phần mở đầu và kết luận, gồm bốn chương. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách ứng phó biến đổi khí hậu Chương 3. Thực trạng thực hiện chính sách ứng phó biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4.
Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ứng phó biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về chính sách ứng phó biến đổi khí hậu Chủ đề chính sách ứng phó biến đổi khí hậu được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Căn cứ vào bản chất của hoạt động ƯPBĐKH, chính sách sách ƯPBĐKH được chia thành chính sách giảm thiểu và chính sách thích ứng. Các học giả trên thế giới thường tiếp cận chính sách ƯPBĐKH theo hướng giảm thiểu khí phát thải được ước tính bằng các mô hình ước lượng của kinh tế học.
Chẳng hạn như mô hình tổng hợp IAMs (integrated assessment models) và chính sách ƯPBĐKH chủ yếu dựa vào chi phí xã hội có được từ dự báo của mô hình IAMs [131]. Tuy nhiên theo Pindyck [131] những chính sách dựa trên mô hình IAMs đều thiếu căn cứ khoa học vì công thức sử dụng trong mô hình này chưa được kiểm định, và các nhà làm chính sách đã “dựa trên những kết quả không hề tồn tại”. Felzer và ctg [105] sử dụng mô hình MIT Hệ thống Tích hợp Toàn cầu (MIT Integrated Global Systems Model) để xem xét tác động của tầng Ozone đến hoạt động kinh tế và từ đó đưa ra chính sách ƯPBĐKH dựa trên những dự báo, ước lượng này. Hoặc để giảm sự không chắc chắn của các chính sách ƯPBĐKH, Webster và ctg [155] sử dụng mô hình Hệ thống trái đất (Earth System Model) để phục vụ cho việc dự báo lượng khí thải.
Còn Babiker [81] thì tiếp cận chính sách ƯPBĐKH từ góc độ thị trường. Tác giả (Babiker) xem xét tác động của chính sách ƯPBĐKH đến cấu trúc của thị trường và nền kinh tế của các nước phát triển khi họ tham gia hiệp định Kyoto năm 1997. Một hướng nghiên cứu khác về chính sách ƯPBĐKH cũng được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm là cộng đồng và hành động tập thể của cộng đồng. Adger [75] cho rằng hành động tập thể và cộng đồng cần phải được quan tâm trong chính sách ƯPBĐKH, bởi vì tính hiệu quả của chính sách ƯPBĐKH phụ thuộc vào sự chấp thuận xã hội (social acceptability) và sự tương tác giữa các cá nhân, tổ chức và cộng đồng trong xã hội.
Elizabeth [103] cho rằng chính sách 11 ƯPBĐKH cần phải quan tâm đến khung lý thuyết ABC. A (Attitudes): thái độ; B (Behaviour): hành vi, và C (Choice): sự lựa chọn. Đây là khung lý thuyết liên quan đến các lý thuyết về xã hội và sự thay đổi của xã hội. Theo khung lý thuyết này chính sách ƯPBĐKH cần phải lấy xuất phát điểm là cá nhân vì nó liên quan đến sự lựa chọn của cá nhân; chính hành vi lựa chọn của cá nhân mới có thể tạo nên sự khác biệt.
Dietz và ctg [95] khi nghiên cứu chính sách ƯPBĐKH ở Mỹ đã đưa ra khái niệm sự ủng hộ chính sách (policy support). Để nâng cao sự ủng hộ chính sách cần quan tâm đến các yếu tố: giá trị của cá nhân; trách nhiệm về hành động của cá nhân; khuynh hướng ưu tiên trong hành động của cá nhân; suy nghĩ của cá nhân về tương lai; chủ nghĩa sinh thái; niềm tin; thông tin và hiểu biết về khí hậu; tài chính của cá nhân; và cảnh giác về BĐKH [95]. Zahran và ctg [156] lại cho rằng sự tham gia của địa phương vào chính sách ƯPBĐKH phụ thuộc vào hiện trạng tài chính-xã hội, và sự nhận thức về nguy cơ bị ảnh hưởng bởi BĐKH. Ở Việt Nam và Tp.
HCM, chính sách ƯPBĐKH được nghiên cứu với một số hướng tiếp cận khác nhau. Cách tiếp cận thứ nhất là tiếp cận chính sách ƯPBĐKH từ góc độ cấu trúc đô thị. Những nghiên cứu này tập trung vào khả năng giảm thiểu và thích ứng ở các đô thị lớn thông qua điều chỉnh quy hoạch và cấu trúc đô thị. Trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này tại Tp.
HCM có đề tài nghiên cứu “Integrative Adaptation Planning Framework from Climate Change in the Urban Environment of Ho Chi Minh City” (tạm dịch: Khung khổ quy hoạch thích ứng tích hợp cho Biến đổi khí hậu ở khu vực đô thị của Tp. Hồ Chí Minh) được tài trợ bởi Bộ Giáo dục và Nghiên cứu của Đức, do Storch [147] làm chủ nhiệm. Dự án kéo dài từ năm 2008-2013 và tập trung nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu, thực trạng phát triển đô thị, và cách thức giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Storch [147] tiếp cận khả năng ƯPBĐKH từ góc độ quy hoạch đô thị.
Câu hỏi nghiên cứu mà tác giả đặt ra là “Liệu hệ thống quy hoạch hiện tại ở Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có khả năng ứng phó với những vấn đề BĐKH và liệu rằng hệ thống đó đủ hiệu quả để thực hiện những biện pháp cần thiết?”. Lời giải đáp cho hai câu hỏi trên theo Storch [147] nằm ở cách thức phát triển đô thị của hiện tại và vấn đề sử dụng đất mà không quan 12 tâm đến BĐKH ở thời điểm hiện tại. Hai vấn đề này cần phải được xem xét lại trong bối cảnh ƯPBĐKH. Tiếp tục hướng tiếp cận này, năm 2009, Storch và ctg [148] có nghiên cứu “Adaptation planning framework to climate change for the urban area of Ho Chi Minh city, Vietnam” (Tạm dịch: Ưng dụng khung quy hoạch vào thích ứng biến đổi khí hậu ở khu vực đô thị của Tp.
Hồ Chí Minh). Nghiên cứu tập trung xây dựng khung quy hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu tại Tp. HCM trên một số lĩnh vực như kiểm soát lũ, năng lượng đô thị và giao thông đô thị. Storch và ctg [148] đi sâu hơn vào việc đưa ra những khuyến nghị chính sách ƯPBĐKH liên quan đến quy hoạch đô thị tại Thành phố.
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, Storch và ctg [148] cho thấy rằng các kịch bản phát triển đô thị trong tương lai của Tp có mối quan hệ chặt chẽ với việc thích ứng với BĐKH của Tp. Những điều kiện về kinh tế, xã hội, kỹ thuật của Tp trong tương lai sẽ khác so với hiện nay [148]. Chính những điều kiện khác biệt này quyết định khả năng ƯPBĐKH của cấu trúc của Thành phố [148]. Nói cách khác là hiện trạng đô thị trong tương lai tác động đến khả năng thích ứng với BĐKH của cấu trúc lý sinh của đô thị (biophysical urban structure).
Sự khác biệt giữa cấu trúc đô thị trong tương lai và hiện tại giúp xác định mức độ tổn thương và rủi ro của Tp trước BĐKH. Theo đó, Storch và ctg [148] đặt ra sự cần thiết phải sử dụng cách tiếp cận tổng hợp để đánh giá sự tổn thương (vulnerability) của Thành phố. Cách tiếp cận đó gọi là cách tiếp cận loại cấu trúc đô thị (urban structure type approach). Cách tiếp cận loại cấu trúc đô thị là cách thức nghiên cứu đô thị bằng cách chia các kiến trúc đô thị thành các nhóm khác nhau dựa vào đặc tính lý sinh của từng kiến trúc.
Mỗi loại kiến trúc trong đô thị có khả năng “đương đầu” khác nhau với BĐKH. Theo đó, trong thời gian tới, để thích ứng với BĐKH, Tp. HCM cần hướng tới hai phương án chính sách. Thứ nhất là sử dụng các biện pháp mang tính kết hợp giữa công nghệ và kiến trúc để ngăn ngừa tác động của BĐKH như xây dựng các kiến trúc nhà ở hoặc toà cao tầng theo công nghệ thích ứng với BĐKH, hoặc tăng khả năng chứa nước của những vùng đô thị mới [148].
Thứ hai là ban hành những quy định, pháp luật, chính sách về các tiêu chuẩn, chuẩn mực xây dựng có lợi cho 13 việc ƯPBĐKH [148]. Hai phương án chính sách này được gọi chung là hệ thống quy hoạch thích ứng BĐKH. Cách tiếp cận này của Storch và ctg [148] hết sức thiết thực và có ý nghĩa trong công tác ƯPBĐKH ở Tp. HCM giai đoạn hiện nay.
Cách tiếp cận này cũng có ý nghĩa cho Luận án này. Cách tiếp cận thứ hai về chính sách ƯP BĐKH trên các lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực đất đai, lĩnh vực nông nghiệp, rừng, và quản lý nguồn nước. Về chính sách đối với lĩnh vực quản lý rừng có Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Sỹ Doanh [11] phân tích tác động của BĐKH đến nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam, và đây được xem là một nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về nguy cơ cháy rừng dưới sự tác động của BĐKH. Nguyễn Thị Mỹ Vân [69] trong luận án tiến sĩ của mình tập trung phân tích chính sách quản lý tài nguyên rừng, gắn với sinh kế của người dân thuộc dân tộc thiểu số; với đề tài “Chính sách quản lý tài nguyên rừng và sinh kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Về chính sách quản lý tài nguyên nước có tác giả Lê Đức Thường [57] với đề tài luận án tiến sĩ là: “Nghiên cứu quản lý bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Ba trong bối cảnh ứng phó biến đổi khí hậu” nhằm đưa ra những giải pháp phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Ba. Tác giả Nguyễn Xuân Dũng [12] nghiên cứu để đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh BĐKH; tác giả Lại Tiến Vinh [70] với Luận án, “Nghiên cứu biến động tài nguyên nước vùng Đồng bằng Sông Hồng trong bối cảnh BĐKH”.