiên Việt Nam”. Trong đó, đề cập đến hệ thống phân vị gồm 6 8 cấp: Đới - Xứ - Miền - Khu - Vùng - Cảnh.
Đây là hệ thống phân vị được xây dựng trên quan điểm kết hợp cả quy luật địa đới và phi địa đới, cơ bản đã phản ánh được sự phân hóa của thiên nhiên Việt Nam. Tổ Phân vùng Địa lí tự nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà Nước (1970), đã biên soạn cuốn sách “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam - Tập 1”. Trong tác phẩm này, các tác giả sử dụng hệ thống phân vị gồm 7 cấp: Á lục địa - Xứ - Đới - Á đới - Miền - Á miền - Vùng. Hệ thống phân vị này có đầy đủ cơ sở khoa học, ngắn gọn, có các chỉ tiêu chẩn đoán cụ thể cho từng cấp.
Kết quả phân vùng cũng đã cơ bản phản ánh được sự phân hóa tự nhiên Việt Nam [40], [51]. Vũ Tự Lập (1976), với công trình “Cảnh quan Địa lí Miền Bắc Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu đã xác lập những cơ sở khoa học quan trọng trong nghiên cứu, thành lập Bản đồ cảnh quan. Tác giả đã xây dựng hệ thống phân loại CQ, gồm 16 cấp phân vị, mỗi cấp có chỉ tiêu chẩn đoán rõ ràng.
Bên cạnh đó, tác giả xây dựng Bản đồ cảnh quan Miền Bắc Việt Nam theo quan niệm cá thể và đề cao quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu các đơn vị địa lí tự nhiên [40]. Lê Bá Thảo (1977), hoàn tất công trình “Thiên nhiên Việt Nam”. Sự phân hóa tự nhiên Việt Nam trong công trình này được trình bày khác với những công trình trước đó. Mỗi vùng đều được phân tích những đặc trưng, tiềm năng tự nhiên, nguồn tài nguyên và đặc trưng văn hóa quan trọng nhất.
Đồng thời, tác giả nêu định hướng sử dụng từng vùng, miền dựa trên các đặc trưng tự nhiên và nhân văn [58], [59]. Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2016 Giai đoạn này, thông tin về cấu trúc không gian và thời gian của lãnh thổ đã tạo điều kiện cho sự hình thành các chủ đề nghiên cứu mới của cảnh quan học ứng dụng gồm: nghiên cứu các trạng thái của CQ, Dyakonov và cộng sự (2004) [98], [99]; các vấn đề liên quan tới biến đổi, tiến hóa CQ, Mamay (2005) [116], [117]; phân tích đa biến và hình học của CQ trên cơ sở dữ liệu viễn thám, Puzachenko và Aleshchenko (2004) [119]; nghiên cứu tiến hóa CQ dựa trên dữ liệu định tuổi bằng Carbon phóng xạ và mẫu thực vật Cổ sinh, Dyakonov (2004) [98], [99]. Vì vậy, nghiên cứu cảnh quan học chuyển dần sang tiếp thu những thành tựu theo định hướng sinh thái học hay sinh thái CQ, tạo tiền đề để sinh thái CQ thành lĩnh vực nghiên cứu mới. Ngoài ra, hướng đi này đã tạo điều kiện phát triển các phương pháp mới phục vụ khảo sát, xác định các biến động và xây dựng các hệ 9 thống thông tin phục vụ cho nghiên cứu cảnh quan, Mamay (2005) [116].
Đồng thời, các nghiên cứu về sinh thái học và sinh thái CQ đã tạo điều kiện xây dựng các dự án quan trắc những thay đổi về mối tương quan giữa đa dạng sinh học và động lực CQ, Dovers và Bunce (1998). Điều này, tạo cơ hội cho sự hình thành những đánh giá CQ trên cơ sở phân loại đất đai, phục vụ định hướng phục hồi điều kiện sinh thái của lãnh thổ, sử dụng hợp lí TNTN và tái tạo cảnh quan. Cũng trong giai đoạn này, lí thuyết về Sinh thái cảnh quan của Forman và Gordon đã trở thành nền tảng của sinh thái CQ hiện đại, phục vụ đắc lực cho quá trình khôi phục các CQ bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học [102]. Ngoài ra, xu hướng ứng dụng các phương pháp định lượng trong đánh giá CQ, giúp đạt được các giá trị chính xác về dữ liệu địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật được ứng dụng, Olaf Bastian (2002) [88]; Turner và cộng sự, (2001); Wu (2008).
Trên cơ sở này, nghiên cứu CQ tiếp tục phát triển với những phân tích về chức năng của CQ, Groot (1992) [96]; phân tích mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng CQ, Troy và Wilson (2006); phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị CQ, Meyer và Grabaum (2008); Sanderson và Harris (2000) [118]. Trong khi đó, quá trình phát triển về lí thuyết sinh thái CQ hiện nay đều nhấn mạnh mối quan hệ giữa mô hình hóa không gian và sự biến đổi của CQ. Đây là căn cứ để xác định mối quan hệ giữa CQ và các ngành sản xuất cho mục tiêu bảo tồn CQ, bảo vệ môi trường, Ryszkowski (2002); Sheppard và Harshaw (2001) [121]. Jeffrey Sayer và cộng sự (2013), nghiên cứu về các khái niệm, công cụ trong phân bổ tài nguyên và quản lí đất đai.