Luận án tiến sĩ nghiên cứu chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII

Luận án tiến sĩ khám phá chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII, phân tích tác động lịch sử và văn hóa.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

292
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Luận án tập trung vào việc nghiên cứu chính sách tôn giáo của các chúa NguyễnĐàng Trong trong thế kỷ XVII-XVIII. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động, với sự suy vong của nhà Hậu Lê và sự phân tranh giữa các tập đoàn phong kiến. Chúa Nguyễn đã thiết lập một chính quyền độc lập ở Đàng Trong, nơi các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, và tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu các chính sách này để hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

1.1. Khái niệm và thuật ngữ cơ bản

Luận án định nghĩa Đàng Trong là vùng đất do các chúa Nguyễn cai trị từ sông Gianh trở vào Nam. Tôn giáo được hiểu là hệ thống niềm tin, nghi lễ và biểu tượng chi phối đời sống tâm linh của con người. Các tôn giáo chính được nghiên cứu bao gồm Phật giáo, Công giáo, và tín ngưỡng dân gian. Luận án cũng đề cập đến các khái niệm như quản lý tôn giáovăn hóa tôn giáo, nhấn mạnh sự tương tác giữa tôn giáo và chính trị trong thời kỳ này.

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tại

Nghiên cứu về chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn còn nhiều khoảng trống. Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào lịch sử chính trị và kinh tế, trong khi vai trò của tôn giáo chưa được khai thác đầy đủ. Luận án này nhằm lấp đầy những khoảng trống đó, cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với Đàng Trong trong thế kỷ XVII-XVIII.

II. Cơ sở hình thành chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn

Luận án phân tích bối cảnh lịch sử, kinh tế, và xã hội của Đàng Trong trong thế kỷ XVII-XVIII. Các chúa Nguyễn đã sử dụng tôn giáo như một công cụ để củng cố quyền lực và ổn định xã hội. Phật giáoCông giáo được coi là những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới. Luận án cũng đề cập đến sự linh hoạt trong chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn, đặc biệt là trong việc đối xử với các tôn giáo ngoại lai như Công giáo.

2.1. Bối cảnh lịch sử và xã hội

Đàng Trong trong thế kỷ XVII-XVIII là một vùng đất mới được khai phá, với sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo. Các chúa Nguyễn đã thiết lập một chính quyền tập trung, sử dụng tôn giáo như một công cụ để thu phục nhân tâm và ổn định xã hội. Phật giáotín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.

2.2. Nhận thức của các chúa Nguyễn về tôn giáo

Các chúa Nguyễn nhận thức rõ vai trò của tôn giáo trong việc củng cố quyền lực và xây dựng nền văn hóa mới. Họ đã áp dụng chính sách viên dung tôn giáo, cho phép sự tồn tại và phát triển của nhiều tôn giáo khác nhau. Điều này giúp họ thu phục được sự ủng hộ của đông đảo người dân, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội đa dạng và phức tạp.

III. Chính sách của các chúa Nguyễn đối với các tôn giáo cụ thể

Luận án đi sâu vào phân tích chính sách của các chúa Nguyễn đối với từng tôn giáo cụ thể, bao gồm Phật giáo, Công giáo, và tín ngưỡng dân gian. Các chúa Nguyễn đã áp dụng những chính sách linh hoạt, tùy thuộc vào tình hình xã hội và chính trị. Phật giáo được coi là tôn giáo chính thức, trong khi Công giáo được đối xử một cách thận trọng do sự ảnh hưởng từ phương Tây.

3.1. Chính sách đối với Phật giáo

Phật giáo được các chúa Nguyễn coi trọng và ủng hộ, trở thành tôn giáo chính thức của Đàng Trong. Các chúa đã xây dựng nhiều chùa chiền và ủng hộ các hoạt động tôn giáo, nhằm củng cố sự ổn định xã hội và thu phục nhân tâm.

3.2. Chính sách đối với Công giáo

Công giáo được các chúa Nguyễn đối xử một cách thận trọng. Mặc dù không cấm đoán, các chúa đã áp dụng những biện pháp kiểm soát chặt chẽ để hạn chế sự ảnh hưởng của tôn giáo này, đặc biệt là trong bối cảnh các giáo sĩ phương Tây đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại Đàng Trong.

IV. Đánh giá và nhận định về chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn

Luận án đưa ra những nhận định về đặc điểm và hệ quả của chính sách tôn giáo các chúa Nguyễn. Chính sách này thể hiện sự linh hoạt và thực dụng, giúp các chúa củng cố quyền lực và ổn định xã hội. Tuy nhiên, cũng có những tác động tiêu cực, đặc biệt là trong việc đối xử với các tôn giáo ngoại lai như Công giáo.

4.1. Đặc điểm của chính sách tôn giáo

Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn thể hiện sự viên dung và linh hoạt. Họ cho phép sự tồn tại và phát triển của nhiều tôn giáo khác nhau, nhằm thu phục nhân tâm và ổn định xã hội. Điều này giúp họ xây dựng được một nền văn hóa đa dạng và phong phú.

4.2. Hệ quả của chính sách tôn giáo

Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn đã mang lại nhiều tác động tích cực, giúp củng cố quyền lực và ổn định xã hội. Tuy nhiên, cũng có những tác động tiêu cực, đặc biệt là trong việc đối xử với các tôn giáo ngoại lai như Công giáo, dẫn đến những xung đột và căng thẳng trong xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ lịch sử chính sách tôn giáo của các chúa nguyễn ở đàng trong thế kỉ xvii xviii

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản dùng trong luận án Đàng Trong Vùng đất do các chúa Nguyễn cai trị được gọi với nhiều tên gọi khác nhau. Người Phương Tây khi qua lại truyền đạo buôn bán với vùng đất này thường gọi với nhiều tên như: Cochinchine, Cochinchina, Cauchy China, Quảng Nam quốc, An Nam Quốc, Cảng Khẩu quốc,. để chỉ vùng đất này.

Chúa Nguyễn trong các văn bản ngoại giao thương xưng là Quốc vương An Nam hoặc lấy tước hiệu của vua Lê phong (Đô nguyên soái, Quốc công). Các sử gia thường dùng thuật ngữ Đàng Trong để chỉ vùng đất thuộc quản lí của các chúa Nguyễn nhằm phân biệt với vùng đất Đàng Ngoài do vua Lê – chúa Trịnh cai quản trong giai đoạn từ khi bắt đầu cuộc chiến Trịnh – Nguyễn diễn ra, vùng đất của các chúa Nguyễn quản lý trở thành một thực thể độc lập, đến khi chính quyền của các chúa Nguyễn chạy khỏi kinh đo Phú Xuân (1627 - 1775). Thực tế từ năm 1558, họ Nguyễn đã vào đất Thuận – Quảng dựng nghiệp. Mặt khác, mặc dù sau năm 1775 họ Nguyễn bị đánh khỏi kinh đô Phú Xuân, Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương) phải chạy vào Gia Định và chưa bị sụp đổ hoàn toàn.

Đến năm 1776, Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương (Tân Chính Vương) thì chính quyền Đàng Trong vẫn còn tồn tại. Sau khi Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đều bị quân Tây Sơn bắt giết (1777), Nguyễn Phúc Ánh tiếp tục duy trì sự nghiệp, dùng ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo” để hiệu triệu lực lượng kháng cự lại Tây Sơn. Cuối thế kỉ XVIII, Nguyễn Phúc Ánh từ vùng Nam Bộ ngày nay từng bước củng cố lực lượng, tiến ra Bắc lật đổ triều đại Cảnh Thịnh và lập nên vương triều Nguyễn vào năm 1802. Vua Gia Long đã kế thừa và tiếp nối chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn trước đó.

Vì vậy, trong luận án này tác giả dùng thuật ngữ “Đàng Trong” với chủ ý nhằm nhấn mạnh phạm vi thời gian chủ yếu ở giai đoạn lịch sử từ khi họ Nguyễn tách khỏi chính quyền Lê – Trịnh, thống trị vùng đất từ sông Gianh trở vào phía nam cho đến khi chính quyền của họ Nguyễn chạy khỏi kinh đô Phú Xuân. 8 Tôn giáo Cho đến nay có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo, phụ thuộc vào quan niệm của từng quốc gia, từng vùng, từng cộng đồng người cụ thể về các hoạt động tôn giáo. Theo nghĩa hẹp, nhiều người thường hiểu tôn giáo là sự sùng bái của con người với các đấng thần linh, là hệ thống niềm tin với thánh thần, Chúa (God) và những lời răn dạy của các đấng linh thiêng. Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng, trong bài Góp phần phê phán triết học của Hê-ghen, C.

Ăng-ghen (2004) nhấn mạnh về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo như sau: Con người làm ra tôn giáo chứ tôn giáo không làm ra con người. Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội.

Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, từ thế giới quan lộn ngược vì bản thân chúng là thế giới quan lộn ngược. Tôn giáo là lý luận của thế giới ấy, cương yếu bách khoa của nó, là logic dưới hình thức phổ cập của nó, là point d’honneur duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.

Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân (tr. Ở Việt Nam nhiều người thường dùng chữ “đạo” để chỉ một tôn giáo hoặc một tập đoàn người có cùng một tín ngưỡng, tôn giáo.

Theo Lê Thanh Bình – Đỗ Thanh Hải (2012), “tôn giáo là một hệ thống những niềm tin, nghi lễ và biểu tượng dẫn dắt lời nói, suy nghĩ và hành động của những cá nhân chấp nhận giáo lý của tôn giáo” (tr. 9 Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2004 công nhận một tổ chức tôn giáo khi có đủ 5 điều kiện sau: a) Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc; b) Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; c) Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; d) Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp; đ) Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 18/11/2016 định nghĩa: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Theo một số quan điểm và định nghĩa nêu trên, khi được coi là một tôn giáo ít nhất nó phải hội tụ 3 yếu tố cơ bản: Thứ nhất, có ý thức tôn giáo (gồm tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo).

Đây là yếu tố quan trọng nhất của một tôn giáo; Thứ hai, có giáo thuyết (tức hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ,…); Thứ ba, có tổ chức giáo hội, tăng đoàn và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp. Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm Tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để làm phương tiện và công cụ nghiên cứu về các chính sách tôn giáo của chính quyền các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Chính sách tôn giáo Chính sách tôn giáo bao gồm những quy chế, quy phạm pháp luật, quan điểm, chủ trương, đường lối tôn giáo của tổ chức nhà nước, của những người đứng đầu nhà nước đề ra trong việc quản lý và điều hành quốc gia. Khái niệm “Chính sách tôn giáo” trong luận án này được dùng để chỉ những quy định của nhà nước đối với 10 tôn giáo nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi, hoạt động tôn giáo của tổ chức hoặc cá nhân diễn ra theo quy định của chính quyền nhà nước.

Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn là những quan điểm, chủ trương, đường lối, quy định về tôn giáo của từng vị chúa trên cương vị nắm quyền của mình nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi, hoạt động tôn giáo của tổ chức hoặc cá nhân diễn ra theo quy định của phủ chúa Nguyễn. Chính sách tôn giáo của chính quyền Đàng Trong được thể hiện chủ yếu thông qua các chiếu, chỉ, lệnh, sắc,… do các chúa Nguyễn ban hành và thực thi, biểu hiện thái độ ứng xử của các chúa Nguyễn đối với các tôn giáo. Ba-la-mon giáo Ba-la-mon giáo được hình thành ở Ấn Độ thời cổ đại. Ba-la-mon là từ phiên âm theo tiếng Phạn của thuật ngữ Brahma.

Ba-la-mon giáo được hình thành trên cơ sở của Veda giáo. Kinh điển của Ba-la-mon giáo chủ yếu được thể hiện trong các bộ kinh Veda (gồm Rig Veda, Yajur Veda, Atharva Veda), Brahmanas (kinh Ba-la- mon), Upannishad,. Đạo Ba-la-mon thờ 3 vị thần tối thượng: Brahma là thần sáng tạo, được gọi là Đấng Tối Cao, linh hồn của vũ trụ; Vishnu là thần bảo tồn; Shiva là thần hủy diệt, tranh đấu. Bên cạnh đó, Ba-la-mon giáo còn thờ các vị thần khác như thần Sấm (Indra), thần Mặt Trời (Surya), thần Mặt Trăng (Mosa), thần Lửa (Agni), thần Gió (Vayu), thần Không Trung (Varuna),… Theo lịch sử phát triển, Ba-la-mon giáo phân thành nhiều chi phái, trong đó có những phái lớn như Vishnu giáo, Shiva giáo, Vedanta giáo, Yoga giáo.

Ở Việt Nam, người Champa tiếp thu chủ yếu là Shiva giáo. Đạo giáo Đạo giáo còn được gọi là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão hay Đạo Lão Trang, ra đời từ thời cổ đại ở Trung Quốc. Hiểu theo chiết tự, chữ Đạo là một danh từ triết học nguyên nghĩa là “con đường”. Nhưng khi ở trong Đạo giáo nó được mang nghĩa là “phương tiện”, “nguyên lí”.

Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ. Đạo giáo là tôn giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử làm giáo chủ, coi ông là hóa thân của “Đạo”. Đạo giáo là tôn giáo đa thần, thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, kế đến 11 là Thái Thượng Lão Quân và một hệ thống thần tiên nhiều ít tùy theo quy định của từng hệ phái khác nhau. Mục đích chủ yếu của tôn giáo giáo này hướng tới “vô vi”, tìm cách để trường sinh, diệt tà ma.

Kinh sách của Đạo giáo cơ bản gồm Đạo Đức kinh của Lão Tử và Nam Hoa kinh của Trang Tử. Đạo giáo có hệ thống Đạo pháp chỉ tất cả các pháp thuật, thường khái quát thành 3 lĩnh vực gồm các phương thuật luyện dưỡng, tịch cốc, thủ quyết để đạt đến trường sinh bất tử, thành tiên; các phương thuật trừ tà ma, phù chú chữa bệnh; các phương thuật chiêm nghiệm dự trắc như tướng địa, tướng trạch,. Nơi hành lễ của Lão giáo gọi là Thiên đình đạo giáo hoặc Đạo quán. Trong hệ thống tổ chức có các chức danh như nguyên sĩ, cao sĩ, cư sĩ, ẩn sĩ,.

Người theo Đạo giáo thường tự xưng là đạo sĩ, cư sĩ, chân nhân, đạo nhân. Những tín đồ Đạo giáo thường dùng danh xưng Thiên Tôn để biểu thị sự uy linh tối thượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII là một nghiên cứu chuyên sâu về cách các chúa Nguyễn quản lý và điều hành các vấn đề tôn giáo trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Tài liệu không chỉ làm rõ các chính sách cụ thể mà còn phân tích tác động của chúng đến xã hội, văn hóa và chính trị Đàng Trong. Đây là nguồn tư liệu quý giá cho những ai quan tâm đến lịch sử tôn giáo và quản lý nhà nước thời kỳ này.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ ngoại thương đàng trong thời chúa nguyễn, nghiên cứu về hoạt động thương mại cùng thời kỳ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ triết học tư tưởng trị nước của các vị vua gia long minh mệnh thiệu trị và ý nghĩa lịch sử của nó cung cấp góc nhìn về tư tưởng quản lý nhà nước, một yếu tố không thể tách rời khỏi chính sách tôn giáo. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khảo cứu hoàng lê cảnh hưng bản đồ từ góc nhìn văn bản học và diên cách địa danh mang đến cái nhìn chi tiết về địa lý và văn hóa, giúp hiểu rõ hơn bối cảnh lịch sử của Đàng Trong.