Luận án tiến sĩ ngữ văn: Khám phá các dạng cơ bản của truyện ngắn Việt Nam sau 1986

Luận án tiến sĩ ngữ văn phân tích các dạng cơ bản của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 từ góc nhìn thể loại, làm rõ đặc điểm và sự phát triển.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

173
8
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Luận án tập trung phân tích truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 từ góc nhìn thể loại. Giai đoạn này chứng kiến sự đa dạng và phức tạp của thể loại văn học này, với sự xuất hiện của nhiều dạng truyện ngắn mới. Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, nhưng chưa có nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về các dạng cơ bản của nó. Luận án này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách phân loại và phân tích các dạng truyện ngắn tiêu biểu như truyện cực ngắn, truyện ngắn giàu chất trữ tình, và truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết.

1.1. Bối cảnh xã hội và văn hóa

Sau năm 1986, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quá trình đổi mới kinh tế và xã hội. Sự thay đổi này tạo điều kiện cho truyện ngắn Việt Nam phát triển đa dạng, phản ánh những vấn đề thời sự và đời sống con người. Các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, và Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam bằng những tác phẩm độc đáo.

1.2. Các dạng truyện ngắn tiêu biểu

Luận án nhấn mạnh ba dạng chính của truyện ngắn Việt Nam sau 1986: truyện cực ngắn, truyện ngắn giàu chất trữ tình, và truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết. Mỗi dạng có đặc điểm thể loại riêng, từ cấu trúc, nghệ thuật kể chuyện, đến chủ đề truyện ngắn. Sự phân loại này giúp hiểu rõ hơn về sự vận động và cách tân của thể loại văn học này.

II. Truyện cực ngắn

Truyện cực ngắn là một dạng đặc biệt của truyện ngắn Việt Nam, nổi bật với sự rút gọn tối đa về dung lượng và cốt truyện. Luận án phân tích đặc điểm thể loại của dạng này, bao gồm sự giản lược nhân vật và chắt lọc chi tiết. Các tác phẩm tiêu biểu như những truyện của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài thể hiện sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện.

2.1. Lịch sử và phát triển

Truyện cực ngắn xuất hiện từ những năm 1990, phản ánh xu hướng hiện đại hóa trong văn học Việt Nam. Dạng này thường tập trung vào những tình huống truyện đơn giản nhưng giàu ý nghĩa, tạo nên sự hấp dẫn cho độc giả.

2.2. Đặc điểm nghệ thuật

Luận án chỉ ra rằng truyện cực ngắn thường sử dụng ngôn ngữ cô đọng và giọng điệu đa dạng. Sự kết hợp giữa nghệ thuật kể chuyệnchủ đề truyện ngắn tạo nên những tác phẩm độc đáo, phản ánh sâu sắc đời sống con người.

III. Truyện ngắn giàu chất trữ tình

Truyện ngắn giàu chất trữ tình là dạng truyện tập trung vào nội dung truyện ngắn mang tính cảm xúc và tâm lý. Luận án phân tích đặc điểm thể loại của dạng này, bao gồm cốt truyện trữ tình, tình huống tâm trạng, và nhân vật trong truyện ngắn. Các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và Trần Thùy Mai là ví dụ tiêu biểu cho dạng này.

3.1. Cốt truyện và nhân vật

Truyện ngắn giàu chất trữ tình thường xoay quanh những tình huống truyện đậm chất cảm xúc. Nhân vật trong truyện ngắn thường là những con người bình thường, với những trải nghiệm tâm lý phức tạp.

3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu

Luận án nhấn mạnh rằng ngôn ngữ trong truyện ngắn giàu chất trữ tình thường đậm chất thơ, với giọng điệu cảm thương và chia sẻ. Điều này tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa tác giả và độc giả.

IV. Truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết

Truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết là dạng truyện có cấu trúc phức tạp, mở rộng tối đa sức chứa của truyện ngắn Việt Nam. Luận án phân tích đặc điểm thể loại của dạng này, bao gồm kiểu nhân vật trải nghiệm, cấu trúc phức hợp, và sự đa dạng về giọng điệu. Các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương và Hồ Anh Thái là ví dụ tiêu biểu.

4.1. Cấu trúc và nhân vật

Truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết thường có cấu trúc phức hợp, với nhiều lớp tình huống truyệnnhân vật trong truyện ngắn. Kiểu nhân vật trải nghiệm thường xuất hiện, mang lại chiều sâu triết lý cho tác phẩm.

4.2. Ngôn ngữ và giọng điệu

Luận án chỉ ra rằng ngôn ngữ trong truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết thường đa dạng, với giọng điệu phong phú. Sự kết hợp giữa nghệ thuật kể chuyệnchủ đề truyện ngắn tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngữ văn các dạng cơ bản của truyện ngắn việt nam sau 1986 từ góc nhìn thể loại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I- Định nghĩa truyện ngắn, Chương II- Nguồn gốc truyện ngắn, Chương III- Đặc trưng thể loại truyện ngắn, Chương IV- Các kiểu truyện ngắn, Chương V- Khái quát sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam thế kỉ XX. Đây là công trình thực sự có ý nghĩa với chúng tôi. Trong chương IV, khi bàn về cách phân chia truyện ngắn thành các kiểu dạng, tác giả viết: “Truyện ngắn là thể loại năng động, ít bị những quy tắc có tính quy phạm gò bó, chi phối. Hình thức truyện ngắn luôn vỡ ra, đổi thay lại, luôn xác định tính bền vững của mình.

Việc phân chia truyện ngắn thành các kiểu, loại chỉ là giả định vì ranh giới của các thể loại văn học không 17 phải là bức thành bất khả xâm phạm”[237;133]. Bùi Việt Thắng đã chỉ ra kiểu truyện ngắn Việt Nam tiêu biểu: “dù thực tế có rất nhiều kiểu loại thì truyện ngắn vẫn có thể được phân loại theo phương pháp loại hình thành các kiểu chính: cổ điển, kì ảo, trữ tình, rất ngắn và liên hoàn” [237;134]. Luận án Truyện ngắn Việt Nam sau 1975- Nhìn từ góc độ thể loại cuả Tiến sĩ Nguyễn Thị Năm Hoàng là công trình mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm thi pháp, sự vận động và những thành tựu của truyện ngắn. Luận án nghiên cứu các phương diện: tình huống truyện, kết cấu truyện, nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn sau 1975.

Bàn về sự giao thoa giữa các thể loại để tạo ra kiểu truyện ngắn mới, Nguyễn Thị Năm Hoàng cho rằng: “Mỗi thể loại không thể tồn tại, phát triển một cách cực đoan mà luôn nới rộng biên độ, tìm kiếm những chân trời, những biên độ mới cho quá trình sáng tạo của nhà văn, và nhờ đó tìm thấy những điểm gặp gỡ với các thể loại khác… Với truyện ngắn đương đại Việt Nam, sự tác động, giao thoa mạnh mẽ nhất cuả thể loại này là với thơ. Về mặt kiểu loại, mối quan hệ này tạo ra kiểu truyện ngắn trữ tình” [154; 135]. Luận án Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (nhìn từ góc độ thể loại) của tác giả Lê Thị Hương Thủy [245] tập trung nghiên cứu lí luận về thể loại, những đặc điểm khu biệt và sự tương tác thể loại qua việc khảo sát truyện ngắn từ 1986 đến nay. Luận án khảo sát: diễn trình thể loại, các bút pháp nghệ thuật.

Từ đó, luận án xác định, phân tích, lí giải cách thức xây dựng nhân vật, phương thức tạo lập văn bản (kết cấu, ngôn ngữ truyện ngắn). Qua đây, tác giả chỉ ra sự kế thừa và tiếp biến, đổi mới tư duy của truyện ngắn Việt Nam đương đại trong bối cảnh mới. Mặc dù không đi sâu nghiên cứu các dạng truyện ngắn Việt Nam sau 1986 song công trình cũng đã ghi nhận: “… truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 đến nay có thể thấy nổi lên với ba khuynh hướng cơ bản: một là khuynh hướng truyện rất ngắn; hai là khuynh hướng phức hợp thể loại; ba là khuynh hướng mở rộng khuôn diện truyền thống của thể loại làm cho truyện ngắn gần với tiểu thuyết, có tư duy tiểu thuyết” [245; 53]. Trong công trình Xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, Đinh Trí Dũng chỉ ra trong đời sống truyện ngắn đang có xu 18 hướng kéo dài, nới rộng về dung lượng, mở rộng không gian.

Truyện ngắn diễn tả số phận con người với nhiều thăng trầm, biến đổi, cốt truyện nhiều tuyến tính, sự phức tạp của các tình tiết, câu chuyện kể về nhiều người, nhiều đời, cả một thời… Nhà nghiên cứu kết luận: “Truyện ngắn đang làm mờ đi ranh giới giữa nó với tiểu thuyết” [123; 14]. Nghiên cứu sự tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1986 đến 2012, nhiều ý kiến đều đồng nhất cho rằng có một xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam đương đại; truyện ngắn đang làm mờ đi ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết. Khẳng định về sự phát triển của kiểu loại này, Trần Viết Thiện cho rằng: “Nhiều truyện ngắn đã khắc phục tính khiêm tốn về kích cỡ thể loại bằng việc thể hiện tính “tầm cỡ” của các tình thế đời sống, đề cập đến những vấn đề có tính vĩnh cửu của con người” [242; 219]. Nguyên Ngọc phát biểu: “Cầm truyện ngắn trong tay có thể cảm nhận thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu.

Có những truyện ngắn chỉ mươi trang thôi mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [198; 174]. Nếu như nghiên cứu chung về các dạng truyện ngắn Việt Nam sau 1986 mới chỉ được nhắc tới trong các công trình, bài viết thì hướng nghiên cứu về dạng truyện (truyện cực ngắn, truyện nhại, mô phỏng thể loại) được đề cập tới chi tiết hơn trong một số bài viết. Chẳng hạn: Sự xuất hiện ngày càng nhiều của truyện cực ngắn trên báo chí, trong các tuyển tập, hay qua cuộc thi truyện cực ngắn trên Tạp chí Thế giới mới (1993- 1994), chuyên đề “Truyện cực ngắn” trên Tiền vệ đã thu hút sự chú ý cuả nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà lí luận phê bình và của cả các nhà văn. Đáng chú ý là các bài viết của các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học như Lê Trí Viễn, Đặng Anh Đào, Hoàng Ân, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Đăng Mạnh.

Ngay kể cả các nhà văn Nguyên Ngọc, Huy Phương, Vũ Tú Nam, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Quang Thân, Dạ Ngân. cũng đặc biệt quan tâm đến dạng truyện này. Các tác giả tập trung tìm hiểu, lí giải những đặc trưng riêng biệt, cơ bản, độc đáo và sự hấp dẫn của thể loại. Các ý kiến đều đi đến thống nhất: đã là truyện cực ngắn phải ngắn gọn, súc tích, cô đọng, nói ít mà 19 gợi nhiều.

Chẳng hạn, Nguyễn Hưng Quốc khẳng định: “truyện cực ngắn phải ngắn hơn truyện thật ngắn, giới hạn tối đa có thể là vài trăm chữ, tối thiểu là vài câu, và đó phải là một câu gọn” [220]. Ngoài ra, các bài viết này còn tìm hiểu tính chất “cực ngắn” trong bản thân cấu trúc bề sâu của tác phẩm. Tác giả Châu Thành Nguyễn cho rằng: “Truyện rất ngắn thường là sự gặp gỡ của những trạng thái đời sống ở những thời điểm ngưng kết đi tới chuyển đổi như phút 89 tràn đầy kịch tính trên sân cỏ trong những trận bóng nghiêng ngửa” [204; 89]. Nhà văn Võ Khắc Nghiêm nhận định: “Theo tôi, truyện rất ngắn là câu chuyện phù hợp với lối kể rất ngắn, dù có viết dài cũng chẳng thể hay hơn, tốt hơn.

Nó giống như một mảnh vải chỉ đủ may chiếc áo cộc tay, không thể may áo dài” [196]. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác có những ý kiến sâu sắc về truyện ngắn ngắn như: Hoàng Ngọc Hiến (1993), Truyện cực ngắn hiện đại dễ viết ngắn [143; 90]; Nguyễn Thanh Hùng (1994), Ánh kim sa trong truyện ngắn (in trong Văn học và nhân cách) [158]; Phùng Ngọc Kiếm (2004), Trần thuật trong truyện rất ngắn (in trong Tự sự học- Một số vấn đề lí thuyết và lịch sử) [172]; Hoàng Long, Vài ý nghĩ về truyện cực ngắn, [180]; Chu Văn Sơn- Đỗ Ngọc Thống (1993), Trao đổi mini về truyện ngắn mini [223]; Lê Dục Tú, Thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học đương đại [253; 55-63]. Song song với nhóm nghiên cứu về truyện cực ngắn, một số nhà nghiên cứu quan tâm tới kiểu truyện nhại, mô phỏng thể loại. Đặng Anh Đào là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm nhất tới xu hướng “truyện cũ viết lại” này trong Văn học Việt Nam.

Bà là người đầu tiên đưa ra khái niệm “giả cổ tích”, “giả ngụ ngôn” như một thể loại trong sự phân loại cuả lịch sử” [126]. Bùi Thanh Truyền là tác giả dành nhiều sự quan tâm tới những truyện giả cổ tích. Song đề truyền thống- hiện đại trong điểm nhìn nghệ thuật của truyện giả cổ tích và truyện cũ viết lại thời đổi mới tuy chưa thừa nhận truyện cũ viết lại như một xu hướng nhưng tác giả gọi đó là các truyện ngắn viết theo phong cách “giả cổ tích” và “truyện cũ viết lại”. Dừng lại ở điểm nhìn trần thuật, bước đầu tác giả thừa nhận điểm chung trong hai nhóm truyện này là “sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt cổ xưa và mới mẻ trong điểm nhìn nghệ thuật song hành với khát vọng, nỗ lực đổi mới văn học của nhà văn” [252; 2].

20 Trong cuốn Truyện ngắn lí luận, tác giả và tác phẩm, Lê Huy Bắc có bài Truyện ngắn nhại. Nhà nghiên cứu đã coi nhại là hình thức kể chuyện của truyện ngắn và tác giả dùng những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp để tìm hiểu hình thức trần thuật trên. Bài viết đi sâu phân tích những biểu hiện của kĩ thuật nhại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp kể cả về nội dung và nghệ thuật cuả truyện. Đó cũng là cách thức, phương tiện và những kĩ thuật mà các nhà văn ưa dùng trong sáng tác nhất là khoảng từ đầu thế kỉ XXI đến nay.

Ngoài những công trình trên, một vài công trình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam của những giai đoạn trước (Các loại hình truyện ngắn hiện đại (giai đoạn 1930-1945); Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945-1975 (từ góc nhìn thể loại); Truyện ngắn Việt Nam 1945-1975, diện mạo lịch sử của thể loại; Truyện ngắn Việt Nam sau 1975…) đã phân loại, miêu tả truyện ngắn những giai đoạn trước 1986 khá rõ. Chúng tôi ý thức rõ: những công trình này nằm ngoài phạm vi nghiên cứu. Tuy nhiên, đó là những công trình khoa học chuyên sâu về truyện ngắn từ góc nhìn thể loại, là những gợi dẫn quí báu đối với chúng tôi. Đây cũng chính là tiền đề để chúng tôi lựa chọn đối tượng, phạm vi nghiên cứu của mình.

Chúng tôi xin phép lược trích thêm. Công trình Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (giai đoạn 1930- 1945) của Nguyễn Văn Đấu có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu thể loại truyện ngắn hiện đại. Dựa theo phương thức khám phá đời sống và xây dựng tác phẩm theo đặc thù riêng của thể loại, Nguyễn Văn Đấu khảo sát truyện ngắn Việt Nam và chỉ ra ba loại hình cơ bản: “truyện ngắn- kịch hóa”, “truyện ngắn- trữ tình hóa”; “truyện ngắn- tiểu thuyết hóa”. Khẳng định về các loại hình truyện ngắn giai đoạn này, tác giả viết: “Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt từ cận đại sang hiện đại của văn học Việt Nam nói chung và truyện ngắn Việt Nam nói riêng.

Ở đó không chỉ có sự phong phú về số lượng tác giả, tác phẩm mà còn có sự đa dạng của các phong cách và loại hình truyện ngắn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Các dạng truyện ngắn Việt Nam sau 1986 từ góc nhìn thể loại là một nghiên cứu chuyên sâu về sự đa dạng và phát triển của truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn sau Đổi mới. Tác giả phân tích các đặc điểm thể loại, sự biến đổi trong cấu trúc, ngôn ngữ và chủ đề, mang đến cái nhìn toàn diện về sự sáng tạo văn học trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Đọc tài liệu này, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự đóng góp của truyện ngắn vào nền văn học hiện đại, đồng thời khám phá những xu hướng mới trong sáng tác văn học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư để hiểu sâu hơn về ngôn ngữ và phong cách trong truyện ngắn. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài và Nguyễn Quỳnh từ góc nhìn phê bình sinh thái cung cấp góc nhìn độc đáo về chủ đề và phong cách sáng tác. Cuối cùng, Luận văn bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong truyện cười sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự phản ánh xã hội qua các thể loại văn học khác nhau. Mỗi tài liệu là cơ hội để mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về văn học Việt Nam.