Luận án tiến sĩ ngữ văn con người nam bộ trong sáng tác văn xuôi của hồ biểu chánh bình nguyên lộc sơn nam và nguyễn ngọc tư

Luận án tiến sĩ ngữ văn khám phá hình tượng con người Nam Bộ qua tác phẩm văn xuôi của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

177
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ 'Con người Nam Bộ trong văn xuôi Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư' tập trung vào việc khám phá hình tượng con người Nam Bộ qua các tác phẩm văn xuôi của bốn nhà văn tiêu biểu. Văn học Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, phản ánh sâu sắc văn hóa Nam Bộtình hình xã hội Nam Bộ. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào từng tác giả riêng lẻ, nhưng luận án này đặt mục tiêu hệ thống hóa và so sánh sự thể hiện con người Nam Bộ qua các thời kỳ khác nhau.

1.1. Nghiên cứu về con người Nam Bộ trong văn học miền Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay

Giai đoạn từ 1945 trở về trước, các công trình nghiên cứu như 'Phê bình cảo luận' của Thiếu Sơn hay 'Việt Nam văn học sử yếu' của Dương Quảng Hàm chỉ đề cập đến một số tác giả tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh. Giai đoạn từ 1945 đến 1975, do hoàn cảnh lịch sử, việc nghiên cứu văn học Nam Bộ ở hai miền Bắc - Nam không thống nhất. Ở miền Bắc, các nghiên cứu thường xem nhẹ giá trị của văn học miền Nam, trong khi ở miền Nam, các công trình nghiên cứu lại có xu hướng cực đoan, hoặc hạ thấp hoặc đề cao quá mức.

1.2. Cội nguồn văn hóa xã hội tiền đề hình thành tính cách con người Nam Bộ

Văn hóa Nam Bộ được hình thành từ sự kết hợp giữa truyền thống dân tộc Việt và các yếu tố văn hóa ngoại lai. Môi trường tự nhiênxã hội đặc thù của Nam Bộ đã tạo nên những tính cách riêng biệt của con người nơi đây. Sự phóng khoáng, khát vọng chinh phục, và tinh thần hòa đồng là những nét đặc trưng của con người Nam Bộ, được phản ánh rõ nét trong các tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn NamNguyễn Ngọc Tư.

II. Con người đạo lí trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn tiên phong của văn học Nam Bộ, với sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Ông tập trung khắc họa con người đạo lí, những nhân vật gìn giữ và đề cao chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Các tác phẩm của ông như 'Cay đắng mùi đời', 'Cha con nghĩa nặng' đã phản ánh sâu sắc tình hình xã hội Nam Bộ thời kỳ giao thời, với những xung đột giữa cái thiện và cái ác.

2.1. Con người gìn đạo giữ đạo trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh

Nhân vật trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thường là những người kiên quyết chống lại cái xấu, cái ác, đề cao chuẩn mực đạo đức. Ông đặt nhân vật vào những tình huống éo le, kịch tính để làm nổi bật tính cách và phẩm chất của họ. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của Hồ Biểu Chánh chú trọng vào việc miêu tả thân thế, ngoại hình, hành động và ngôn ngữ, tạo nên những hình tượng sống động và chân thực.

2.2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng con người đạo lí của Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống thường nhật của người dân Nam Bộ. Ông thường xây dựng các tình huống đậm chất kịch tính, đẩy nhân vật vào những thử thách để làm nổi bật phẩm chất đạo đức của họ. Cách xây dựng nhân vật của ông không chỉ phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn góp phần làm phong phú thêm văn học Nam Bộ.

III. Con người mở đất trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc Sơn Nam

Bình Nguyên LộcSơn Nam là hai nhà văn tiêu biểu của văn học Nam Bộ, với những tác phẩm phản ánh sâu sắc văn hóa Nam Bộtình hình xã hội Nam Bộ. Họ tập trung khắc họa con người mở đất, những người tiên phong trong việc khai phá và xây dựng vùng đất mới. Các tác phẩm của họ như 'Hương rừng Cà Mau', 'Biển cỏ miền Tây' đã làm nổi bật tinh thần kiên cường, bất khuất của con người Nam Bộ.

3.1. Sứ mệnh lớn lao của con người mở đất

Nhân vật trong các tác phẩm của Bình Nguyên LộcSơn Nam thường mang trong mình sứ mệnh lớn lao, đó là khai phá và xây dựng vùng đất mới. Họ là những người tiên phong, dám nghĩ, dám làm, và không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách. Những nhân vật này không chỉ phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn thể hiện tinh thần bất khuất, kiên cường của con người Nam Bộ.

3.2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng con người mở đất

Bình Nguyên LộcSơn Nam sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống thường nhật của người dân Nam Bộ. Họ thường xây dựng các tình huống đậm chất 'cảm hoài', đẩy nhân vật vào những thử thách để làm nổi bật phẩm chất và tinh thần của họ. Cách xây dựng nhân vật của hai nhà văn này không chỉ phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn góp phần làm phong phú thêm văn học Nam Bộ.

IV. Con người lưu lạc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn đương đại tiêu biểu của văn học Nam Bộ, với những tác phẩm phản ánh sâu sắc văn hóa Nam Bộtình hình xã hội Nam Bộ thời kỳ đổi mới. Bà tập trung khắc họa con người lưu lạc, những người mang trong mình nỗi day dứt vì phải phiêu dạt, tha hương. Các tác phẩm của bà như 'Cánh đồng bất tận', 'Gió lẻ và 9 câu chuyện khác' đã làm nổi bật cảm thức lưu lạc, vừa hắt bóng không gian văn hóa Nam Bộ cổ truyền, vừa in dấu văn hóa hậu hiện đại.

4.1. Cảm thức lưu lạc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thường mang trong mình nỗi day dứt vì phải phiêu dạt, tha hương. Họ là những người luôn khắc khoải trong hành trình kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống. Cảm thức lưu lạc này không chỉ phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn thể hiện sự đổi mới trong tư duy sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.

4.2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng con người lưu lạc

Nguyễn Ngọc Tư sử dụng ngôn ngữ dân dã, sống động, giàu cảm giác và cảm xúc. Bà thường đẩy nhân vật vào những tình huống lưu lạc, tái điệp không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật đặc thù để làm nổi bật cảm thức lưu lạc. Cách xây dựng nhân vật của bà không chỉ phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn góp phần làm phong phú thêm văn học Nam Bộ.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH CÁCH CON NGƯỜI NAM BỘ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về con người Nam Bộ trong văn học miền Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay Giai đoạn từ 1945 trở về trước, những công trình Phê bình cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm hay Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan. chỉ đề cập tới vài ba gương mặt tiêu biểu của văn học Nam Bộ như Trương Vĩnh Ký, Đông Hồ, Hồ Biểu Chánh, Mộng Tuyết… trong đó đặc biệt ưu ái Hồ Biểu Chánh.

Vũ Ngọc Phan đã nhận xét sở trường miêu tả con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: “Hạng người ông tả là hạng tiểu công chức, tiểu phú hào hay hạng thợ thuyền, hạng dân quê” [Xem 244, 102]. Giai đoạn từ 1945 đến 1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, việc nghiên cứu văn học miền Nam ở hai miền Bắc - Nam không thống nhất. Ở miền Bắc, văn học miền Nam ít được chú ý, việc đánh giá chưa đúng với tầm vóc và giá trị. Nguyễn Đình Chú trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IV (1962) ghi nhận sơ bộ một số đóng góp của Hồ Biểu Chánh cho thể loại tiểu thuyết.

Phan Cự Đệ khi bàn về Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) tuy có nhắc đến một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh nhưng vẫn xem nhẹ vị trí của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ. Ở miền Nam, số lượng công trình nghiên cứu phong phú hơn và đi theo hai xu hướng khá cực đoan: hoặc hạ thấp, hoặc đề cao. Thí dụ, Phạm Thế Ngũ ở Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) nhận xét: “Gia Định là đất mới. Dân chúng vừa thưa ít, vừa chưa được thuần nhất.

Sự sáng tác văn học, sự ưa chuộng văn chương, sự trồng trọt thi văn ở đây chưa có truyền thống sâu xa, nên kém tiềm lực, kém khả năng. Quốc văn do đó trong nhiều năm về sau ở Nam Kì chỉ bày tỏ trong hình thức báo chí phổ thông với trình độ trí thức khá ấu trĩ hoặc ở tác phẩm tiểu thuyết cho một công chúng hạ lưu dễ dãi” [217, 85] còn Nguyễn Văn Xuân trong Khi những lưu dân trở lại (1969) thì khẳng định: “Tại sao khi nhắc đến tiểu thuyết phôi 9 thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả miền Nam vào đầu thế kỉ… những tác giả đã thành công lớn ở miền Nam khi chính miền Bắc nhiều người chưa biết tiểu thuyết là gì?” [107, 541]. Tình trạng thiếu khách quan như vậy đã làm hạn chế việc nhận diện đối tượng. Xuất hiện nhiều hơn ở cả hai miền thời kì này là các nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975.

Miền Bắc có Suy nghĩ bước đầu về nền văn nghệ trên một nửa đất nước: Văn nghệ miền Nam (1969) của Trần Hiếu Minh, Chủ nghĩa nhân đạo và một số khuynh hướng văn học công khai trong vùng tạm bị chiếm miền Nam (1972) của Nguyễn Đức Đàn, Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam (1981) của Lữ Phương. Tinh thần chung của các nghiên cứu từ miền Bắc là mạnh mẽ phê phán, phủ nhận bộ phận văn học đô thị miền Nam, cho rằng nó chịu ảnh hưởng độc hại của chủ nghĩa thực dân, “cố gạt hình ảnh con người ra khỏi văn nghệ”, “đã chán ngán “thân phận làm người” “bi đát”, “địa ngục”, đáng “nôn mửa” [205]. Ở miền Nam dạng bài điểm sách rất nhiều như Giới thiệu Thềm hoang của Nhật Tiến (1961) của Thư Trung, Chúng tôi đọc “Những kẻ đứng bên lề” của Nguyễn Đình Toàn (1964) của Đặng Tiến, Đọc sách giúp bạn, Cát lầy của Thanh Tâm Tuyền (1967) của Bách Khoa Thời Đại… Dù mới dừng lại ở mức độ giới thiệu, chưa có sự nghiên cứu tỉ mỉ, hệ thống, nhưng những bài viết này đã phần nào ghi nhận tính nhân văn của các tác phẩm thông qua bức tranh xã hội “cả một lớp người, cả một thế hệ bị hoàn cảnh đất nước, xã hội đẩy đến chỗ lún cát, sa lầy” [119], “hạng người xấu số, dốt nát, lầm than, nghèo nàn, khốn khổ, thiếu thốn, chật vật” [287]… Trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972), Tạ Tỵ chỉ ra điểm hấp dẫn của nhà văn Thế Uyên là đã trút xuống mặt giấy nỗi bỏng cháy, giãy giụa của thân phận làm người trước những sự kiện tưởng không có phương thế sửa chữa, điều mới lạ của nữ sĩ Thụy Vũ là do đề cập thẳng thắn và táo bạo về thân phận con người tan rã như bọt bèo nổi trôi trong đại dương cuộc đời hay khuất chìm vĩnh viễn vào lòng đất… Như vậy, thân phận con người Nam Bộ trong văn học đô thị miền Nam đã ít nhiều được bàn đến. Sau 1975, đất nước thống nhất và đổi mới tạo nhiều thuận lợi để giới nghiên cứu có thể đưa ra sự nhìn nhận khách quan, công bằng hơn về một thực thể văn học từng có lúc 10 bị coi là không có dĩ vãng.

Vấn đề con người Nam Bộ theo đó cũng được quan tâm, chú ý hơn. Mảng văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ tiếp tục trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình. Tiêu biểu là Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (1987) của tập thể tác giả, Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỉ XX (1900 - 1954) (1988) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp, Văn học miền Nam (2003) của Nguyễn Q. Thắng… Các tác giả này bàn về điều kiện lịch sử, xã hội dẫn tới sự hình thành văn học viết bằng chữ quốc ngữ và liệt kê nhiều tên tuổi nhà văn Nam Bộ giai đoạn này (Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh…).

Công phu hơn cả là công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX (2004) do tác giả Nguyễn Kim Anh chủ biên. Có 3 luận án tiến sĩ liên quan trực tiếp đến văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ là: Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1932 (1993) của Tôn Thất Dụng, Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX (2001) của Cao Xuân Mỹ, Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam (2002) của Lê Ngọc Thúy. Các tác giả luận án đều chỉ ra khá thuyết phục những tiền đề lịch sử - xã hội, quá trình vận động, một số đặc điểm nội dung, nghệ thuật của văn học quốc ngữ Nam Bộ. Song khía cạnh con người Nam Bộ vẫn chưa trở thành đối tượng được chú ý.

Đến Hồ sơ về lục châu học (2015), Nguyễn Văn Trung mới gián tiếp nhắc tới con người Nam Bộ khi bàn về ngôn ngữ văn chương: “Không câu nệ hình thức, ngay thẳng trong nếp sống cũng như trong ngôn ngữ nói, viết, bày tỏ một nỗ lực trở về cái trực tiếp ban đầu, tước bỏ những cái chải chuốt, vẽ vời khuôn sáo, nhằm thực hiện một bước đi mới, một đổi đời” [286, 489]. Ông đưa ra một lí giải khái quát: “Đất dễ thì người dễ, quan hệ giữa người và người nhiều nhân tính hơn, con người cởi mở dễ sống” [286, 543]. Việc nhìn nhận văn học đô thị miền Nam từ giữa thập kỉ 80 trở đi đã dần điềm tĩnh hơn, bớt khe khắt hơn. Một số công trình tiêu biểu như Nhìn lại một chặng đường văn học (2000) của Trần Hữu Tá, Văn hóa văn nghệ một thời hai trận tuyến (2001) của Trường Lưu… Các nghiên cứu coi trọng hơn đến tiêu chí nghệ thuật của tác phẩm.

Liên 11 quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi là ý kiến của Trần Hữu Tá về con người Nam Bộ trong sáng tác của Lê Vĩnh Hòa: “Sông nước, hoa trái…, sự giàu có của quê hương và sức sáng tạo của người dân lương thiện trong thơ Lê Vĩnh Hòa, tất cả đều có sức quyến rũ lớn, đánh thức lòng yêu nước của từng người”; của Sơn Nam: “Nhân dân đã dũng cảm trừ rắn, bắt cá sấu, chống trả quyết liệt và chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt… Trong gian khổ tinh thần người dân vẫn khỏe mạnh, hồn nhiên. Họ vẫn mê xem hát bội” [253, 72]. Hình tượng con người Nam Bộ trong văn học miền Nam được Vương Trí Nhàn đề cập trong cái nhìn đối sánh với văn học miền Bắc: “Tôi cho rằng, nếu trong truyền thống, chúng ta có mảng văn học chức năng, động viên thôi thúc con người hành động, ví dụ như Bình Ngô đại cáo hay thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, thì Văn học miền Bắc nối truyền thống đó rất rõ. Ngược lại, Văn học miền Nam nối tiếp truyền thống văn học của Nguyễn Du, của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, mảng nói về những đau khổ của con người và sự bơ vơ, khó khăn, bất lực, không biết đi lối nào trong đời sống này và cả tính bi thương, đau đớn của con người.

Mảng đó tôi thấy rõ ở Văn học miền Nam đầy đủ hơn” [220]. Ở hải ngoại, cộng đồng người Việt rất quan tâm đến văn học đô thị miền Nam. Trong phần Tổng quan của bộ sách Văn học miền Nam, Võ Phiến cho rằng văn học Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975 đã phô bày được những mất mát, lo lắng, đau đớn, kinh hoàng của con người trước thời cuộc, “những băn khoăn, trầm tư về thân phận con người, về chế độ chính trị, về ý nghĩa cuộc sống v. thấm sâu vào tác phẩm văn nghệ” [232].

Thụy Khuê, sau khi phân tích ảnh hưởng của triết học hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực và phân tâm học đến văn học đô thị miền Nam nói chung và sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu nói riêng, đã nhấn mạnh: “Mỗi nhà văn có một vùng khai phá riêng. Tính chất đa dạng ấy khiến cho văn học miền Nam, qua các ngòi bút khác nhau, đã phản ánh được thân phận con người trong xã hội chiến tranh, bằng những hình thức sáng tạo mới, khác hẳn tiền chiến, tạo cho văn học Việt Nam một bộ mặt trưởng thành trong tâm thức nhà văn và tâm thức độc giả” [186]. Sự khởi sắc của văn học Nam Bộ thời kì đổi mới là một thực tế sống động và đã trở thành đối tượng nghiên cứu của một số luận văn, luận án, ví dụ: Khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay (2011) của Trần Mạnh Hùng, 12 Thành ngữ trong truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long (2012) của Nguyễn Thụy Thùy Dương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Con người Nam Bộ trong văn xuôi Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư là một nghiên cứu chuyên sâu về hình tượng con người Nam Bộ qua các tác phẩm văn xuôi của bốn nhà văn tiêu biểu. Tài liệu này không chỉ phân tích đặc điểm văn hóa, tính cách, và tâm lý của người Nam Bộ mà còn làm nổi bật sự phát triển của văn học miền Nam qua các thời kỳ. Độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện về sự giao thoa giữa văn học và đời sống, đồng thời hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và lịch sử đã ảnh hưởng đến các tác phẩm này.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 để hiểu sâu hơn về phong cách văn học hiện đại. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam hiện đại đặc điểm hồi kí của các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu sẽ mang đến góc nhìn đa chiều về thể loại hồi ký. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và tâm lý nhân vật trong văn học cổ điển. Mỗi tài liệu là một cơ hội để mở rộng kiến thức và hiểu biết của bạn về văn học Việt Nam.