Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Lê Thị Hòa với đề tài "Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn Lào Suvănthon Bupphanuvông" được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Đức Ninh. Luận án thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, mã số 62.20.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào được phản ánh đậm nét trong văn học. Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn học Lào, đặc biệt là văn học hiện đại Lào tại Việt Nam cũng như trên thế giới còn nhiều hạn chế. Diện mạo văn học hiện đại Lào chưa được giới nghiên cứu văn học Việt Nam khảo sát sâu sắc, còn thiếu vắng các chuyên khảo về tác giả, tác phẩm, khuynh hướng và trào lưu văn học thời kỳ hiện đại. Nhà văn Suvănthon Bupphanuvông là cây bút có đóng góp lớn trong việc xây dựng và phát triển nền tiểu thuyết hiện đại Lào, song trước đây chưa có công trình nào đi sâu khảo sát toàn diện và có hệ thống về các bình diện thi pháp tiểu thuyết của ông.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Mục đích: Nghiên cứu toàn diện các sáng tác tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông nhằm tìm ra các đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn, nhận diện những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết hiện đại Lào, qua đó góp phần bổ sung vào lý luận về thể loại tiểu thuyết hiện đại.
- Nhiệm vụ: Trên cơ sở lý thuyết thể loại tiểu thuyết, luận án phân tích, đánh giá các sáng tác của tác giả trên các bình diện thi pháp khác nhau; từ đó hệ thống hóa các đặc điểm tạo nên phong cách nghệ thuật của Suvănthon Bupphanuvông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Các đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông.
- Phạm vi văn bản khảo sát: Khảo sát trực tiếp 5 bộ tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông trên cả hai thứ tiếng (tiếng Lào và tiếng Việt), bao gồm: Hồi tưởng lại (2 tập: 1972, 1974), Hai chị em (3 tập: 1975, 1976, 1977; bản dịch tiếng Việt của Lê Ngọ năm 1978, Lý Khắc Cung hiệu đính năm 1997), Tiểu đoàn Hai (4 tập: 1977, 1980, 1983; bản dịch tiếng Việt của Hùng Phi năm 1984), Hai bên bờ sông (2 tập: 1982, 1987), và Người con gái của Đảng (2 tập: 1982, 1984).
- Phạm vi văn bản so sánh: Luận án khảo sát đối chiếu với một số tiểu thuyết tiếng Lào cùng thời: Sỉ nọi (1968, 1974) và Tình yêu (1981) của Khămliêng Phônsêna, Con đường sống (1970) của Chănthi Đưởnsavẳn, Bão táp cuộc đời (1979) của Đao Nửa, Vượt ngục (1982) của Thoongsợp.
- Phạm vi nội dung học thuật: Tập trung vào ba bình diện nghệ thuật chính: nghệ thuật tổ chức nhân vật và sự kiện; không gian và thời gian nghệ thuật; ngôn ngữ nghệ thuật và phương thức trần thuật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện tình hình nghiên cứu về văn xuôi hiện đại Lào và tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông theo ba khu vực địa lý:
| Khu vực / Hướng nghiên cứu |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung chính và đóng góp của tài liệu trước |
| Nghiên cứu tại Lào |
- Các học giả văn học Lào - Giáo trình văn học hiện đại Lào và Giáo trình cơ sở lí luận văn học (ĐHSP Viêng Chăn) |
Khái quát lịch sử hình thành văn xuôi cách mạng Lào; đánh giá Tiểu đoàn Hai là tác phẩm có dung lượng đồ sộ và Hai chị em là thành tựu đổi mới tiểu thuyết; giới thiệu tóm tắt đề tài, cốt truyện, chủ đề tư tưởng. |
| Nghiên cứu tại Việt Nam (Văn học sử) |
- Lê Duy Lương (1968), Chương trình giảng dạy văn học Lào - Nguyễn Đức Ninh (1987, 2000, 2004, 2007) - Viện Đông Nam Á (1985) |
Tái hiện tiến trình văn học cách mạng Lào; xác định mốc ra đời của các thể loại truyện, ký, tiểu thuyết; giới thiệu đề tài, kết cấu, nhân vật trong Hai chị em, Tiểu đoàn Hai, Hai bên bờ sông. |
| Nghiên cứu tại Việt Nam (Chuyên luận & Bài báo) |
- Đinh Việt Anh (1984) - Changxayvang Xômsỉ (1986, 1988) - Trần Thúc Việt (1994, 2004, 2011) - Thanh Hương, Bunlôt Manichăn (1995) - Sukhămthakhaty (1999) |
Phân tích hình tượng phụ nữ; nghiên cứu hệ thống đề tài và nhân vật; tiếp cận mối quan hệ giữa truyền thống dân gian, Phật giáo và tính hiện đại; phân tích trần thuật phi tụ điểm, kết cấu đa tuyến, ngôn ngữ song điệu và độc thoại nội tâm. |
| Nghiên cứu trên thế giới |
- Saveng Phiniti, Plerre Bernord Lafont (Pháp, 1974) - Mithong Suvănvixay (Nga) |
Các báo cáo tại Hội nghị Đông Phương học lần 20 (chủ yếu về ký và truyện ngắn); luận án tiến sĩ tại Viện Hàn lâm Khoa học Nga về văn học Lào và chủ nghĩa hiện thực, ghi nhận tính biên niên sử trong tiểu thuyết Suvănthon. |
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nghiên cứu trước đây đa phần tiếp cận văn xuôi Lào từ góc độ văn học sử, mang tính giới thiệu chung hoặc chỉ dừng lại ở việc khảo sát một vài khía cạnh nội dung, đề tài, hình tượng nhân vật đơn lẻ. Các vấn đề thuộc về thi pháp thể loại, đặc trưng phong cách của Suvănthon Bupphanuvông, cũng như sự khái quát lý luận về thể loại tiểu thuyết hiện đại Lào chưa được giải quyết một cách chuyên sâu, hoàn chỉnh. Luận án của Lê Thị Hòa là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện và có hệ thống các bình diện nghệ thuật tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các quan điểm lý luận văn học phương Tây và lý luận văn học Mác-xít:
- Quan niệm của M. Bakhtin về bản chất thể loại tiểu thuyết: tính ba chiều phong cách học gắn với ý thức đa ngữ, sự thay đổi tọa độ thời gian, và khu vực tiếp xúc tối đa với hiện tại chưa hoàn thành; quan niệm người anh hùng sử thi là con người "hoàn tất và toàn vẹn ý nghĩa".
- Quan niệm của Milan Kundera về nghệ thuật tiểu thuyết: tiểu thuyết khảo sát vùng các khả năng của con người và bí ẩn của cái tôi.
- Quan điểm của G.W.F. Hegel về tính văn xuôi của tiểu thuyết: tái hiện hiện thực đời sống thường ngày trong sự biến đổi và quá độ mà không thi vị hóa.
- Quan niệm lý luận của các học giả Việt Nam: Phan Cự Đệ, Phương Lựu, Lý Hoài Thu, Đỗ Đức Hiểu, Vũ Ngọc Phan về sáu đặc trưng thẩm mỹ của tiểu thuyết (khả năng mở rộng tầm vóc hiện thực, khám phá số phận cá nhân, tính văn xuôi và tự sự, nhân vật nếm trải trong hoàn cảnh, kết cấu dung nạp nhiều yếu tố, bản chất tổng hợp và tính dân chủ); quan niệm của Vũ Khiêu về sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố phi thường và bình thường trong hình tượng người anh hùng cách mạng.
- Cơ sở văn hóa - tôn giáo Lào: Hệ thống quan niệm Phật giáo Nguyên thủy (Phật giáo Tiểu thừa) chi phối tâm lý, tính cách người Lào; các chuẩn mực đạo đức, giới luật ("ngũ giới"), quan niệm về nghiệp quả thiện ác, và hai loại hình nhân vật văn hóa đặc trưng là "Khôn súc" (người chín - người đã qua tu hành ở chùa như Xiêng, Thít, Chan) và "Khôn đíp" (người sống - người chưa qua tu hành nhưng tu dưỡng theo đạo Phật).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Dựa trên định nghĩa của Vinogradov về thi pháp học như khoa học về hình thức mang tính quan niệm, phương pháp này định hướng nghiên cứu các phạm trù hình tượng nhân vật, không gian - thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Suvănthon.
- Phương pháp loại hình: Ứng dụng để phân loại hệ thống nhân vật theo lý tưởng xã hội (chính diện, phản diện), phân loại các kiểu nhân vật văn hóa ("khôn súc", "khôn đíp"), phân chia các dạng không gian, thời gian nghệ thuật, các cấp độ trần thuật và tín hiệu ngôn ngữ.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp thi pháp học với các yếu tố lịch sử cách mạng, văn hóa dân gian và Phật giáo Lào để xác định đặc trưng thể loại.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông với các tiểu thuyết của Khămliêng Phônsêna, Chănthi Đưởnsavẳn, Đao Nửa, Thoongsợp để tìm ra nét riêng trong phong cách tác giả và đặc điểm chung của tiểu thuyết hiện đại Lào.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt nhằm minh xác các luận điểm thi pháp từ các văn bản tác phẩm.
Nguồn dữ liệu của luận án là toàn bộ văn bản 5 bộ tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông bằng tiếng Lào và các bản dịch tiếng Việt, kết hợp với các văn bản tiểu thuyết đối sánh xuất bản tại Lào từ năm 1968 đến năm 1982.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 giải quyết hai nội dung nền tảng: cơ sở lý luận về thể loại và lịch sử nghiên cứu vấn đề.
- Về lý luận thể loại tiểu thuyết: Tác giả tổng hợp sáu đặc trưng thẩm mỹ của tiểu thuyết (khả năng bao quát hiện thực rộng lớn, khám phá số phận cá nhân, tính văn xuôi, nhân vật nếm trải hoàn cảnh, kết cấu đa dạng và khả năng tổng hợp các yếu tố thể loại).
- Về tiểu thuyết hiện đại Lào: Tiểu thuyết Lào ra đời muộn trong khu vực Đông Nam Á (bắt đầu năm 1968 với tác phẩm Sỉ nọi của Khămliêng Phônsêna), xuất phát từ nhu cầu nội tại của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và tiếp thu ảnh hưởng từ văn học Xô viết, văn học cách mạng Việt Nam. Thể loại này mang các đặc trưng:
- Sự tổng hợp giữa tính lý tưởng và tính hiện thực: Nhân vật phản ánh hình mẫu anh hùng cách mạng vô sản xuất thân từ tầng lớp công nông binh, kết hợp giữa hành động dũng cảm phi thường với hoàn cảnh hiện thực đời thường.
- Sự tổng hợp giữa chất sử thi, kịch và trữ tình: Bức tranh hiện thực quy mô lớn, kết cấu đa tuyến, đan xen cốt truyện lịch sử và cốt truyện số phận cá nhân.
- Về tổng quan lịch sử nghiên cứu: Phân tích hệ thống tài liệu nghiên cứu về văn xuôi Lào và tác giả Suvănthon tại Lào, Việt Nam, Pháp và Nga, khẳng định vị trí của Suvănthon là tiểu thuyết gia tiêu biểu của Lào giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước.
Chương 2: Đặc trưng nghệ thuật tổ chức nhân vật và sự kiện trong tiểu thuyết của Suvănthon
Chương 2 tập trung phân tích hệ thống hình tượng và cấu trúc cốt truyện trong các tiểu thuyết của Suvănthon:
- Nghệ thuật tổ chức nhân vật:
- Phân tuyến nhân vật theo lý tưởng xã hội: Tác giả phân chia rạch ròi thành tuyến chính diện (những người lính Pa-thét Lào, cán bộ cách mạng, quần chúng ưu tú) và tuyến phản diện (thực dân, đế quốc và lực lượng tay sai). Nhân vật chính diện là những mẫu người "hoàn tất và toàn vẹn ý nghĩa", đại diện cho chuẩn mực đạo đức cộng đồng.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật người anh hùng - chiến sĩ: Khắc họa hình tượng anh hùng cách mạng xuất thân từ nhân dân lao động nghèo khổ (như nhân vật Khăm Mặn trong Tiểu đoàn Hai có gia đình nhiều đời bị áp bức, bản thân từng đi làm thuê, ăn xin). Tác giả sử dụng thủ pháp huyền thoại hóa khả năng phi thường của nhân vật trong chiến đấu, kết hợp với việc lý tưởng hóa vẻ đẹp ngoại hình và phẩm chất đạo đức.
- Đặt nhân vật trong các mối quan hệ đa chiều: Nhân vật được đặt vào các tình huống phức tạp (như nhân vật Thao Khôm trong Hồi tưởng lại vừa phải ứng phó với sự lôi kéo của phe phái hữu vừa giữ vững lập trường cách mạng), qua đó làm nổi bật tính chân thực của tâm lý và bản lĩnh chính trị.
- Nghệ thuật tổ chức sự kiện:
- Kết cấu sự kiện theo biến cố lịch sử: Cốt truyện bám sát các sự kiện lịch sử có thật của cách mạng Lào (tiêu biểu là cuộc rút quân phá vòng vây của Tiểu đoàn 2 tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng trong Tiểu đoàn Hai).
- Kết cấu sự kiện theo trật tự tuyến tính và biên niên sử: Diễn biến câu chuyện tuân theo trình tự thời gian vật lý, kết hợp các xung đột kịch tính giữa hai lực lượng đối kháng.
Chương 3: Đặc trưng không gian, thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Suvănthon
Chương 3 đi sâu vào các chiều kích thi pháp không gian và thời gian trong tác phẩm của Suvănthon:
- Không gian nghệ thuật:
- Không gian công cộng: Miêu tả các địa điểm sinh hoạt cộng đồng, bản làng, chùa chiền, vùng giải phóng và đô thị, phản ánh phong tục tập quán và lối sống truyền thống của các bộ tộc Lào.
- Không gian chiến trường: Miêu tả các cứ điểm, chiến hào, rừng rậm nơi diễn ra các trận đánh ác liệt, tạo hoàn cảnh thử thách lòng quả cảm và tinh thần hy sinh của người chiến sĩ.
- Không gian thiên nhiên: Tái hiện cảnh sắc thiên nhiên Lào gắn với dòng sông Mê Kông, núi rừng, nương rẫy, mang tính biểu cảm và gắn bó mật thiết với tâm lý nhân vật.
- Thời gian nghệ thuật:
- Thời gian lịch sử sự kiện: Trình tự thời gian gắn với tiến trình lịch sử cách mạng Lào từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến giai đoạn hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Thời gian đối sánh - quy kết: Đặt quá khứ khổ nhục, áp bức đối sánh với hiện tại đấu tranh và tương lai độc lập; đồng thời thể hiện luật nhân quả, thiện ác báo ứng theo quan niệm đạo đức truyền thống.
- Thời gian thử thách và hi vọng: Khắc họa khoảng thời gian cam go của các chiến dịch, từ đó mở ra niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Chương 4: Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và các phương thức trần thuật trong tiểu thuyết của Suvănthon
Chương 4 khảo sát phương diện ngôn từ và kỹ thuật tự sự:
- Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật:
- Mang đậm màu sắc dân gian và văn hóa Phật giáo: Sử dụng phong phú thành ngữ, tục ngữ, lối so sánh ví von dân dã; đưa các thuật ngữ, danh hiệu Phật giáo (Xiêng, Thít, Chan) và quan niệm nhà Phật vào lời văn.
- Lối diễn đạt giàu tính báo chí, biên niên: Ngôn ngữ thiên về ghi chép, phản ánh chân thực và cụ thể các sự kiện khách quan.
- Vận dụng đối thoại, độc thoại nội tâm và ngôn ngữ song điệu: Bước đầu thể hiện tiếng nói nội tâm, sự phân thân tâm lý của nhân vật ở một số tác phẩm đổi mới như Hai chị em.
- Các phương thức trần thuật:
- Điểm nhìn trần thuật: Kết hợp giữa điểm nhìn của người trần thuật ngôi thứ ba toàn tri với điểm nhìn của nhân vật bên trong; điểm nhìn không gian - thời gian mang tầm bao quát sử thi; điểm nhìn tư tưởng thể hiện rõ lập trường cách mạng.
- Các cấp độ trần thuật: Vận dụng kết cấu trần thuật đa tuyến, trần thuật biên niên lịch sử kết hợp với trần thuật phi tụ điểm, mở rộng khả năng tiếp cận hiện thực đời sống.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào phần trình bày của tác giả, luận án mang lại các kết quả và đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên đưa ra những khái quát lý luận về đặc trưng nghệ thuật tổ chức nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian, ngôn ngữ và phương thức trần thuật trong tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông. Công trình chỉ rõ nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại Lào là khả năng phản ánh sâu rộng mang tầm vóc sử thi, kết hợp giữa thi pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa với các giá trị truyền thống dân gian và tư tưởng văn hóa Phật giáo.
- Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp một hệ thống phân tích toàn diện về các phương diện nghệ thuật trong toàn bộ 5 bộ tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông, đặt trong sự so sánh với các nhà văn cùng thời ở Lào. Qua đó, công trình khẳng định vai trò then chốt của Suvănthon trong lịch sử hình thành và phát triển của văn xuôi hiện đại Lào, đồng thời cung cấp tư liệu học thuật về văn hóa, lịch sử và con người Lào.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án tập trung khảo sát chủ yếu ở phạm vi thể loại tiểu thuyết của một tác giả đại diện (Suvănthon Bupphanuvông) và một số tác phẩm cùng thời tại Lào giai đoạn 1968–1987. Nguồn văn bản dịch sang tiếng Việt chỉ mới bao gồm 2 bộ tiểu thuyết (Hai chị em và Tiểu đoàn Hai), trong khi các tác phẩm còn lại phải khảo sát trực tiếp bằng nguyên bản tiếng Lào.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ cơ sở dữ liệu và phạm vi của đề tài, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các thể loại khác của Suvănthon (thơ ca, truyện ngắn, bút ký) hoặc nghiên cứu so sánh tiểu thuyết hiện đại Lào với tiểu thuyết của các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á trong cùng tiến trình lịch sử.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Lí luận văn học, Văn học so sánh, Văn học nước ngoài và Đông Nam Á học có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về thi pháp tiểu thuyết và phương pháp tiếp cận văn học khu vực.
- Nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử Lào: Tham khảo nguồn tư liệu về sự tương tác giữa tư tưởng Phật giáo tiểu thừa, văn học dân gian và hiện thực đấu tranh cách mạng Lào qua văn học nghệ thuật.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích về hai loại hình nhân vật văn hóa "Khôn súc" – "Khôn đíp" (Chương 1 và Chương 2), thi pháp không - thời gian nghệ thuật (Chương 3) và đặc trưng ngôn ngữ trần thuật (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát trực tiếp những bộ tiểu thuyết nào của Suvănthon Bupphanuvông?
Luận án khảo sát toàn bộ 5 bộ tiểu thuyết của nhà văn gồm: Hồi tưởng lại (2 tập: 1972, 1974), Hai chị em (3 tập: 1975, 1976, 1977), Tiểu đoàn Hai (4 tập: 1977, 1980, 1983), Hai bên bờ sông (2 tập: 1982, 1987), và Người con gái của Đảng (2 tập: 1982, 1984). Trong đó, Hai chị em và Tiểu đoàn Hai được khảo sát song song qua bản dịch tiếng Việt và nguyên bản tiếng Lào.
2. Hai loại hình nhân vật "Khôn súc" và "Khôn đíp" trong văn xuôi Lào mang đặc điểm gì?
"Khôn súc" (người chín) là những người đã trải qua thời gian tu hành tại chùa, được giáo hóa, sau đó hoàn tục và mang danh xưng Phật giáo (Xiêng, Thít, Chan), là chỗ dựa đạo đức cho bản làng. "Khôn đíp" (người sống) là những người chưa đi tu nhưng là Phật tử giữ gìn ngũ giới, làm việc thiện để tích đức. Cả hai loại hình nhân vật này thể hiện sự chi phối sâu sắc của Phật giáo đối với tính cách và lối sống của người Lào.
3. Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Luận án sử dụng 4 phương pháp chính gồm: Phương pháp tiếp cận thi pháp học (tiếp cận hình thức mang tính quan niệm), Phương pháp loại hình (phân loại nhân vật, không - thời gian, cấp độ trần thuật), Phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp văn học, lịch sử, văn hóa Phật giáo, ngôn ngữ), và Phương pháp so sánh (đối chiếu sáng tác của Suvănthon với các nhà văn Lào cùng thời).
4. Đặc trưng nổi bật trong thi pháp tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông là gì?
Đặc trưng nổi bật là tính chất sử thi hoành tráng thể hiện qua việc bao quát bức tranh hiện thực lịch sử rộng lớn, cốt truyện bám sát sự kiện lịch sử có thật, kết cấu đa tuyến kết hợp giữa cốt truyện lịch sử và cốt truyện số phận, cùng sự đan xen giữa tư tưởng cách mạng hiện thực xã hội chủ nghĩa với đạo đức truyền thống và triết lý nhân quả của Phật giáo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hòa là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về đặc trưng thi pháp tiểu thuyết của Suvănthon Bupphanuvông dưới góc độ lí luận văn học. Tác phẩm đã phân tích rõ nét nghệ thuật tổ chức nhân vật, kết cấu sự kiện, không gian, thời gian và ngôn ngữ trần thuật trong toàn bộ 5 bộ tiểu thuyết của tác giả. Qua đó, luận án làm sáng tỏ sự kết hợp giữa cảm hứng sử thi cách mạng với bản sắc văn hóa Phật giáo và truyền thống dân gian Lào, khẳng định vai trò nền tảng của Suvănthon Bupphanuvông trong lịch sử phát triển của nền tiểu thuyết hiện đại Lào.