Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Trên thế giới có những xu hướng nghiên cứu khác nhau về chợ truyền thống. - Nhóm nghiên cứu thứ nhất: Những nghiên cứu về thách thức của chợ truyền thống trước sự phát triển của mô hình chợ hiện đại trong quá trình đô thị hoá. Thể hiện qua các nghiên cứu: Findlay, Paddison và Dawson 1990, Galbraith và Holton 1965, Goldman 1974, 1981, Kaynak và Cavusgil 1982, Samiee 1990, Năm 1993, Savitt 1988, 1990, Slater và Riley 1969, Yavas, Kaynak, và Borak 1981).
Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại hoá đã kết luận rằng việc bán lẻ truyền thống gặp phải những bất lợi kinh tế lớn như: quy mô, chất lượng sản phẩm thấp, hạn chế chủng loại, thường xuyên mua hàng, giá không ổn định, môi trường mua sắm), và thiếu khả năng (như tài chính, quản lý, kinh doanh) cần thiết để thay đổi và phát triển. Những điểm yếu này giải thích sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách về sự cần thiết phải hiện đại hoá các hệ thống bán lẻ thực phẩm truyền thống. Các nghiên cứu chỉ ra bốn yếu tố đã được xác định là nguyên nhân dẫn đến bất lợi của siêu thị so với chợ truyền thống: (1) khả năng và sở thích của người tiêu dùng; (2) Cung cấp và phân phối; (3) chính sách của chính phủ, và (4) vị trí địa lý [111]. Các nghiên cứu chứng minh ba vấn đề chính: Thứ nhất: Phân tích những lợi thế và bất lợi của hai loại hình chợ cụ thể qua các phương pháp điều tra khảo sát cụ thể nghiên cứu của Galbraith và Holton 1965, Goldman 1981, Samiee 1993, Savitt 1988, Slater và Riley 1969; khảo sát 382 hộ gia đình ở 9 quận của Hồng Kông trong nghiên cứu của của Hồ và Lau (1988) ở Malaysia đều tập trung điều tra khảo sát 3 đối tượng là: Người tiêu dùng - các tiểu thương bán hàng ở chợ và xung quanh chợ và chính phủ (các nhà quản lý chợ, các nhà hoạch định) [107, tr.
Thứ hai: Phân tích vai trò của các mô hình chợ truyền thống (chợ TT) và chợ hiện đại đối với sự phát triển hệ thống phân phối. Thứ ba: sự tác động của chính phủ đối với sự tồn tại và phát triển của hai loại hình chợ TT và chợ HĐ. 8 Các nghiên cứu đã dẫn đến cùng quan điểm kết quả là: từ 75 đến 97% số người tiêu dùng được hỏi cho rằng mặc dù chợ TT ẩm thấp và không thoáng, sạch như siêu thị nhưng họ vẫn lựa chọn đi mua sắm thực phẩm phục vụ hàng ngày là ở chợ truyền thống. vì vậy các nghiên cứu có những quan điểm kết luận: “Chợ truyền thống vẫn có những lợi thế cạnh tranh lâu dài ở các nước Đông Á” [107, tr.
Trong một nghiên cứu của Goldman, Ramaswami, Krider, 2002; Ho, 2005 đã phân tích một nghiên cứu trong năm 2002 với tiêu đề “Lợi thế cạnh tranh lâu dài của chợ truyền thống”, nghiên cứu nổi bật nhất liên quan đến Goldman (1974) và Goldman et al. Các nghiên cứu cùng đưa ra giải pháp để chợ TT giữ vững lợi thế cạnh tranh của mình thì cần thiết phải: 1. Hiện đại hoá chợ truyền thống. Hiện đại hoá nhưng phải phù hợp và theo tiêu chí về giá trị văn hoá của từng vùng, từng địa phương.
Các nghiên cứu cùng có những cảnh báo nếu không chính phủ lựa chọn sự phát triển theo hướng hiện đại hoá mà không theo tiêu chí về giá trị văn hoá thì sẽ có sự đánh đổi rất lớn về mặt xã hội [107; 110; 82; 102]. Do vậy, chợ truyền thống ở Đông Á vẫn sở hữu một lợi thế cạnh tranh lâu dài trong hệ thống bán lẻ. Các nghiên cứu trên là sự đóng góp quý báu cho đề tài luận án của tác giả về phân tích sự tồn tại và phát triển của chợ truyền thống không chỉ tiếp cận theo cùng phương pháp về chức năng kinh tế mà cần tiếp cận theo các chức năng vai trò, cách tiếp cận khía cạnh khác của chợ… Bên cạnh đó, Luận án cũng sẽ tiếp tục cập nhật các tài liệu tham khảo khác để phục vụ cho nghiên cứu về các nội dung thuộc HTBL truyền thống, cũng như các chính sách quản lý tại một địa phương - khu đô thị thị cụ thể đối với các chợ truyền thống. - Nhóm nghiên cứu thứ hai: Về chợ truyền thống là một phần quan trọng của hệ thống phân phối bán lẻ, là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Thể hiện qua các nghiên cứu của Brooks, Richard (1995) - [64]. Zhang, Qian Forrest và Pan Zi (2013) - [114], Nghiên cứu Chen Wen Ling-Trần Văn Linh và Zhou Jing-Chu Kinh (2012) [40]; Phan Dũng (2011) [17]; [170]; 9 [171]; [180]; [151]; Các tác giả cho rằng các doanh nghiệp cần phân khúc thị trường, phân đoạn theo mức giá cả và chất lượng để nâng cao doanh thu và thị phần của doanh nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng chợ truyền thống vẫn đóng vai trò thứ yếu để các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm [107] và chợ truyền thống có thể vẫn cùng tồn tại với chợ hiện đại trong những phân khúc thị trường khác nhau [84]. Nội dung nghiên cứu này là sự đóng góp lớn đối với đề tài luận án của nghiên cứu sinh về đánh giá các nhân tố với vai trò trong hệ thống phân phối, hệ thống bán lẻ trong từng khu vực đô thị.
Nội dung nghiên cứu này được sử dụng tham khảo đối với đề tài Luận án của nghiên cứu sinh về những vấn đề liên quan tới Chính quyền địa phương, tới thiết kế, kiểm soát và quản lý chợ sao cho nó hoạt động có hiệu quả, cũng như tham khảo kinh nghiệm từ một số mô hình kiểu mẫu về chợ đô thị của Thái Lan, HongKong, Singapore và Malaysia. - Nhóm nghiên cứu thứ ba: về sự liên kết giữa chợ truyền thống với chợ hiện đại trong hệ thống phân phối và tiêu thụ hàng hoá: Một số nghiên cứu của Huang, Zhi, Huang, Jia, and Rozelle, 2009; Neven, Odera, Reardon, and Wang, 2009; Reardon, Barrett, Berdegue, and Swinnen, 2009. Kelly et al.2010; Reardon và cộng sự 2012; Goldman and Vanhonacker.2000; Các nghiên cứu chỉ ra hai mặt của vấn đề chợ truyền thống- chợ hiện đại: Thứ nhất, cho rằng chợ truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng là nguồn sinh kế người nông dân và các tiểu thương kinh doanh nhỏ lẻ, những người lao động giản đơn (những người lao động dễ bị tổn thương và nghèo nhất trong xã hội) với trình độ và khả năng còn hạn chế trong quá trình đô thị hóa, những lao động di cư trong các đô thhoá141]; Thứ hai, điều đó đã kích thích cải tiến trong việc áp dụng công nghệ, quản lý tài nguyên và năng suất trong sản xuất kinh doanh [143]. Ở góc độ nghiên cứu này, một số nghiên cứu đã cho rằng mối liên hệ giữa hai loại hình chợ truyền thống và chợ hiện đại thực chất có sự phân khúc rõ ràng, chợ truyền thống vẫn chiếm ưu thế hơn về thị phần trong phân khúc thị trường, có lợi thế giá trị hơn so với chợ hiện đại.
Nghiên cứu khẳng định chợ truyền thống có lợi thế về chi phí, sự tươi mới, gia vị trong văn hoá chế biến thức ăn của người Đông Á, đôi khi hàng hoá không qua khâu trung gian nào, hoặc tiểu 10 thương tự sơ chế sản phẩm… trong một môi trường tự phục vụ, điều đó đã hấp dẫn hơn người tiêu dùng [105]. Trong khi đó, các siêu thị cũng phải chịu lao động cao hơn, cho thuê và các chi phí khác [107], đặc biệt là chi phí bảo quản và sơ chế các mặt hàng tươi sống nếu có. Do đó, các siêu thị tăng chi phí trên giá cho sản phẩm tươi sống và thực phẩm sơ chế. Tuy nhiên, theo Goldman et al., thế mạnh của các siêu thị - thuận tiện, đa dạng, sạch sẽ.
Nhưng điều đó được coi là tương đối ít quan trọng với những người mua hàng châu Á [108]. Để hỗ trợ cho lập luận của mình, các tác giả sau này đã chứng minh rằng mặc dù hoạt động trong một thời gian dài và một tiêu chuẩn tương đối cao của cuộc sống, thị phần của siêu thị vẫn thấp hơn 50% tại Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan [107, tr. Nghiên cứu còn chỉ ra "chợ" thống trị không phải là một hiện tượng tạm thời mà là dựa trên lợi thế kinh tế thực sự ở châu Á, các tác giả khuyến nghị quá trình chuyển đổi chợ truyền thống ở châu Á nói chung và Đông Á nói riêng không nên làm theo các mô hình phương Tây. - Nhóm nghiên cứu thứ tư: Nghiên cứu về vai trò của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế xã hội người dân khu vực ĐNA nói riêng và Châu Á nói chung.
Được thể hiện qua các nghiên cứu của: Bart Minten and Thomas Reardon.2015; Kelly và cộng sự 2010; Valentine.2005;Brown và Miller. Các nghiên cứu phân tích ở các quốc gia phát triển như Nhật và Singarpore gồm các nghiên cứu:; Christopher Mele.2015, Watson, năm 2009;, Gonzalez và Watson và Studdert 2006; Waley, 2013; Shepherd. Dựa trên dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn, bảng câu hỏi và quan sát của người hai đối tượng người tiêu dùng và các tiểu thương, các nghiên cứu đã chứng minh từ bằng chứng khảo sát dựa trên mười quốc gia đã và đang phát triển cho thấy một mô hình ổn định và có thể dự đoán trong siêu thị giá cả và chất lượng dịch vụ so với các chợ truyền thống. Nghiên cứu tiến hành đánh giá về giá cả, chất lượng sản phẩm và giá trị chất lượng sản phẩm ở 10 quốc gia Đông Nam Á và một số quốc gia khác.
Dựa vào số liệu thống kê, kết hợp khảo sát phân tích định tính điều tra các lý do người tiêu dùng lựa chọn đi chợ hàng ngày. Đặc biệt ở Việt Nam [218], nghiên cứu 11 Việt Nam (Hà Nội),qua phân tích khảo sát nghiên cứu nhận định thực trạng phát triển thương mại tại Việt Nam hiện nay cũng giống như ở Hồng Kông vào những năm 1970 [Error! Reference source not found. Việt Nam bị ảnh hưởng bởi văn hóa ẩm thực và thói quen tiêu dùng của phần lớn người dân (thói quen đi chợ hàng ngày, thuận tiện về thời gian, quãng đường, giao thông…). Nghiên cứu nhận định, ở Việt Nam, mặc dù hệ thống siêu thị phát triển mạnh nhưng vẫn chỉ chiếm từ 5-10 % trong hệ thống phân phối.
Chợ truyền thống vẫn chiếm lợi thế trong hệ thống bán lẻ và hệ thống phân phối.