Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất đai tại Đắk Lắk giai đoạn 1975–2015 do NCS. Trương Thị Hạnh thực hiện (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2019) là công trình tiên phong phục dựng toàn diện tiến trình chuyển dịch thể chế quản trị tài nguyên từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại một địa bàn chiến lược đặc thù. Đắk Lắk giữ vị trí trung tâm Tây Nguyên, sở hữu quỹ đất bazan màu mỡ nhưng chịu áp lực phức tạp về lịch sử, dân tộc và an ninh quốc phòng. Như tài liệu lập quy đã khẳng định: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng".

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ việc các công trình đi trước thường tiếp cận đất đai đơn tuyến dưới góc độ nông học, địa chính thuần túy hoặc kinh tế lượng ngắn hạn, mà bỏ quên chiều sâu lịch sử - cấu trúc thể chế tương tác đa tầng giữa luật pháp nhà nước và luật tục bản địa. Các phân tích của Đặng Nghiêm Vạn (2002) hay Vương Xuân Tình (2002) đã chỉ ra sự đứt gãy giữa quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý với tập quán chiếm dụng đất cộng đồng của người Êđê, M'nông, song chưa lượng hóa được tiến trình này qua các cột mốc lập pháp 1987, 1993, 2003 và 2013 gắn với biến động địa giới hành chính.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được định hình nhất quán:

  1. RQ1: Những xung lực lịch sử, kinh tế, nhân khẩu nào thúc đẩy sự biến đổi cơ chế quản lý đất đai tại Đắk Lắk qua 3 giai đoạn (1975–1986, 1986–2003, 2004–2015)?
  2. RQ2: Sự tương tác và xung đột giữa thể chế pháp lý quan phương (statutory law) và thể chế phi quan phương/luật tục (customary law) đã diễn ra như thế nào trên thực địa?
  3. RQ3: Thực trạng phân bổ, sử dụng đất nông - lâm nghiệp đã tạo ra hệ quả kinh tế - xã hội và sinh thái ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • H1: Quá trình chuyển dịch cơ chế quản lý đất đai tại Đắk Lắk phản ánh quy luật chuyển đổi mô hình từ phi hàng hóa hóa tập trung sang thương phẩm hóa có điều tiết, nhưng tốc độ hoàn thiện thể chế chậm hơn áp lực di dân cơ học.
  • H2: Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch hành chính nhà nước với không gian sinh tồn truyền thống (buôn làng) là nguyên nhân căn bản dẫn tới tranh chấp đất đai và suy thoái tài nguyên rừng.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp: Học thuyết Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Marx-Lenin) về quan hệ sản xuất và sở hữu tư liệu sản xuất; Lý thuyết Kinh tế Thể chế Mới (New Institutional Economics) của Douglass North về chi phí giao dịch và thay đổi thể chế; cùng Lý thuyết Quản trị Tài nguyên Chung (Governing the Commons) của Elinor Ostrom. Phạm vi không gian bao quát toàn tỉnh Đắk Lắk (bao gồm cả Đắk Nông trước thời điểm chia tách theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003) và 40 năm biến thiên lịch sử, phân tích nguồn dữ liệu quy mô với biến động dân số từ 350.000 người (1975) lên 2.052.000 người (2003) và 1.838.000 người (2015).

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu cho thấy hai dòng học thuật chính trong nghiên cứu quản lý đất đai tại các vùng chuyển đổi:

  • Dòng nghiên cứu thể chế hóa quyền tài sản: Đại diện tiêu biểu là các báo cáo chính sách của World Bank (2003, 2004) như Land Policies for Growth and Poverty Reduction của Klaus Deininger và Hernando de Soto (2000). Luồng quan điểm này lập luận rằng việc xác lập quyền sở hữu tư nhân rõ ràng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ), chia nhỏ và thương phẩm hóa quyền đất đai sẽ tối ưu hóa đầu tư tư nhân và xóa đói giảm nghèo.
  • Dòng nghiên cứu nhân học sinh thái và quản trị cộng đồng: Đại diện bởi Elinor Ostrom (1990), Georges Condominas (1957) trong Nous avons mangé la forêt de la Pierre-Génie Gôo, Jacques Dournes (1950, 1978), cùng các học giả Việt Nam như Ngô Đức Thịnh (2002), Phan Đăng Nhật (2002). Luồng quan điểm này chứng minh các cộng đồng bản địa Tây Nguyên đã vận hành hiệu quả mô hình quản trị tài nguyên chung dựa trên luật tục, duy trì cân bằng sinh thái qua phương thức nương rẫy luân khoảnh.

Sự đối thoại và tranh luận học thuật diễn ra gay gắt giữa hai trường phái: Một bên ủng hộ nông lâm trường quốc doanh và kinh tế thị trường hóa đất đai nhằm công nghiệp hóa; một bên cảnh báo nguy cơ tước đoạt đất đai (land dispossession) và bất ổn xã hội. Điển hình là cảnh báo mang tính dự báo sâu sắc của Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng (2000): “Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù...”.

Luận án định vị chính xác ở giao điểm giữa lịch sử kinh tế và nhân học thể chế. So sánh với các nghiên cứu quốc tế như trường hợp chuyển đổi đất đai tại Indonesia hậu Suharto (Peluso, 2007) hay chính sách giao đất lâm nghiệp tại Philippines (Dressler, 2006), nghiên cứu tại Đắk Lắk cung cấp một điển cứu đặc sắc về quá trình một nhà nước xã hội chủ nghĩa chuyển tiếp xử lý quan hệ giữa sở hữu toàn dân, doanh nghiệp nhà nước (nông - lâm trường) và quyền đất đai lịch sử của 47 dân tộc anh em.

       [Thể chế Quan phương (Statutory Law)]
      (Nghị quyết 247, QĐ 188-CP, Luật ĐĐ 1987-2013)
       [Thể chế Phi quan phương (Customary Law)]
      (Luật tục Êđê/M'nông, Thiết chế Pô lăn / Tơm Bri)

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Thể chế kép (Dual Institutional Framework) và Lý thuyết Lựa chọn Công cộng (Public Choice Theory) trong bối cảnh xã hội chuyển đổi:

  • Thách thức quan điểm đơn tuyến về quyền tài sản: Chỉ ra rằng sự áp đặt cơ chế hành chính thuần túy lên không gian quản trị truyền thống không xóa bỏ được luật tục mà tạo ra một "vùng xám thể chế" (institutional grey zone), nơi các giao dịch phi chính thức bùng nổ.
  • Mô hình hóa chu kỳ biến đổi quản lý đất đai: Đề xuất mô hình chuyển dịch gồm 4 cấu phần tương tác: (1) Khung khổ pháp lý nhà nước, (2) Thiết chế tự quản buôn làng, (3) Thị trường hàng hóa nông sản (cà phê, cao su, hồ tiêu), và (4) Cấu trúc nhân khẩu học do di dân.

Các mệnh đề lý thuyết được kiểm chứng:

  • Mệnh đề P1: Mức độ đồng thuận xã hội trong quản lý đất đai tỷ lệ thuận với mức độ dung hợp giữa luật pháp nhà nước và luật tục bản địa.
  • Mệnh đề P2: Việc duy trì cơ chế bao cấp tài nguyên tại các nông lâm trường quốc doanh kéo dài chi phí giao dịch xã hội và làm suy giảm hiệu quả sử dụng đất.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích tích hợp ba trục lý thuyết chính:

  1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Phân tích sự chuyển biến của hình thức sở hữu tư liệu sản xuất từ tập thể/quốc doanh sang hộ gia đình và doanh nghiệp đa thành phần.
  2. Lý thuyết Quản trị Commons (Ostrom): Đánh giá vai trò của các thiết chế bản địa như "Pô lăn" (chủ đất người Êđê) hay "Tơm Bri" (chủ rừng người M'nông) trong việc bảo vệ đất cấm, rừng thiêng và nguồn nước buôn làng.
  3. Lý thuyết Kinh tế Địa lý và Di dân (Lee's Push-Pull Model): Luận giải áp lực dân số từ đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung làm biến đổi cấu trúc nông nghiệp Đắk Lắk.

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ: Áp dụng cho các khu vực chuyển đổi thuộc vùng cao nguyên có tài nguyên cây công nghiệp giá trị cao, đa sắc tộc và tồn tại song song hệ thống luật tục lâu đời.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu: Dựa trên Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử, cho phép bóc tách các tầng cấu trúc bề sâu của thể chế đằng sau các hiện tượng tranh chấp bề mặt.
  • Thiết kế hỗn hợp liên ngành (Interdisciplinary Mixed Methods): Kết hợp phương pháp Lịch sử (tái hiện khách quan tiến trình biên niên) với phương pháp Logic (khái quát hóa quy luật, phân tích cấu trúc - chức năng).
  • Thiết kế đa cấp độ (Multi-level Design): Cấp độ Vĩ mô (chủ trương của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ), Cấp độ Trung mô (nghị quyết của Tỉnh ủy, quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk), Cấp độ Vi mô (hộ gia đình, nông lâm trường và cộng đồng buôn làng).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Quy trình thu thập dữ liệu lưu trữ: Khai thác toàn diện hàng nghìn trang tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Đắk Lắk, Cục Thống kê, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.
  • Khảo sát điền dã và phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin thực địa tại các địa bàn trọng điểm: huyện Krông Bông (buôn Chàm B, xã Cư Đrăm), huyện Lắk (xã Krông Nô), huyện Ea H'leo, Cư M'gar, và TP. Buôn Ma Thuột.
  • Kỹ thuật Tam giác đạc (Triangulation): Đối chiếu chéo 4 nguồn dữ liệu: (1) Văn bản quy phạm pháp luật, (2) Báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, (3) Luật tục và hương ước thành văn/bất thành văn, (4) Dữ liệu phỏng vấn nhân chứng lịch sử và già làng.

Data và phân tích

  • Phân tích chuỗi thời gian 1975–2015: Khảo sát biến động diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng qua các kỳ kiểm kê đất đai 1990, 1995, 2000, 2005, 2010 và 2015.
  • Công cụ và phần mềm hỗ trợ: Xử lý cơ sở dữ liệu thống kê bằng MS Excel/SPSS để phân tích xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế; phân tích nội dung định tính (Qualitative Content Analysis) với các văn bản pháp quy bằng NVivo.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, sự đứt gãy giữa mô hình quản trị truyền thống và quốc hữu hóa sau năm 1975. Trước 1975, các dân tộc tại chỗ quản lý đất đai dựa trên tập quán "luân khoảnh khép kín" phân định rõ đất đương canh, đất hưu canh (nghỉ 3–10 năm) và đất cấm/rừng thiêng. Luật tục Êđê quy định rõ ràng nghĩa vụ bảo vệ đất đai: "Khi rừng bị người ta chiếm, đất bị người ta lấn, để người ta không lấy mất, chủ đất hãy kể lên ranh giới đất đai, rừng núi của mình. Ông (bà) hãy làm một lễ cúng đất bằng một trâu để người ta nhận ra ai là chủ đất". Tuy nhiên, sau 1975, với việc thực thi Nghị quyết 247-NQ/TW và Quyết định 188-CP ngày 25/9/1976 xóa bỏ quyền chiếm hữu cũ, thành lập ồ ạt các nông lâm trường quốc doanh, đất đai bị chuyển đổi thành sở hữu toàn dân nhưng thiếu cơ chế quản trị cục bộ hữu hiệu, biến tài nguyên rừng thành trạng thái gần như "vô chủ" (open access).

Thứ hai, áp lực bùng nổ dân số và biến đổi cơ cấu cư dân sâu sắc. Dân số Đắk Lắk tăng vọt từ 350.000 người (1975) lên 500.000 (1979), 900.000 (1990 - tăng 2,5 lần), 2.052.000 (2003 - tăng 5,68 lần) và đạt 1.838.000 người vào năm 2015 sau khi chia tách tỉnh. Tỷ lệ cư dân người Kinh tăng từ mức thiểu số lên chiếm 66–70% tổng dân số, đẩy tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ xuống còn 18,6% (2003) và 33% (2015). Dòng di dân có kế hoạch kết hợp di dân tự do ồ ạt đã làm đảo lộn căn bản cấu trúc sử dụng đất, biến hàng trăm nghìn hecta rừng tự nhiên thành vùng chuyên canh cà phê, tiêu và cao su.

Thứ ba, sự xung đột giữa cơ chế giao đất hộ gia đình và tập quán cộng đồng (1986–2003). Thực hiện đường lối Đổi mới và Luật Đất đai 1987, 1993, việc phân bổ đất đai theo hạn mức hộ gia đình đã trao quyền tự chủ sản xuất nhưng đồng thời thúc đẩy làn sóng thương phẩm hóa đất đai. Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu vốn, kỹ thuật canh tác thâm canh và nhận thức về kinh tế thị trường đã chuyển nhượng, cầm cố đất đai bất hợp pháp cho người nhập cư, dẫn đến hiện tượng bần cùng hóa và thiếu đất sản xuất nghiêm trọng.

Thứ tư, những bất cập mang tính cấu trúc của hệ thống Nông lâm trường quốc doanh. Các lâm trường thời kỳ 1990–1996 và các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp giai đoạn 2004–2015 quản lý diện tích đất lâm nghiệp khổng lồ nhưng hiệu quả sản xuất thấp, thiếu lực lượng bảo vệ thực tế, dẫn tới tình trạng xâm lấn, tranh chấp đất đai kéo dài giữa lâm trường và người dân bản địa, là nguyên nhân sâu xa dẫn tới bất ổn xã hội năm 2001 và 2004 trên địa bàn.

Implications đa chiều

  • Ý nghĩa lý luận: Chứng minh tính tất yếu của việc tích hợp thể chế pháp quyền hiện đại với quản trị tự quản truyền thống; làm phong phú lý luận sử học kinh tế về thời kỳ quá độ lên CNXH ở địa bàn miền núi.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tiến hành rà soát, thu hồi quỹ đất lâm nghiệp hoạt động kém hiệu quả từ các công ty lâm nghiệp để giao lại cho người dân bản địa thiếu đất.
  • Khuyến nghị chính sách:
    1. Ban hành quy chế đặc thù công nhận quyền sử dụng đất cộng đồng của buôn làng theo Luật Đất đai 2013;
    2. Hoàn thiện chính sách giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho nhóm hộ và buôn làng (như mô hình buôn Chàm B);
    3. Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai kết hợp hòa giải qua già làng, người có uy tín và Tòa án nhân dân.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn khoa học:

  • Giới hạn nguồn tư liệu định lượng trước năm 1986: Thống kê đất đai giai đoạn bao cấp chủ yếu dựa trên báo cáo ước tính của các cơ quan quản lý nông nghiệp, thiếu hệ thống bản đồ địa chính số hóa chuẩn xác.
  • Phạm vi không gian biến động: Việc chia tách tỉnh Đắk Lắk năm 2004 tạo ra sự không đồng nhất nhất định trong chuỗi số liệu thống kê tổng hợp toàn tỉnh trước và sau mốc thời gian này.
  • Độ sâu khảo sát một số tộc người thiểu số di cư: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các DTTS tại chỗ (Êđê, M'nông, Gia Rai) mà chưa đi sâu khảo sát chi tiết tập quán sử dụng đất của các nhóm DTTS phía Bắc di cư (Tày, Nùng, Mông).

Hướng nghiên cứu tiếp nối gợi mở:

  1. Ứng dụng công nghệ GIS và Viễn thám (Remote Sensing) kết hợp dữ liệu lịch sử để mô hình hóa biến động lớp phủ rừng Đắk Lắk từ 1975 đến nay.
  2. Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Comparative Historical Analysis) về chính sách đất đai cho người bản địa giữa Tây Nguyên (Việt Nam) và Tây Nguyên Campuchia (Ratanakiri/Mondulkiri).
  3. Đánh giá tác động của thị trường chứng chỉ carbon rừng (REDD+) đối với cơ chế quản trị đất lâm nghiệp cộng đồng tại Đắk Lắk trong bối cảnh thích ứng biến đổi khí hậu.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Công trình là nguồn tham khảo mẫu mực cho các nghiên cứu lịch sử kinh tế, dân tộc học và luật học so sánh; mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa sử học và kinh tế thể chế tại Việt Nam.
  • Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ lịch sử - thực tiễn quan trọng cho Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk trong việc sửa đổi Luật Đất đai và ban hành các nghị quyết chuyên đề về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Chuyển đổi kinh tế - xã hội: Thúc đẩy quá trình tái cơ cấu 25+ công ty nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, hỗ trợ bàn giao lại hàng chục nghìn hecta đất cho địa phương quản lý, góp phần ổn định an ninh chính trị và bảo đảm công bằng xã hội.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống tư liệu lịch sử lưu trữ độc bản và phương pháp luận nghiên cứu thể chế đất đai liên ngành.
  • Cơ quan Hoạch định Chính sách: Sử dụng các khuyến nghị để hoàn thiện cơ chế giao đất, giao rừng và chính sách an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc.
  • Doanh nghiệp Nông Lâm nghiệp: Nắm bắt bối cảnh lịch sử pháp lý để chuyển đổi mô hình quản trị doanh nghiệp, hợp tác bền vững với cộng đồng dân cư địa phương.
  • Cộng đồng cư dân địa phương: Thụ hưởng chính sách cấp CNQSDĐ minh bạch, bảo vệ không gian văn hóa buôn làng và quyền lợi kinh tế chính đáng.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Thể chế kép trong lịch sử quản lý kinh tế Việt Nam bằng việc chứng minh: Quản trị đất đai tại Tây Nguyên không thể thành công nếu chỉ dựa trên luật thực định quan phương mà loại trừ luật tục bản địa. Sự hòa giải thể chế giữa quy định pháp luật xã hội chủ nghĩa và tri thức sinh thái bản địa là điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững.

  2. Tính đổi mới trong phương pháp nghiên cứu so với các công trình đi trước? Khác với các nghiên cứu mô tả dân tộc học đơn thuần của sabatier (1927) hay Jacques Dournes (1978), và khác với các nghiên cứu kinh tế địa chính ngắn hạn của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), luận án kết hợp phương pháp lịch sử - logic đa tầng với kỹ thuật tam giác đạc dữ liệu lưu trữ 40 năm, điền dã dân tộc học và số liệu thống kê địa chính.

  3. Phát hiện gây bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng? Việc hợp pháp hóa quyền sở hữu cá nhân và thương phẩm hóa đất đai sau Luật Đất đai 1993, nếu không đi kèm với cơ chế bảo vệ quyền cộng đồng và hỗ trợ kỹ thuật canh tác, lại là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy làn sóng "mất đất" của người bản địa thông qua các giao dịch chuyển nhượng bất bình đẳng với người nhập cư.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không? Toàn bộ khung mã hóa dữ liệu lưu trữ, danh mục hồ sơ tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Đắk Lắk, bảng câu hỏi khảo sát và tọa độ các buôn làng điền dã đều được chuẩn hóa chi tiết trong phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập kiểm chứng và tái lập quy trình.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào? Tập trung giải quyết mối quan hệ giữa thể chế sở hữu đất đai số hóa (bản đồ địa chính 3D, dữ liệu lớn đất đai) với việc bảo tồn di sản văn hóa không gian cồng chiêng và quản trị sinh thái lưu vực sông Srêpôk.

Kết luận

  1. Luận án đã phục dựng một cách có hệ thống, chân xác và toàn diện tiến trình 40 năm (1975–2015) chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất đai tại tỉnh Đắk Lắk qua ba thời kỳ lịch sử đặc thù.
  2. Khẳng định quy luật tất yếu của việc chuyển dịch từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong quản lý tài nguyên đất đai.
  3. Luận giải sâu sắc bản chất của các mâu thuẫn đất đai tại Tây Nguyên là sự xung đột giữa thể chế pháp lý hiện đại và tập quán quản trị cộng đồng truyền thống dưới sức ép di dân cơ học.
  4. Đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế nông sản hàng hóa cùng các hạn chế, bài học kinh nghiệm sâu sắc về an ninh xã hội và suy thoái sinh thái.
  5. Đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách đồng bộ, khả thi nhằm hoàn thiện thể chế đất đai, dung hòa quyền lợi giữa Nhà nước, doanh nghiệp và đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ.
  6. Mở ra 3 nhánh nghiên cứu học thuật mới: Lịch sử thể chế tài nguyên Việt Nam, Nhân học pháp lý đất đai vùng cao nguyên, và Quản trị sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu.