Chương I- Định nghĩa truyện ngắn, Chương II- Nguồn gốc truyện ngắn, Chương III- Đặc trưng thể loại truyện ngắn, Chương IV- Các kiểu truyện ngắn, Chương V- Khái quát sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam thế kỉ XX. Đây là công trình thực sự có ý nghĩa với chúng tôi. Trong chương IV, khi bàn về cách phân chia truyện ngắn thành các kiểu dạng, tác giả viết: “Truyện ngắn là thể loại năng động, ít bị những quy tắc có tính quy phạm gò bó, chi phối. Hình thức truyện ngắn luôn vỡ ra, đổi thay lại, luôn xác định tính bền vững của mình.
Việc phân chia truyện ngắn thành các kiểu, loại chỉ là giả định vì ranh giới của các thể loại văn học không 17 phải là bức thành bất khả xâm phạm”[237;133]. Bùi Việt Thắng đã chỉ ra kiểu truyện ngắn Việt Nam tiêu biểu: “dù thực tế có rất nhiều kiểu loại thì truyện ngắn vẫn có thể được phân loại theo phương pháp loại hình thành các kiểu chính: cổ điển, kì ảo, trữ tình, rất ngắn và liên hoàn” [237;134]. Luận án Truyện ngắn Việt Nam sau 1975- Nhìn từ góc độ thể loại cuả Tiến sĩ Nguyễn Thị Năm Hoàng là công trình mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm thi pháp, sự vận động và những thành tựu của truyện ngắn. Luận án nghiên cứu các phương diện: tình huống truyện, kết cấu truyện, nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn sau 1975.
Bàn về sự giao thoa giữa các thể loại để tạo ra kiểu truyện ngắn mới, Nguyễn Thị Năm Hoàng cho rằng: “Mỗi thể loại không thể tồn tại, phát triển một cách cực đoan mà luôn nới rộng biên độ, tìm kiếm những chân trời, những biên độ mới cho quá trình sáng tạo của nhà văn, và nhờ đó tìm thấy những điểm gặp gỡ với các thể loại khác… Với truyện ngắn đương đại Việt Nam, sự tác động, giao thoa mạnh mẽ nhất cuả thể loại này là với thơ. Về mặt kiểu loại, mối quan hệ này tạo ra kiểu truyện ngắn trữ tình” [154; 135]. Luận án Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (nhìn từ góc độ thể loại) của tác giả Lê Thị Hương Thủy [245] tập trung nghiên cứu lí luận về thể loại, những đặc điểm khu biệt và sự tương tác thể loại qua việc khảo sát truyện ngắn từ 1986 đến nay. Luận án khảo sát: diễn trình thể loại, các bút pháp nghệ thuật.
Từ đó, luận án xác định, phân tích, lí giải cách thức xây dựng nhân vật, phương thức tạo lập văn bản (kết cấu, ngôn ngữ truyện ngắn). Qua đây, tác giả chỉ ra sự kế thừa và tiếp biến, đổi mới tư duy của truyện ngắn Việt Nam đương đại trong bối cảnh mới. Mặc dù không đi sâu nghiên cứu các dạng truyện ngắn Việt Nam sau 1986 song công trình cũng đã ghi nhận: “… truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 đến nay có thể thấy nổi lên với ba khuynh hướng cơ bản: một là khuynh hướng truyện rất ngắn; hai là khuynh hướng phức hợp thể loại; ba là khuynh hướng mở rộng khuôn diện truyền thống của thể loại làm cho truyện ngắn gần với tiểu thuyết, có tư duy tiểu thuyết” [245; 53]. Trong công trình Xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, Đinh Trí Dũng chỉ ra trong đời sống truyện ngắn đang có xu 18 hướng kéo dài, nới rộng về dung lượng, mở rộng không gian.
Truyện ngắn diễn tả số phận con người với nhiều thăng trầm, biến đổi, cốt truyện nhiều tuyến tính, sự phức tạp của các tình tiết, câu chuyện kể về nhiều người, nhiều đời, cả một thời… Nhà nghiên cứu kết luận: “Truyện ngắn đang làm mờ đi ranh giới giữa nó với tiểu thuyết” [123; 14]. Nghiên cứu sự tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1986 đến 2012, nhiều ý kiến đều đồng nhất cho rằng có một xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam đương đại; truyện ngắn đang làm mờ đi ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết. Khẳng định về sự phát triển của kiểu loại này, Trần Viết Thiện cho rằng: “Nhiều truyện ngắn đã khắc phục tính khiêm tốn về kích cỡ thể loại bằng việc thể hiện tính “tầm cỡ” của các tình thế đời sống, đề cập đến những vấn đề có tính vĩnh cửu của con người” [242; 219]. Nguyên Ngọc phát biểu: “Cầm truyện ngắn trong tay có thể cảm nhận thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu.
Có những truyện ngắn chỉ mươi trang thôi mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [198; 174]. Nếu như nghiên cứu chung về các dạng truyện ngắn Việt Nam sau 1986 mới chỉ được nhắc tới trong các công trình, bài viết thì hướng nghiên cứu về dạng truyện (truyện cực ngắn, truyện nhại, mô phỏng thể loại) được đề cập tới chi tiết hơn trong một số bài viết. Chẳng hạn: Sự xuất hiện ngày càng nhiều của truyện cực ngắn trên báo chí, trong các tuyển tập, hay qua cuộc thi truyện cực ngắn trên Tạp chí Thế giới mới (1993- 1994), chuyên đề “Truyện cực ngắn” trên Tiền vệ đã thu hút sự chú ý cuả nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà lí luận phê bình và của cả các nhà văn. Đáng chú ý là các bài viết của các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học như Lê Trí Viễn, Đặng Anh Đào, Hoàng Ân, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Đăng Mạnh.
Ngay kể cả các nhà văn Nguyên Ngọc, Huy Phương, Vũ Tú Nam, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Quang Thân, Dạ Ngân. cũng đặc biệt quan tâm đến dạng truyện này. Các tác giả tập trung tìm hiểu, lí giải những đặc trưng riêng biệt, cơ bản, độc đáo và sự hấp dẫn của thể loại. Các ý kiến đều đi đến thống nhất: đã là truyện cực ngắn phải ngắn gọn, súc tích, cô đọng, nói ít mà 19 gợi nhiều.
Chẳng hạn, Nguyễn Hưng Quốc khẳng định: “truyện cực ngắn phải ngắn hơn truyện thật ngắn, giới hạn tối đa có thể là vài trăm chữ, tối thiểu là vài câu, và đó phải là một câu gọn” [220]. Ngoài ra, các bài viết này còn tìm hiểu tính chất “cực ngắn” trong bản thân cấu trúc bề sâu của tác phẩm. Tác giả Châu Thành Nguyễn cho rằng: “Truyện rất ngắn thường là sự gặp gỡ của những trạng thái đời sống ở những thời điểm ngưng kết đi tới chuyển đổi như phút 89 tràn đầy kịch tính trên sân cỏ trong những trận bóng nghiêng ngửa” [204; 89]. Nhà văn Võ Khắc Nghiêm nhận định: “Theo tôi, truyện rất ngắn là câu chuyện phù hợp với lối kể rất ngắn, dù có viết dài cũng chẳng thể hay hơn, tốt hơn.
Nó giống như một mảnh vải chỉ đủ may chiếc áo cộc tay, không thể may áo dài” [196]. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác có những ý kiến sâu sắc về truyện ngắn ngắn như: Hoàng Ngọc Hiến (1993), Truyện cực ngắn hiện đại dễ viết ngắn [143; 90]; Nguyễn Thanh Hùng (1994), Ánh kim sa trong truyện ngắn (in trong Văn học và nhân cách) [158]; Phùng Ngọc Kiếm (2004), Trần thuật trong truyện rất ngắn (in trong Tự sự học- Một số vấn đề lí thuyết và lịch sử) [172]; Hoàng Long, Vài ý nghĩ về truyện cực ngắn, [180]; Chu Văn Sơn- Đỗ Ngọc Thống (1993), Trao đổi mini về truyện ngắn mini [223]; Lê Dục Tú, Thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học đương đại [253; 55-63]. Song song với nhóm nghiên cứu về truyện cực ngắn, một số nhà nghiên cứu quan tâm tới kiểu truyện nhại, mô phỏng thể loại. Đặng Anh Đào là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm nhất tới xu hướng “truyện cũ viết lại” này trong Văn học Việt Nam.
Bà là người đầu tiên đưa ra khái niệm “giả cổ tích”, “giả ngụ ngôn” như một thể loại trong sự phân loại cuả lịch sử” [126]. Bùi Thanh Truyền là tác giả dành nhiều sự quan tâm tới những truyện giả cổ tích. Song đề truyền thống- hiện đại trong điểm nhìn nghệ thuật của truyện giả cổ tích và truyện cũ viết lại thời đổi mới tuy chưa thừa nhận truyện cũ viết lại như một xu hướng nhưng tác giả gọi đó là các truyện ngắn viết theo phong cách “giả cổ tích” và “truyện cũ viết lại”. Dừng lại ở điểm nhìn trần thuật, bước đầu tác giả thừa nhận điểm chung trong hai nhóm truyện này là “sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt cổ xưa và mới mẻ trong điểm nhìn nghệ thuật song hành với khát vọng, nỗ lực đổi mới văn học của nhà văn” [252; 2].
20 Trong cuốn Truyện ngắn lí luận, tác giả và tác phẩm, Lê Huy Bắc có bài Truyện ngắn nhại. Nhà nghiên cứu đã coi nhại là hình thức kể chuyện của truyện ngắn và tác giả dùng những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp để tìm hiểu hình thức trần thuật trên. Bài viết đi sâu phân tích những biểu hiện của kĩ thuật nhại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp kể cả về nội dung và nghệ thuật cuả truyện. Đó cũng là cách thức, phương tiện và những kĩ thuật mà các nhà văn ưa dùng trong sáng tác nhất là khoảng từ đầu thế kỉ XXI đến nay.
Ngoài những công trình trên, một vài công trình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam của những giai đoạn trước (Các loại hình truyện ngắn hiện đại (giai đoạn 1930-1945); Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945-1975 (từ góc nhìn thể loại); Truyện ngắn Việt Nam 1945-1975, diện mạo lịch sử của thể loại; Truyện ngắn Việt Nam sau 1975…) đã phân loại, miêu tả truyện ngắn những giai đoạn trước 1986 khá rõ. Chúng tôi ý thức rõ: những công trình này nằm ngoài phạm vi nghiên cứu. Tuy nhiên, đó là những công trình khoa học chuyên sâu về truyện ngắn từ góc nhìn thể loại, là những gợi dẫn quí báu đối với chúng tôi. Đây cũng chính là tiền đề để chúng tôi lựa chọn đối tượng, phạm vi nghiên cứu của mình.
Chúng tôi xin phép lược trích thêm. Công trình Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (giai đoạn 1930- 1945) của Nguyễn Văn Đấu có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu thể loại truyện ngắn hiện đại. Dựa theo phương thức khám phá đời sống và xây dựng tác phẩm theo đặc thù riêng của thể loại, Nguyễn Văn Đấu khảo sát truyện ngắn Việt Nam và chỉ ra ba loại hình cơ bản: “truyện ngắn- kịch hóa”, “truyện ngắn- trữ tình hóa”; “truyện ngắn- tiểu thuyết hóa”. Khẳng định về các loại hình truyện ngắn giai đoạn này, tác giả viết: “Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt từ cận đại sang hiện đại của văn học Việt Nam nói chung và truyện ngắn Việt Nam nói riêng.
Ở đó không chỉ có sự phong phú về số lượng tác giả, tác phẩm mà còn có sự đa dạng của các phong cách và loại hình truyện ngắn.