Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam", chuyên ngành Khoa học Quản lý (Mã số: 62.01), do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Toản thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hải Hữu, bảo vệ tại Hà Nội năm 2010.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Việt Nam là quốc gia trải qua thời gian dài chiến tranh, chịu nhiều tác động của thiên tai khắc nghiệt, dẫn đến một bộ phận dân cư đáng kể rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương, cần sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội. Theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến năm 2008, cả nước có khoảng 13,6 triệu người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH), chiếm 16,22% tổng dân số. Trợ giúp xã hội (TGXH) đã từng bước phát triển từ các biện pháp cứu trợ khẩn cấp, cứu đói ban đầu sang hệ thống chính sách bao gồm trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên (tại cộng đồng và tại các cơ sở bảo trợ). Tuy nhiên, chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập: diện bao phủ còn hẹp, hiệu lực và hiệu quả thực thi chưa cao, mức trợ cấp chưa bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu tính bền vững. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc tổng kết thực tiễn, phân tích một nhóm đối tượng cụ thể hoặc kiến nghị điều chỉnh cục bộ một vài chính sách bộ phận. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học quản lý đối với chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng trong nền kinh tế thị trường là yêu cầu cấp thiết.

  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng; khẳng định tính tất yếu, khách quan của chính sách trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam; đánh giá thực trạng đối tượng BTXH, nhu cầu trợ giúp thường xuyên và thực trạng chính sách; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp và công cụ hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu:
      1. Hệ thống hóa và luận giải cơ sở lý luận về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam.
      2. Đánh giá thực trạng đối tượng BTXH, nhu cầu trợ giúp thường xuyên cộng đồng và thực trạng thực thi chính sách tại Việt Nam giai đoạn vừa qua nhằm chỉ ra các hạn chế, nguyên nhân.
      3. Đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Các báo cáo, tài liệu, số liệu nghiên cứu trong và ngoài nước; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện chương trình, dự án liên quan đến TGXH; nhóm đối tượng BTXH sống tại cộng đồng; đội ngũ cán bộ, cơ quan, tổ chức quản lý và thực thi chính sách.
    • Phạm vi nội dung: Giới hạn trong 03 chính sách bộ phận cơ bản của TGXH thường xuyên cộng đồng gồm: (i) Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng; (ii) Chính sách trợ giúp y tế; (iii) Chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo cho đối tượng BTXH.
    • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc.
    • Phạm vi thời gian: Đánh giá tiến trình chính sách từ năm 1986 đến năm 2010, tập trung khai thác số liệu thực chứng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009–2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến TGXH và an sinh xã hội theo các nhóm tiếp cận chính:

  • Các hướng nghiên cứu trước đây:

    • Nhóm tiếp cận chức năng TGXH như hệ thống BTXH: Công trình của Lê Bạch Dương và các tác giả (2004, 2005) xác định hệ thống BTXH gồm 3 chức năng (nâng cao năng lực, phòng ngừa và bảo vệ). Hướng tiếp cận này phân chia các chính sách cho nông dân nghèo, lao động di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS; tuy nhiên điểm hạn chế là khó phân định ranh giới rành mạch giữa các hợp phần của hệ thống BTXH và vai trò cụ thể của Nhà nước, thị trường và cộng đồng.
    • Nhóm tiếp cận theo quan điểm hoạch định chính sách: Tiêu biểu là các nghiên cứu của Nguyễn Hải Hữu (2007), Đàm Hữu Đắc (2007), Nguyễn Trọng An (2007), Mai Ngọc Cường (2009). Nhóm này định danh rõ các nhóm đối tượng thụ hưởng cụ thể (trẻ em mồ côi, người già cô đơn, người tàn tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS...) và các chính sách trợ cấp tiền mặt, khám chữa bệnh, giáo dục để kiến nghị sửa đổi quy định chính sách.
    • Nhóm tiếp cận chức năng của chủ thể cung cấp dịch vụ: Nguyễn Văn Định (2008), Nguyễn Thị Vân (2007) phân biệt các khái niệm "cứu tế xã hội", "cứu trợ xã hội" và "trợ giúp xã hội". Hướng tiếp cận này xem TGXH chủ yếu là sự giúp đỡ của cộng đồng mà chưa làm nổi bật trách nhiệm pháp lý cốt lõi của Nhà nước trong việc bảo đảm nguồn lực và tổ chức cung cấp dịch vụ.
    • Nhóm tiếp cận hệ thống và kinh tế chính trị: Các công trình của Hoàng Chí Bảo (1993), Trần Đình Hoan (1996), Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (1996), Phạm Xuân Nam (2001), Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2006), Nguyễn Hữu Dũng (2008). Các tác giả đặt TGXH trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội quốc gia gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tham khảo kinh nghiệm quốc tế (Hoa Kỳ, Thụy Điển, Đức) để đề xuất xây dựng chuẩn trợ cấp chung dựa trên mức sống tối thiểu.
    • Nhóm khảo sát thực trạng đối tượng và thực tiễn chính sách: Các báo cáo, khảo sát thực chứng của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2005, 2007, 2008, 2009), Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội (2006), Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam (2007), Viện Xã hội học – ISDS (2008), tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như VNAH, USAID (2005), UNFPA (2006), UNICEF (2006). Các tài liệu này cung cấp bức tranh số liệu về tình hình thực hiện pháp luật đối với người tàn tật, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người nhiễm HIV/AIDS.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chưa xây dựng được cơ sở lý luận hoàn chỉnh về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng dưới góc độ khoa học quản lý; chưa thiết lập hệ thống nguyên tắc, chỉ tiêu định lượng đánh giá toàn diện hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và tính bền vững của chính sách; thiếu các mô hình dự báo và phương pháp xác định mức chuẩn trợ cấp gắn với hệ số nhu cầu lương thực, thực phẩm cho từng nhóm đối tượng cụ thể tại Việt Nam. Luận án được định vị nhằm giải quyết trọn vẹn khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm TGXH và chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng: Luận án định nghĩa TGXH là hệ thống các biện pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng BTXH nhằm giúp họ khắc phục khó khăn trước mắt và lâu dài thông qua việc cung cấp tài chính, vật phẩm và các điều kiện vật chất. Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng là một hợp phần của chính sách TGXH, do Nhà nước giữ vai trò chủ thể chính, cung cấp tài chính hàng tháng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ xã hội tại nơi cư trú của đối tượng.
  • Khung phân tích và các quan điểm tiếp cận:
    • Tháp nhu cầu của Maslow: Vận dụng để giải thích các bậc nhu cầu từ cơ bản (ăn, ở, mặc, đi lại, nước sạch, y tế) đến nhu cầu an toàn, xã hội, danh dự và tự hiện thực hóa của các nhóm yếu thế.
    • Năm quan điểm tiếp cận chính sách: (1) Tiếp cận theo quyền con người (lấy con người làm trung tâm, Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm các nhu cầu cơ bản); (2) Tiếp cận theo quản lý rủi ro (phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro theo các cấp độ duy trì, ổn định, phát triển); (3) Tiếp cận phổ cập (bao phủ rộng, không ràng buộc tiêu chí khắt khe nhưng mức trợ cấp thấp); (4) Tiếp cận mục tiêu (tập trung vào nhóm nghèo, khó khăn nhất, độ bao phủ hẹp nhưng mức trợ giúp cao hơn); (5) Tiếp cận tổng thể (kết hợp linh hoạt giữa phổ cập và mục tiêu tùy theo không gian, thời gian và nhóm đối tượng).
  • Hệ thống nguyên tắc và công cụ chính sách:
    • 07 nguyên tắc chính sách: Tuân thủ hệ thống chính trị; Bảo đảm tính khoa học; Bảo đảm tính hiệu lực; Bảo đảm tính hiệu quả; Bảo đảm tính công bằng; Bảo đảm tính công khai, minh bạch; Bảo đảm sự ổn định bền vững và chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội.
    • 04 nhóm công cụ chính sách: (1) Công cụ hành chính và tổ chức (luật pháp, kế hoạch, tổ chức bộ máy và cán bộ); (2) Công cụ tài chính (ngân sách nhà nước 4 cấp, quỹ xã hội hóa); (3) Công cụ giáo dục và tâm lý (truyền thông, tư vấn, nâng cao nhận thức); (4) Công cụ kỹ thuật nghiệp vụ (xác định đối tượng, thẩm định, ra quyết định, chi trả, kiểm tra, theo dõi và báo cáo).
  • Hệ thống chỉ tiêu lượng hóa đánh giá chính sách:
    • Đánh giá hiệu lực: Tỷ lệ bao phủ so với dân số ($R_{DS} = \frac{\sum m_i}{DS}$), Tỷ lệ bao phủ so với đối tượng BTXH ($R_{BTXH} = \frac{\sum m_i}{\sum M_i}$), Tỷ lệ đối tượng chưa được hưởng chính sách ($R_{rr} = 1 - \frac{\sum m_{hi}}{\sum m_i}$).
    • Đánh giá hiệu quả: Mức trợ cấp bình quân ($\bar{t} = \frac{\sum t_i m_i}{\sum m_i}$), Tỷ lệ đối tượng thay đổi cuộc sống ($r_{tđ} = \frac{m_{htđ}}{m_{hi}}$).
    • Đánh giá tính công bằng và bảo đảm mức sống: Khoảng cách bình quân mức trợ giúp ($r = \sqrt{\frac{1}{n}\sum (t_i - \bar{t})^2}$), Mức độ thiếu hụt so với mức sống tối thiểu ($r_{th} = 1 - \frac{\bar{t}}{MSTT}$).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh: Thu thập và xử lý chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2000–2009 về kinh phí, số lượng đối tượng, tỷ lệ bao phủ, so sánh kinh nghiệm của 5 quốc gia (Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Phi, Malaysia).
    • Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra trực tiếp bảng hỏi đối với nhóm trẻ em mồ côi (TEMC) và đội ngũ cán bộ quản lý, thực thi chính sách TGXH các cấp.
    • Phương pháp chuyên gia và tọa đàm khoa học: Xin ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý về phương án xác định mức chuẩn trợ cấp và công thức tính hệ số trợ cấp.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát của tác giả về nhu cầu của đối tượng và ý kiến đánh giá của cán bộ thực thi chính sách.
    • Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo tổng kết, dữ liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (khảo sát người tàn tật năm 2008, khảo sát thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2009, số liệu 5 năm xóa đói giảm nghèo và bảo trợ xã hội); số liệu từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo giám sát của Quốc hội và các tổ chức quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý thuyết toàn diện về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng. Tác giả khẳng định TGXH không đơn thuần là hoạt động từ thiện, cứu tế mang tính nhân đạo của cộng đồng mà là nghĩa vụ pháp lý, công cụ quản lý xã hội quan trọng của Nhà nước nhằm thực hiện an sinh xã hội, tái phân phối thu nhập và giảm thiểu rủi ro xã hội.

Mối quan hệ bản chất:
[Kinh tế thị trường / Rủi ro xã hội] 
  --> [Gia tăng đối tượng yếu thế: NCT, NTT, TEMC, HIV] 
  --> [Nhà nước can thiệp bằng Chính sách TGXH] 
  --> [Bảo đảm mức sống tối thiểu, Ổn định & Phát triển bền vững]

Tác giả phân tích 9 nhóm đối tượng hưởng chính sách theo quy định pháp luật hiện hành và khái quát 4 tiêu chí cốt lõi: không có khả năng lao động; không tự phục vụ được; hoàn cảnh nghèo/thiếu nguồn thu nhập; không còn người thân thích phụng dưỡng. Chương này thiết lập hệ thống 4 nhóm công cụ quản lý và 6 chỉ tiêu lượng hóa phục vụ việc đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, công bằng của chính sách.

Nhóm nước nghiên cứu Đặc trưng mô hình chính sách TGXH Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Pháp Hệ thống trợ giúp dựa trên mức thu nhập tối thiểu hòa nhập (RMI), kết hợp trợ cấp tiền mặt với các cam kết xã hội và tái hòa nhập. Gắn trợ cấp xã hội với các biện pháp nâng cao năng lực, tạo việc làm và trách nhiệm tham gia của đối tượng.
Trung Quốc Thiết lập "Mức chuẩn sinh hoạt tối thiểu" (Dibao) phân chia rành mạch theo khu vực thành thị và nông thôn. Phân loại chuẩn trợ cấp linh hoạt theo vùng kinh tế và khả năng cân đối ngân sách của từng cấp chính quyền.
Nhật Bản Luật Bảo trợ đời sống quy định 8 chế độ trợ giúp cụ thể; quy định tỷ lệ bắt buộc tiếp nhận người tàn tật vào làm việc tại các doanh nghiệp. Hoàn thiện khung pháp luật thống nhất (Luật TGXH), đa dạng hóa chế độ trợ giúp và đẩy mạnh chính sách hòa nhập việc làm.
Nam Phi Thực hiện mô hình trợ cấp phổ cập cho người cao tuổi từ 65 tuổi không có thu nhập và trẻ em gia đình nghèo; độ bao phủ đạt 3–3,5% dân số. Đơn giản hóa thủ tục hành chính khi mở rộng diện bao phủ, nhưng cần kiểm soát chặt chẽ ngân sách để tránh dàn trải.
Malaysia Mô hình kết hợp chặt chẽ giữa trợ cấp của Nhà nước với các quỹ đóng góp tự nguyện và mạng lưới chăm sóc tại cộng đồng. Đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ trong chăm sóc đối tượng.

Chương 2: Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng

Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về quy mô, cơ cấu đối tượng BTXH và thực trạng thực thi 3 chính sách bộ phận tại Việt Nam giai đoạn 2000–2009:

  • Thực trạng quy mô và nhu cầu của đối tượng: Năm 2008, cả nước có 13,6 triệu người thuộc diện BTXH (16,22% dân số). Trong đó, các nhóm chính sống tại cộng đồng có nhu cầu trợ giúp thường xuyên gồm:

    • Người cao tuổi (NCT): Tỷ lệ NCT mắc bệnh mãn tính cao, nguồn sống phụ thuộc phần lớn vào con cháu hoặc tự lao động; nhu cầu lớn nhất là trợ cấp tài chính và thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
    • Người tàn tật/khuyết tật (NTT): Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật thấp; thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung; nhu cầu cần hỗ trợ sinh kế, phục hồi chức năng và cải thiện điều kiện sinh hoạt.
    • Trẻ em mồ côi (TEMC), trẻ bị bỏ rơi, trẻ nhiễm HIV/AIDS: Khó khăn lớn về chi phí học tập, dinh dưỡng, tâm lý; phần lớn có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình thay thế hoặc cộng đồng thay vì đưa vào trại tập trung.
  • Thực trạng thực hiện các chính sách bộ phận:

    • Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng: Số người hưởng trợ cấp tăng dần qua các năm, tuy nhiên mức chuẩn trợ cấp còn quá thấp so với chuẩn nghèo và mức chi tiêu tối thiểu.
    • Chính sách trợ giúp y tế: Việc cấp thẻ BHYT miễn phí cho đối tượng BTXH đã đạt kết quả tích cực, nhưng chất lượng tiếp cận dịch vụ y tế tuyến cơ sở và chi phí đồng chi trả ngoài danh mục vẫn là rào cản.
    • Chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo: Thực hiện miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, song mức hỗ trợ chưa bù đắp đủ các khoản đóng góp thực tế tại trường học.
  • Đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân:

    • Kết quả: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng bước được bổ sung (Nghị định 07/2000/NĐ-CP, Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định 13/2010/NĐ-CP); ngân sách chi cho sự nghiệp bảo đảm xã hội tăng đều hàng năm; đời sống của một bộ phận đối tượng yếu thế được cải thiện.
    • Hạn chế (qua số liệu định lượng):
      • Tỷ lệ bao phủ của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng mới chỉ đạt 1,45% dân số (trong khi nhu cầu thực tế là 16,22% dân số).
      • Tồn tại 12,2% đối tượng thuộc diện đủ điều kiện theo quy định nhưng thực tế chưa được tiếp cận hoặc chưa được hưởng chính sách.
      • Mức độ hài lòng: Có tới 32% đối tượng và 55% cán bộ thực thi chưa thật sự hài lòng với mức trợ cấp và quy trình thủ tục hiện hành.
    • Nguyên nhân: Mức chuẩn trợ cấp xây dựng chưa dựa trên cơ sở khoa học về nhu cầu tiêu dùng tối thiểu; nguồn lực ngân sách bố trí chưa đáp ứng nhu cầu; quy trình xác định đối tượng còn rườm rà, thiếu tính liên thông; đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội cấp xã kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng chuyên môn.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đến năm 2020:

  • Định hướng đổi mới quan điểm: Chuyển dịch căn bản từ quan điểm "TGXH là hoạt động cứu trợ nhân đạo, ban ơn" sang quan điểm "TGXH là việc bảo đảm thực hiện quyền cơ bản của con người", bảo đảm sự tương thích giữa chính sách an sinh xã hội với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến trình cải cách hành chính nhà nước.

  • Hệ thống giải pháp cụ thể:

    1. Từng bước mở rộng đối tượng hưởng lợi: Hạ độ tuổi hưởng trợ cấp người cao tuổi không có lương hưu/BHXH từ 85 tuổi xuống 80 tuổi; mở rộng diện trợ giúp cho trẻ em dưới 3 tuổi sống trong hộ nghèo, người khuyết tật suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
    2. Xây dựng mức chuẩn trợ cấp và hệ số trợ cấp mới: Đề xuất mức chuẩn trợ cấp xã hội tối thiểu áp dụng từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng (tương đương 70% mức sống tối thiểu của dân cư tại thời điểm tính toán), thay thế các mức chuẩn cũ (120.000 đồng và 180.000 đồng). Thiết lập bảng hệ số trợ cấp nhân theo mức độ khó khăn, nhu cầu dinh dưỡng lương thực - thực phẩm (LTTP) và chi phí người chăm sóc cho từng nhóm đối tượng cụ thể (hệ số từ 1,0 đến 3,0).
    3. Đa dạng hóa các hình thức chăm sóc: Ưu tiên trợ giúp tại gia đình và cộng đồng; hỗ trợ kinh phí cho cá nhân, gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng BTXH; hạn chế đưa đối tượng vào cơ sở nuôi dưỡng tập trung.
    4. Chuyển đổi cơ chế hỗ trợ: Chuyển dần từ cơ chế "miễn giảm gián tiếp" (cung cấp dịch vụ tập trung) sang cơ chế "cung cấp tiền mặt trực tiếp" có điều kiện để đối tượng tự chi trả khi sử dụng dịch vụ y tế, giáo dục, qua đó nâng cao tính chủ động và quyền lựa chọn của đối tượng.
    5. Hoàn thiện thể chế và kế hoạch quốc gia: Xây dựng và ban hành Luật Trợ giúp xã hội; lồng ghép các chỉ tiêu TGXH thường xuyên cộng đồng vào Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hàng năm của quốc gia và địa phương.
    6. Đổi mới cơ chế tài chính và huy động nguồn lực: Phân định rõ trách nhiệm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước; thành lập các quỹ hỗ trợ xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ công ích.
    7. Nâng cao năng lực bộ máy và công cụ giáo dục: Đào tạo, chuẩn hóa chức danh cán bộ làm công tác xã hội chuyên nghiệp tại cấp xã; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ đối tượng; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các đóng góp mới nổi bật về cả mặt lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:

    • Hoàn thiện khái niệm TGXH thường xuyên cộng đồng, xác định rõ bản chất đây là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của Nhà nước kết hợp với sự tham gia của xã hội, khắc phục quan niệm phiến diện coi TGXH chỉ là hành động từ thiện của cộng đồng.
    • Bổ sung và luận giải 04 nguyên tắc chính sách mới: (1) Bảo đảm tính hiệu lực, (2) Bảo đảm tính hiệu quả, (3) Bảo đảm tính công bằng, (4) Bảo đảm sự ổn định bền vững.
    • Phân tích có hệ thống 03 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chính sách (nhân tố từ đối tượng hưởng lợi; nhân tố từ cơ chế, công cụ; nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội).
    • Xây dựng hệ thống 06 chỉ tiêu định lượng đánh giá toàn diện chính sách TGXH ($R_{DS}$, $R_{BTXH}$, $R_{rr}$, mức trợ cấp bình quân $\bar{t}$, tỷ lệ thay đổi cuộc sống $r_{tđ}$, khoảng cách bình quân $r$, mức độ thiếu hụt $r_{th}$).
  • Những phát hiện và đề xuất mới từ thực tiễn:

    • Phát hiện khoảng cách lớn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng: 16,22% dân số có nhu cầu BTXH nhưng chính sách mới bao phủ 1,45% dân số; còn 12,2% đối tượng đủ điều kiện bị bỏ sót; mức độ không hài lòng của đối tượng (32%) và cán bộ (55%) phản ánh sự thiếu hụt về nguồn lực và quy trình thủ tục.
    • Đề xuất phương án định lượng mức chuẩn trợ cấp xã hội mới (315.000 đồng/tháng áp dụng cho năm 2011) gắn với mức sống tối thiểu và xây dựng hệ thống hệ số trợ cấp khoa học theo nhu cầu lương thực, thực phẩm của từng nhóm đối tượng.
    • Đề xuất lộ trình xây dựng Luật Trợ giúp xã hội và chuyển đổi phương thức can thiệp từ bao cấp gián tiếp sang trợ cấp tiền mặt trực tiếp gắn với quyền tự quyết của đối tượng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:

    • Do giới hạn về nguồn lực và phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung chuyên sâu vào 03 chính sách bộ phận (trợ cấp hàng tháng, trợ giúp y tế, trợ giúp giáo dục) áp dụng cho đối tượng tại cộng đồng, chưa đi sâu phân tích toàn diện các chính sách hỗ trợ sinh kế, tiếp cận công trình công cộng và mô hình nuôi dưỡng tập trung tại các trung tâm BTXH.
    • Các dữ liệu thực chứng và chuỗi số liệu thống kê được tổng hợp chủ yếu đến năm 2009–2010; các tính toán dự báo ngân sách gắn liền với các mốc quy định pháp luật và bối cảnh kinh tế - xã hội của giai đoạn này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Nghiên cứu mở rộng việc đánh giá tác động của các chính sách trợ giúp việc làm, học nghề, cho vay vốn ưu đãi đối với các hộ gia đình có đối tượng BTXH còn khả năng lao động.
    • Nghiên cứu cơ chế tài chính chi trả dịch vụ công và mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong việc phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại cấp cơ sở.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao:

  • Đối với cơ quan hoạch định và quản lý chính sách (Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính, cơ quan LĐTBXH các cấp): Cung cấp cơ sở khoa học, phương pháp luận và công thức tính toán mức chuẩn trợ cấp, hệ số chi trả để phục vụ việc soạn thảo các nghị định sửa đổi về chính sách trợ giúp xã hội và đề xuất xây dựng Luật Trợ giúp xã hội.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Tài liệu hữu ích phục vụ nghiên cứu và học tập trong các chuyên ngành Khoa học Quản lý, Chính sách công, An sinh xã hội, Kinh tế lao động và Công tác xã hội; đặc biệt là phương pháp xây dựng hệ thống chỉ tiêu lượng hóa đánh giá chính sách xã hội.
  • Đối với giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu: Cung cấp nguồn học liệu chi tiết về cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận quyền và quản lý rủi ro trong an sinh xã hội, cùng các bài học kinh nghiệm quốc tế có thể vận dụng vào bối cảnh Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng khác nhau như thế nào?

Trả lời: Đối tượng BTXH là khái niệm rộng, chỉ toàn bộ bộ phận dân cư do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan gặp hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, học tập, lao động cần sự trợ giúp (năm 2008 chiếm 16,22% dân số). Đối tượng TGXH thường xuyên cộng đồng là một bộ phận của đối tượng BTXH, sinh sống tại cộng đồng (không sống trong các trung tâm tập trung) và đáp ứng các tiêu chí cụ thể: không còn khả năng lao động, không tự phục vụ được, không có nguồn thu nhập (thuộc hộ nghèo) và không có người thân phụng dưỡng.

2. Tác giả đề xuất mức chuẩn trợ cấp xã hội áp dụng từ năm 2011 là bao nhiêu và dựa trên căn cứ nào?

Trả lời: Tác giả đề xuất mức chuẩn trợ cấp xã hội tối thiểu là 315.000 đồng/tháng. Mức này được tính toán khoa học dựa trên việc bảo đảm tương đương 70% mức sống tối thiểu của dân cư tại thời điểm năm 2011, khắc phục tình trạng mức chuẩn cũ (120.000 đồng theo NĐ 67/2007 và 180.000 đồng theo NĐ 13/2010) bị trượt giá và quá thấp so với chuẩn nghèo.

3. Tỷ lệ bao phủ thực tế của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng theo khảo sát của luận án là bao nhiêu?

Trả lời: Theo số liệu phân tích của luận án giai đoạn đến năm 2009–2010, tỷ lệ bao phủ của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng mới chỉ đạt 1,45% dân số (trong khi tổng số người thuộc diện BTXH chiếm 16,22% dân số); đồng thời vẫn còn 12,2% đối tượng đủ điều kiện theo quy định pháp luật nhưng thực tế chưa được hưởng chính sách.

4. Luận án đề xuất bổ sung những nguyên tắc chính sách mới nào so với các quan niệm trước đây?

Trả lời: Luận án bổ sung 04 nguyên tắc chính sách mới gồm: (1) Bảo đảm tính hiệu lực (phạm vi bao phủ và mức độ đạt được mục tiêu); (2) Bảo đảm tính hiệu quả (tối ưu hóa tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra); (3) Bảo đảm tính công bằng (bình đẳng giữa các nhóm đối tượng và tương thích với hệ thống chính sách xã hội khác); (4) Bảo đảm sự ổn định bền vững (tính lâu dài của chính sách và cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước với xã hội).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Toản đã hệ thống hóa và phát triển toàn diện cơ sở lý luận về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng dưới góc độ khoa học quản lý, khẳng định đây là trách nhiệm pháp lý cốt lõi của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người và an sinh xã hội. Thông qua việc phân tích thực trạng thực thi chính sách tại Việt Nam giai đoạn 2000–2010, luận án đã chỉ rõ các khoảng trống lớn về diện bao phủ (mới đạt 1,45% dân số), mức chuẩn trợ cấp thấp và tỷ lệ đối tượng chưa được tiếp cận chính sách (12,2%). Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị thực tiễn cao, trọng tâm là phương án nâng mức chuẩn trợ cấp lên 315.000 đồng/tháng gắn với hệ số nhu cầu dinh dưỡng, chuyển đổi sang trợ cấp tiền mặt trực tiếp và lộ trình xây dựng Luật Trợ giúp xã hội tại Việt Nam.