Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (thế kỉ XVII - XVIII)" được nghiên cứu sinh Lê Bá Vương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 6220313), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thuận và bảo vệ hoàn thành vào năm 2020.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Tôn giáo là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có tác động sâu rộng đến mọi phương diện đời sống xã hội và tư tưởng con người. Giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII ghi nhận những biến động lớn trong lịch sử Việt Nam khi nhà Hậu Lê suy thoái, dẫn tới nội chiến Nam - Bắc triều rồi đến cục diện phân tranh Trịnh - Nguyễn. Trong bối cảnh khủng hoảng thể chế và áp lực từ các làn sóng tiếp xúc phương Tây, nhu cầu tìm kiếm hướng phát triển mới đã thúc đẩy các cuộc thiên di khai phá vùng đất phía Nam. Quá trình mở cõi gắn liền với sự hội tụ, biến đổi của các tôn giáo truyền thống cũng như sự thâm nhập của các tôn giáo mới. Việc đánh giá sự nghiệp của các chúa Nguyễn và diện mạo lịch sử thế kỉ XVII - XVIII hiện vẫn còn những nhận định chưa thống nhất. Nghiên cứu chính sách tôn giáo của phủ chúa cung cấp cơ sở khoa học nhằm nhận thức khách quan, toàn diện về di sản chính trị - xã hội của dòng họ Nguyễn.
- Về mặt thực tiễn: Suốt hai thế kỉ XVII - XVIII, các cuộc chiến tranh và khởi nghĩa nông dân liên miên khiến giới nghiên cứu thường tập trung nhiều vào các biến cố quân sự và chính trị. Do đó, các tư liệu về văn hóa, tư tưởng và tôn giáo Đàng Trong thường bị giản lược, tạo nên một khoảng trống học thuật. Luận án bù đắp khoảng trống này, đồng thời đúc kết những bài học lịch sử từ phương thức điều hành chính sự của chính quyền Đàng Trong để làm luận cứ tham chiếu cho việc hoạch định chính sách tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và bảo đảm an ninh chính trị hiện nay.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Mục tiêu bao quát của luận án là làm rõ toàn diện các chủ trương, biện pháp cai trị của các chúa Nguyễn đối với tôn giáo ở Đàng Trong; từ đó đánh giá thỏa đáng vai trò lịch sử của các chúa Nguyễn và rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác tôn giáo hiện đại.
Các nhiệm vụ và vấn đề nghiên cứu cần tiếp tục làm rõ được đánh số cụ thể như sau:
- Vấn đề thứ nhất: Phục dựng bức tranh lịch sử Đàng Trong thế kỉ XVII - XVIII trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; qua đó tái hiện có hệ thống tình hình các tôn giáo đương thời.
- Vấn đề thứ hai: Đi sâu phân tích chính sách đối với Nho giáo dưới góc độ một học thuyết chính trị - xã hội và đạo đức mang tính tôn giáo, xác định mức độ thâm nhập của dòng Nho giáo bình dân, Nho giáo Việt hóa và cơ cấu "Nho Thích song hành".
- Vấn đề thứ ba: Làm rõ chính sách đối với Đạo giáo, phân định ranh giới giữa Đạo giáo Thần tiên và Đạo giáo Phù thủy, cùng tính chất tích hợp của Đạo giáo vào Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
- Vấn đề thứ tư: Khảo cứu chính sách đối với Ba-la-mon giáo, Islam của người Champa và Phật giáo Nguyên thủy của người Chân Lạp – những mảng đề tài vốn ít được các công trình trước đây đề cập sâu.
- Vấn đề thứ năm: Đo lường các tác động và hệ quả của chính sách tôn giáo đối với tiến trình xây dựng, củng cố văn hóa - xã hội Đàng Trong.
Song song đó, luận án đặt ra và giải quyết 5 vấn đề mới:
- Thực hiện công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và chuyên sâu đầu tiên về toàn bộ chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Kiểm chứng và giải quyết bản chất của chính sách cấm đạo đối với Thiên Chúa giáo, trả lời câu hỏi liệu phủ chúa có thực hiện chính sách cưỡng bách tín đồ cải đạo để quay về với tôn giáo truyền thống hay không.
- Xác lập các đặc điểm và hệ quả hai mặt (tích cực lẫn tiêu cực) từ đường lối điều hành tôn giáo của chính quyền Đàng Trong.
- Rút ra hệ thống bài học lịch sử có giá trị tham khảo đối với việc quản trị tôn giáo tại Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Định vị thỏa đáng vị trí, đóng góp của các chúa Nguyễn đối với lịch sử dân tộc qua phương diện chính sách tôn giáo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các chính sách tôn giáo của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, bao gồm hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối và thái độ ứng xử thể hiện qua các văn bản pháp quy (chiếu, chỉ, lệnh, sắc) đối với sáu tôn giáo cụ thể: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Ba-la-mon giáo và Islam.
- Phạm vi không gian: Không gian lãnh thổ Đàng Trong chịu sự quản lý và xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn, giới hạn từ bờ nam sông Gianh (Quảng Bình) trở vào đến hết vùng đất Nam Bộ.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn thế kỉ XVII - XVIII, mốc từ năm 1627 (khởi đầu chiến tranh Trịnh - Nguyễn) hoặc 1672 (phân chia ranh giới Đàng Trong - Đàng Ngoài) đến năm 1775 (khi quân Trịnh chiếm Phú Xuân). Để làm rõ nguồn gốc và tiến trình kế thừa, luận án mở rộng khảo sát từ năm 1558 (khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa) đến cuối thế kỉ XVIII (trước khi triều Nguyễn được thiết lập vào năm 1802).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước theo 6 nhóm hướng nghiên cứu chính:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN NHIỆM |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Hướng nghiên cứu chuyên biệt | Tác giả và công trình tiêu biểu trích dẫn trong văn bản |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Chính sách đối với Phật giáo | - Thích Đức Nhuận (1984), Đạo Phật và dòng sử Việt |
| | - Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật giáo Việt Nam |
| | - Nguyễn Hiền Đức (1994, 1995), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong |
| | - Lê Mạnh Thát (1999); Nguyễn Lang (2000) |
| | - Thích Thanh Từ (1999), Thiền sư Việt Nam |
| | - Trần Hồng Liên (2000, 2004), Phật giáo ở Nam Bộ |
| | - Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế |
| | - Lê Nguyễn Lưu (2006), Văn hóa Huế xưa, tập 2 |
| | - Kỷ yếu hội thảo Chúa - Bồ tát Nguyễn Phúc Chu (2011) |
| | - Các bài viết của: Nguyễn Quang Hùng, Nguyễn Văn Quảng, |
| | Nguyễn Hữu Sự, Võ Phương Lan (2012-2014); Nguyễn Duy Phương |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Chính sách đối với Nho giáo | - Viện Triết học (1994); Vũ Khiêu (1994); Hà Thúc Minh (1998) |
| | - Nguyễn Đức Sự (2006); Nguyễn Kim Sơn (2006) |
| | - Cao Tự Thanh (2005, 2010), Nho giáo ở Gia Định |
| | - Nguyễn Nguyên Việt (2012); Nguyễn Thúy Nga (2013) |
| | - Trần Thuận (2014); Huỳnh Thị Anh Vân (2014) |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Chính sách đối với Đạo giáo | - Onishi (2014), nghiên cứu chùa Thiên Tôn tại Đâu Kênh |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Chính sách đối với Islam | - Dohamide và Dorohiêm (1965), Dân tộc Chàm lược sử |
| và Ba-la-mon giáo | - Nguyễn Văn Luận (1974), Người Chàm Hồi giáo miền tây nam... |
| | - Phan Văn Dốp (1993); Nguyễn Đệ (1994) |
| | - Pierre-Bernard Lafont (2007); Nguyễn Duy Hinh (2009) |
| | - Lương Ninh (2003, 2006); Văn Đức Giao (2012) |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Chính sách đối với Thiên Chúa giáo | - Phạm Ngộ Hiền et al. (1981), dịch Tây Dương Gia tô bí lục |
| | - Kỷ yếu Viện KHXH (1988: Nguyễn Văn Kiệm, Mạc Đường...) |
| | - Đỗ Quang Hưng (1991); Augustnô Nguyễn Văn Trinh (1994) |
| | - Cadière L. và Nguyễn Văn Tố (1944) |
| | - Bùi Đức Sinh (1999); Bùi Hạnh Cẩn (2000) |
| | - Nguyễn Văn Kiệm (2001, 2003, 2004); Đỗ Lan Hiền (2002) |
| | - Đỗ Quang Chính SJ (2008); Inhaxio Nguyễn Hồng (2009) |
| | - Trương Bá Cần (2008); Đoàn Triệu Long (2008, 2009) |
| | - Võ Phương Lan (2008); Nguyễn Mạnh Dũng (2009, 2018) |
| | - Đặng Mạnh Trung (2009); Trần Nam Tiến (2012) |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Các công trình tổng hợp | - Phan Huy Lê cb (2017), Nam Bộ - lịch sử hình thành... |
| và địa chí địa phương | - Trần Nam Tiến (2018); Hội KHLS Thừa Thiên Huế (2018) |
| | - Nhóm nghiên cứu Trần Thị Vinh |
| | - Địa chí: TP. HCM, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai... |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua việc điểm luận các tài liệu nêu trên, tác giả nhận thấy các công trình trước đây phần lớn mới dừng lại ở việc tìm hiểu riêng rẽ một tôn giáo cụ thể (chủ yếu là Phật giáo hoặc Thiên Chúa giáo), hoặc chỉ chú trọng phương diện diễn biến tông phái, giáo lý, giáo luật. Rất ít công trình nghiên cứu sâu về chính sách đối với Đạo giáo cũng như các tôn giáo của cư dân bản địa Champa và Chân Lạp (Ba-la-mon giáo, Islam, Phật giáo Theravada). Chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu và có tính hệ thống về chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn trong mối liên hệ trực tiếp với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Đàng Trong. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm phục dựng bức tranh tôn giáo toàn diện, phân tích bản chất cơ chế quản lý và hệ quả lịch sử mà chính quyền phủ chúa tạo ra.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ
- Cơ sở lý luận: Tác giả quán triệt thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trọng tâm là lý thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, hình thái ý thức xã hội, cùng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử và tôn giáo được sử dụng làm kim chỉ nam định hướng nhận thức.
- Khái niệm "Tôn giáo": Luận án căn cứ vào định nghĩa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Để được xác định là một tôn giáo, thực thể đó phải hội tụ tối thiểu ba yếu tố: ý thức tôn giáo, giáo thuyết và tổ chức giáo hội/tăng đoàn. Luận án cũng viện dẫn quan điểm duy vật của C. Mác và Ph. Ăng-ghen (2004) nhằm khẳng định bản chất xã hội của tôn giáo ("con người làm ra tôn giáo chứ tôn giáo không làm ra con người").
- Khái niệm "Chính sách tôn giáo": Bao gồm toàn bộ các quy chế, quy phạm pháp luật, quan điểm, chủ trương, đường lối do nhà nước hoặc người đứng đầu nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi và hoạt động tôn giáo của các cá nhân, tổ chức. Đối với Đàng Trong, đó là các chủ trương của từng đời chúa Nguyễn được thể chế hóa bằng chiếu, chỉ, lệnh, sắc.
- Khái niệm "Đàng Trong": Thuật ngữ dùng để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quyền quản lý và xác lập chủ quyền của họ Nguyễn, phân biệt với Đàng Ngoài do vua Lê - chúa Trịnh cai quản. Phạm vi này bắt đầu hình thành rõ nét từ khi xảy ra cuộc chiến Trịnh - Nguyễn (1627), lấy sông Gianh làm giới hạn và kéo dài đến khi chúa Nguyễn rút khỏi Phú Xuân (1775), tiếp nối đến thời điểm Nguyễn Ánh thống nhất đất nước.
- Khái niệm các tôn giáo cụ thể:
- Nho giáo: Luận án không xếp Nho giáo là một tôn giáo hoàn chỉnh do thiếu vắng tổ chức tăng đoàn độc lập, mà định danh Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức mang tính tôn giáo.
- Phật giáo: Tôn giáo vô thần do Thích Ca Mâu Ni sáng lập tại Ấn Độ thế kỉ VI TCN; hệ thống kinh điển gồm Tam Tạng (Kinh, Luật, Luận); phân nhánh thành Thượng tọa bộ (Therevada/Phật giáo Nam tông) và Đại chúng bộ (Mahayana/Phật giáo Bắc tông).
- Đạo giáo: Hệ thống tín ngưỡng bắt nguồn từ Trung Quốc cổ đại, tôn Lão Tử làm giáo chủ, kinh điển gồm Đạo Đức kinh và Nam Hoa kinh; tồn tại hai phái Thần tiên và Phù thủy; tích hợp vào Tam giáo đồng nguyên.
- Thiên Chúa giáo: Tôn giáo độc thần thờ Thiên Chúa Ba Ngôi và Jesus Christo, kinh điển gồm Cựu ước và Tân ước; tại Đàng Trong gắn liền với hoạt động của Dòng Tên (thành lập 1534), Dòng Đa Minh (1206), Dòng Phan Sinh (1209), Hội Thừa sai Paris - MEP (1664) và Thánh Bộ Truyền bá Tin Mừng (1622).
- Ba-la-mon giáo: Tôn giáo cổ đại Ấn Độ dựa trên hệ thống kinh Veda, thờ ba vị thần tối thượng Brahma, Vishnu, Shiva; người Chăm ở Việt Nam tiếp thu chủ yếu là Shiva giáo.
- Islam: Tôn giáo độc thần do Muhammad truyền bá, thờ Thánh Allah, kinh điển gồm Qur'an, Sunna, Hadith; tín đồ thực hiện 5 nghĩa vụ thiêng liêng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện các chính sách và sự kiện theo cả trục thời gian lịch đại lẫn lát cắt đồng đại. Phương pháp logic giúp liên kết, hệ thống hóa các sự kiện để rút ra bản chất, quy luật vận động và các bài học lịch sử.
- Phương pháp hỗ trợ: Phương pháp so sánh (đối chiếu chính sách giữa các thời kỳ, giữa các tôn giáo, và bước đầu liên hệ giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài), phương pháp thống kê tư liệu, phương pháp điền dã dân tộc học và khảo sát thực địa tại các di tích đình, chùa, đền quán, nhà thờ cổ.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Hệ thống văn bản pháp quy: Sắc, lệnh, chỉ, chiếu của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn; các văn khắc Hán Nôm trên bia ký (bi kí), chuông đồng (minh chung).
- Bộ sử chính thống: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Việt sử ký toàn thư; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn.
- Nguồn tư liệu lưu trữ của các tổ chức tôn giáo phương Tây: Trung tâm lưu trữ Hội Truyền giáo nước ngoài Paris (AMEP), Trung tâm lưu trữ Dòng Tên (ARSI), Bản tin Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), Tập san Đô thành Hiếu cổ (BAVH).
- Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo và các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành: Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Tôn giáo, Hán Nôm, Triết học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 1 tập trung chuẩn hóa hệ thống công cụ khái niệm học thuật và phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu đề tài. Tác giả chỉ rõ:
- Tình trạng phân mảnh trong các công trình tiền nhiệm: Đa số tác giả chỉ xem xét một tôn giáo độc lập, nhìn nhận Phật giáo đơn thuần ở khía cạnh tâm linh hoặc Thiên Chúa giáo ở khía cạnh truyền giáo ngoại giao.
- Khẳng định tính cần thiết của việc tiếp cận Nho giáo như một hệ tư tưởng chính trị mang tính tôn giáo và nhận diện Đạo giáo qua lăng kính bản địa hóa.
- Xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu và 5 vấn đề mới cần giải quyết nhằm xây dựng bức tranh toàn cảnh về chính sách tôn giáo của chính quyền Đàng Trong.
Chương 2: Cơ sở hình thành chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (thế kỉ XVII - XVIII)
Chương 2 phục dựng bối cảnh lịch sử, địa lý, chính trị và kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến việc hoạch định đường lối tôn giáo của họ Nguyễn:
- Quá trình dựng nghiệp và xác lập chủ quyền:
- Khởi nghiệp tại Thuận - Quảng: Động cơ Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558 xuất phát từ sự nghi kị, bức hại của Trịnh Kiểm (sau khi Lãng quận công Nguyễn Uông bị hại). Nhờ mưu kế của Nguyễn Ư Dĩ cáo bệnh giữ mình kín đáo và định hướng từ câu sấm "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân", Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Năm 1570, ông kiêm lãnh xứ Quảng Nam. Trải qua ba lần chuyển dinh trấn tại Quảng Trị (Ái Tử năm 1558, Trà Bát năm 1570, Dinh Cát năm 1600), họ Nguyễn kiên trì tích lũy binh lương, thu hút dân xiêu tán từ Thanh - Nghệ do mất mùa lũ lụt liên miên (các năm 1559, 1561, 1570, 1572, 1586, 1588...).
- Mở rộng lãnh thổ về phương Nam: Thành lập Dinh trấn Thanh Chiêm năm 1602; lập phủ Phú Yên năm 1611; chúa Nguyễn Phúc Tần lập trấn Thái Khang năm 1653 (gồm ba phủ Phú Yên, Thái Khang, Diên Ninh); chúa Nguyễn Phúc Chu lập trấn Thuận Thành năm 1693 (sau đổi thành phủ Thuận Thành). Tại vùng đất Nam Bộ, chính quyền từng bước xác lập chủ quyền tại vùng Gia Định, Đồng Nai; Lê Quý Đôn ghi nhận vào cuối thế kỉ XVIII, riêng Dinh Long Hồ đã có quân số khoảng 12.000 người, quản lý 350 thôn và 7.000 dân.
- Củng cố tính độc lập chính trị: Nhằm tách biệt khỏi thể chế Lê - Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc ấn "Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo" (1709). Đến năm 1744, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát cho đúc ấn "Quốc vương" và xưng "Thiên Vương", hoàn thiện bộ máy chính quyền độc lập.
- Nhận thức của các chúa Nguyễn về vai trò của tôn giáo:
- Trong xây dựng chính trị và thiết chế xã hội: Nhận thức tôn giáo là công cụ xác lập tính chính danh, củng cố vương quyền và kiểm soát trật tự xã hội.
- Trong thu phục nhân tâm, ổn định xã hội: Dùng tinh thần từ bi của đạo Phật để chiêu dụ lưu dân, cảm hóa các sắc tộc bản địa, dung nạp tín ngưỡng đa thần để duy trì sự ổn định nơi biên viễn.
- Trong tạo dựng nền văn hóa mới: Tích hợp tinh hoa Tam giáo và các yếu tố tín ngưỡng bản địa để kiến tạo nên diện mạo văn hóa Đàng Trong cởi mở, thực tế.
Chương 3: Chính sách của các chúa Nguyễn đối với một số tôn giáo cụ thể ở Đàng Trong (thế kỉ XVII - XVIII)
Chương 3 trình bày chi tiết nội dung, phương thức và biện pháp ứng xử của phủ chúa đối với từng tôn giáo:
- Phương thức ban hành chính sách: Sử dụng các văn bản hành chính như chiếu, chỉ, lệnh, sắc kết hợp với các nghi lễ cung đình, ban cấp ruộng đất, độ điệp và phong tặng biển ngạch.
- Chính sách đối với Nho giáo:
- Thúc đẩy dòng Nho giáo bình dân, giản ước hóa kinh viện để thích ứng với điều kiện tiên phong khai hoang; mượn Phật giáo để chuyển tải đạo lý cương thường ("Nho Thích song hành").
- Tổ chức các khoa thi hương tuyển chọn quan lại, xây dựng hệ thống Văn miếu, Văn chỉ tại các dinh, trấn.
- Đến năm 1744, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát tiến hành cải cách hành chính, quy định lại lễ chế, trang phục, triều phục theo khuôn mẫu Nho gia nhằm khẳng định tư cách một quốc gia độc lập.
- Chính sách đối với Phật giáo:
- Tỏ rõ thái độ sùng mộ sâu sắc; chúa Nguyễn Hoàng cho xây chùa Thiên Mụ (1601), trùng tu chùa Sùng Hóa; chúa Nguyễn Phúc Chú trùng tu và ban biển ngạch cho chùa Linh Phong (Bình Định).
- Mời các cao tăng Trung Hoa sang truyền giới (chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh thiền sư Thạch Liêm Thích Đại Sán năm 1695); bảo trợ cho các thiền sư lỗi lạc như Liễu Quán, Nguyên Thiều, Tử Dung Minh Hoằng hoằng dương phái Lâm Tế và Tào Động.
- Hạn chế số lượng tăng ni thoái hóa, kiểm soát việc lập chùa tư nhân để ngăn chặn tình trạng trốn sâu lậu thuế.
- Chính sách đối với Đạo giáo:
- Tiếp nhận cả hai khuynh hướng Thần tiên và Phù thủy; dung hợp Đạo giáo vào tín ngưỡng thờ Mẫu và Thành hoàng làng.
- Các chúa Nguyễn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Đạo giáo, thể hiện qua việc sử dụng đạo hiệu: Nguyễn Phúc Chu xưng "Thiên Túng đạo nhân", Nguyễn Phúc Chú xưng "Vân Tuyền đạo nhân", Nguyễn Phúc Khoát xưng "Từ Tế đạo nhân".
- Cho phép xây dựng các đạo quán, đền miếu phối thờ Quan Đế, Huyền Thiên Trấn Vũ, Văn Xương Đế Quân.
- Chính sách đối với Thiên Chúa giáo:
- Thái độ thực dụng và linh hoạt: Thời kỳ đầu cho phép các giáo sĩ Dòng Tên truyền đạo tại Quảng Nam và Hội An để tranh thủ nguồn lực ngoại thương, mua sắm vũ khí và tiếp thu kỹ thuật phương Tây.
- Khi giáo lý Thiên Chúa giáo bộc lộ sự xung đột với đạo lý thờ cúng tổ tiên và trật tự vương quyền (giáo dân chỉ vâng phục giáo hoàng, từ chối tham gia nghi lễ cung đình), các chúa Nguyễn đã ban hành các sắc lệnh cấm đạo (tiêu biểu vào các năm 1665, 1707, 1750).
- Bản chất của lệnh cấm đạo là biện pháp an ninh chính trị nhằm ngăn chặn sự liên kết với nước ngoài, không nhằm mục đích triệt hạ đức tin hay bức bách tín đồ cải đạo bằng bạo lực cực đoan.
- Chính sách đối với Islam và Ba-la-mon giáo:
- Đối với cư dân Champa sau các mốc sáp nhập lãnh thổ (1653, 1693), phủ chúa thi hành chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng bản địa; bảo tồn các thánh địa, tháp Chăm phục vụ nghi lễ Shiva giáo và các thánh đường Hồi giáo.
- Áp dụng quy chế quản lý gián tiếp thông qua các phiên vương, không can thiệp thô bạo vào giáo luật nội bộ, duy trì sự ổn định vùng biên cương phía Nam.
Chương 4: Một số nhận định và đánh giá về chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (thế kỉ XVII - XVIII)
Chương 4 đúc kết bốn đặc điểm mang tính bản chất và phân tích hệ quả lịch sử hai mặt:
- Bốn đặc điểm cơ bản:
- Chú trọng phát triển dòng Nho giáo bình dân: Biến Nho giáo thành hệ quy phạm ứng xử thực tế, bình dị thay vì triết lý lý học cao đàm khoát luận.
- Thể hiện tinh thần viên dung tôn giáo: Thực thi chính sách tích hợp Tam giáo (Nho - Phật - Đạo) nhuần nhuyễn, lấy Phật giáo làm chỗ dựa tâm linh, Nho giáo làm khuôn phép chính trị, Đạo giáo làm phương tiện huyền vi.
- Chú trọng phát triển Tam giáo của người Việt trên lãnh thổ Champa và Chân Lạp: Dùng việc dựng chùa, miếu của người Việt làm phương thức xác lập và khẳng định chủ quyền lãnh thổ văn hóa tại các vùng đất mới.
- Linh hoạt và thực dụng trong đối sách với Thiên Chúa giáo: Điều chỉnh chính sách đóng - mở tùy thuộc vào nhu cầu kỹ thuật quân sự, thương mại quốc tế và mức độ đe dọa an ninh chính trị.
- Hệ quả của chính sách tôn giáo:
- Tác động tích cực: Thu phục nhân tâm, quy tụ khối đại đoàn kết các dân tộc (Việt, Hoa, Chăm, Khmer); giữ vững ổn định xã hội, tạo nền tảng nhân lực và vật lực phục vụ công cuộc mở mang bờ cõi; thúc đẩy giao thương quốc tế tại các đô thị cảng như Hội An.
- Tác động tiêu cực: Phật giáo phát triển ồ ạt về số lượng dẫn đến suy thoái phẩm hạnh của một bộ phận tăng sĩ vào cuối thế kỉ XVIII; các cuộc cấm đạo Thiên Chúa giáo gây xáo trộn tâm lý giáo dân, tạo rạn nứt xã hội; sự thiếu hụt một hệ tư tưởng Nho giáo hoàn chỉnh khiến chính quyền Đàng Trong suy yếu khi đối mặt với khủng hoảng chính trị cuối thế kỉ XVIII.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, đa diện và chuyên sâu toàn bộ chính sách tôn giáo của chính quyền Đàng Trong trong suốt hơn hai thế kỉ (XVII - XVIII).
- Khái quát được 4 đặc điểm cốt lõi trong đường lối quản lý tôn giáo của các chúa Nguyễn, chứng minh tính linh hoạt, thực tế và tinh thần viên dung tôn giáo của nhà cầm quyền phương Nam.
- Đưa ra hệ thống sử liệu chuẩn xác chứng minh bản chất chính sách cấm đạo Thiên Chúa giáo của các chúa Nguyễn mang động cơ an ninh chính trị và bảo vệ văn hóa truyền thống, bác bỏ quan điểm cho rằng chúa Nguyễn thi hành chính sách tiêu diệt tôn giáo thuần túy.
- Khai thác, hệ thống hóa nguồn tư liệu phong phú từ văn khắc bia ký, gia phả, châu bản cùng các tài liệu lưu trữ của các hội truyền giáo phương Tây (AMEP, ARSI), bổ khuyết khoảng trống tư liệu lịch sử tư tưởng Đàng Trong.
Kiến nghị và bài học lịch sử đề xuất
- Bài học về sự tôn trọng và viên dung văn hóa: Bài học từ việc dung hợp tín ngưỡng người Chăm, người Khmer và lưu dân người Hoa cho thấy sự tôn trọng tự do tín ngưỡng là nền tảng cốt lõi để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Bài học về tính linh hoạt và thực tế trong quản lý: Hoạch định chính sách tôn giáo phải xuất phát từ thực tiễn kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương, tránh áp đặt các mô hình quản lý giáo điều, kinh viện.
- Bài học về kết hợp giữa an ninh quốc gia và tự do tín ngưỡng: Phân định rõ ràng giữa đức tin tôn giáo thuần túy của nhân dân với các hành vi lợi dụng tôn giáo để xâm phạm an ninh chính trị, từ đó có đối sách xử lý kiên quyết nhưng mềm dẻo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh liên miên thời Tây Sơn và điều kiện khí hậu nhiệt đới, nguồn văn bản hành chính gốc thời các chúa Nguyễn (chiếu, chỉ, lệnh) bị thất lạc nhiều; tư liệu bi ký, minh chuông còn lại chứa lượng thông tin khá ngắn gọn. Nguồn tài liệu lưu trữ của các dòng tu phương Tây (AMEP, ARSI) chủ yếu được tác giả tiếp cận qua các bản trích dịch công bố thứ cấp, chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp toàn bộ văn bản gốc tại các trung tâm lưu trữ nước ngoài.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa chính quyền chúa Nguyễn với Phật giáo Theravada của cộng đồng Khmer tại Tây Nam Bộ; tiến hành các nghiên cứu so sánh chuyên sâu về sự khác biệt thể chế tôn giáo giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài trên bình diện đối thoại văn hóa Đông - Tây.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Văn hóa học và Nhân học.
- Cán bộ nghiên cứu tại các viện, trung tâm khoa học xã hội và nhân văn.
- Các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về công tác tôn giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ, cơ quan dân tộc - tôn giáo các cấp).
- Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật: Chương 3 với hệ thống tư liệu cụ thể về chính sách đối với từng tôn giáo và Chương 4 với hệ thống nhận định về đặc điểm, tác động hai mặt của chính sách tôn giáo đối với công cuộc quản trị xã hội đa văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao các chúa Nguyễn lại chú trọng phát triển dòng "Nho giáo bình dân" thay vì Nho giáo chính thống như ở Đàng Ngoài?
Do bối cảnh Đàng Trong là vùng đất mới khai phá, cư dân chủ yếu là lưu dân tứ tán, yêu cầu cấp bách hàng đầu là tập trung sức lực mở đất, lập làng, xây dựng cuộc sống mới và bảo vệ lãnh thổ. Nho giáo bác học, kinh viện với hệ thống lý số phức tạp không phù hợp với tâm thức thực tế của người dân phương Nam. Do đó, các chúa Nguyễn đã dung lược Nho giáo thành những quy chuẩn đạo đức bình dân, thiết thực, kết hợp với tinh thần Phật giáo ("Nho Thích song hành") để duy trì trật tự gia đình và xã hội.
2. Bản chất các cuộc cấm đạo Thiên Chúa giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong là gì?
Văn bản luận án khẳng định các cuộc cấm đạo (tiêu biểu như năm 1707 hoặc thời Võ vương) xuất phát từ lý do an ninh chính trị và bảo tồn trật tự cương thường truyền thống. Nhà chúa lo ngại giáo dân bị lôi kéo, chỉ phục tùng mệnh lệnh của các giáo sĩ nước ngoài, từ chối nghĩa vụ với nhà nước phong kiến và thông đồng với các thế lực bên ngoài đe dọa sự tồn vong của chính quyền. Phủ chúa cấm đạo nhằm triệt hạ mầm mống bất tuân chính trị chứ không có chủ trương cưỡng bách tiêu diệt đức tin hay ép buộc giáo dân bỏ đạo bằng mọi giá.
3. Sự kiện nào đánh dấu bước chuyển rõ nét của chúa Nguyễn trong việc sử dụng lễ chế Nho giáo khẳng định vị thế độc lập?
Đó là cuộc cải cách năm 1744 của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Chúa cho đúc ấn "Quốc vương", xưng "Thiên Vương", thay đổi trang phục, triều phục và đặt định lại toàn bộ hệ thống lễ chế cung đình theo nguyên tắc Nho gia. Đây là bước ngoặt khẳng định tính chính danh và vị thế độc lập hoàn toàn của chính quyền Đàng Trong đối với triều đình vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
4. Đạo hiệu của các chúa Nguyễn phản ánh điều gì về bức tranh tư tưởng Đàng Trong?
Việc các chúa Nguyễn lấy đạo hiệu như Nguyễn Phúc Chu xưng "Thiên Túng đạo nhân", Nguyễn Phúc Chú xưng "Vân Tuyền đạo nhân", Nguyễn Phúc Khoát xưng "Từ Tế đạo nhân" phản ánh sự ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo đối với giới cầm quyền tối cao. Đồng thời, điều này chứng minh tư duy cởi mở, không độc tôn một hệ tư tưởng nào mà thực thi đường lối dung hợp cả ba nguồn tư tưởng Nho - Phật - Đạo (Tam giáo đồng nguyên) vào đời sống chính trị.
5. Chính sách của các chúa Nguyễn đối với Ba-la-mon giáo và Islam ở Champa diễn ra như thế nào sau khi mở rộng lãnh thổ?
Sau các mốc sáp nhập lãnh thổ năm 1653 (lập trấn Thái Khang) và năm 1693 (lập phủ Thuận Thành), các chúa Nguyễn thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của người Chăm. Chính quyền phủ chúa không can thiệp vào các tập tục, lễ nghi của đạo Ba-la-mon và Islam, thực thi phương thức quản lý gián tiếp và hòa hiếu dân tộc nhằm ổn định tình hình biên cương phía Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Bá Vương là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng một cách toàn diện và khoa học hệ thống chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII - XVIII. Dựa trên thế giới quan duy vật lịch sử cùng phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic chặt chẽ, luận án đã làm rõ cơ sở hình thành, nội dung thực thi đối với sáu tôn giáo cụ thể, qua đó xác lập bốn đặc điểm bản chất và hệ quả hai mặt của các chính sách này. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bù đắp khoảng trống học thuật về lịch sử tư tưởng - văn hóa thời chúa Nguyễn mà còn cung cấp cơ sở khoa học, bài học lịch sử giá trị cho công tác quản trị tôn giáo và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.