CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong luận án này, thuật ngữ “biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng” được sử dụng với tính chất là biện pháp pháp lý được áp dụng nhằm khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, từ đó bảo vệ lợi ích hợp pháp mà bên bị vi phạm mong đợi từ việc hợp đồng được thực hiện. Với tính chất là các biện pháp pháp lý mà theo quy định của pháp luật, bên bị vi phạm có quyền áp dụng đối với bên vi phạm nhằm yêu cầu bên đó chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình, do vậy các biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng cũng chủ yếu được đề cập gắn với hậu quả pháp lý bất lợi. Hậu quả pháp lý mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu có thể theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Từ góc độ này, trong khoa học pháp lý Việt Nam, đồng thời với việc sử dụng thuật ngữ “biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng”, thuật ngữ “chế tài” cũng được sử dụng với tính chất là một biện pháp pháp lý được áp dụng theo yêu cầu của bên bị vi phạm, nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm đối với hành vi vi phạm hợp đồng, buộc bên này khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng (xem Điều 292 Luật Thương mại 2005).
Vì vậy, trong Luật Thương mại 2005 thay vì sử dụng từ “biện pháp”, Luật đã sử dụng từ “chế tài” tại Chương VII, Mục 1 từ Điều 292 đến Điều 316. Do vậy, thuật ngữ “biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng” hay thuật ngữ “chế tài” cùng lúc được sử dụng trong luận án này và có sự tương đồng về mặt nội hàm, có thể thay thế cho nhau, dù sử dụng thuật ngữ nào thì nghĩa cũng không thay đổi. Tương tự, thuật ngữ “biện pháp BTHĐHĐ” hay “chế tài BTHĐHĐ” có thể được sử dụng thay thế cho nhau trong luận án này mà nghĩa không thay đổi. Vì vậy, các công trình nghiên cứu có liên quan đến biện pháp BTHĐHĐ hay chế tài BTHĐHĐ đều là công trình nghiên cứu và phân tích về một vấn đề.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài về biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng nói chung và biện pháp BTHĐHĐ theo CISG nói riêng được các nhà nghiên cứu công bố trong nhiều năm, trở thành nguồn tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này.
Hiện có khá nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp BTHĐHĐ, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây: 8 i Công trình nghiên cứu “Global Sales and Contract Law” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Mua bán hàng hóa toàn cầu và luật hợp đồng”) của các tác giả Ingeborg Schwenzer, Pascal Hachem, Christopher Kee (NXB Oxford University Press, xuất bản lần đầu năm 2012). Trong công trình này, biện pháp BTHĐHĐ được phân tích ở Chương 43 thuộc Phần XI, theo đó các tác giả đã tập trung giải quyết câu hỏi: (i). Có nên quy định cho bên bị vi phạm quyền áp dụng biện pháp BTHĐHĐ nhằm bảo đảm cho hợp đồng được thực hiện (hay cho phép bên vi phạm chọn việc bồi thường thiệt hại thay cho việc buộc thực hiện hợp đồng) và (ii). Nếu bên bị vi phạm được quyền áp dụng biện pháp BTHĐHĐ thì quyền này cần được giới hạn như thế nào.
Trên cơ sở tiếp cận và phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến cơ sở tồn tại và phạm vi áp dụng của biện pháp BTHĐHĐ từ góc độ các hệ thống pháp luật tiêu biểu và các văn bản pháp lý quốc tế về luật hợp đồng (CISG, PICC), các tác giả đã làm rõ sự cần thiết của việc quy định cho bên bị vi phạm quyền áp dụng biện pháp BTHĐHĐ. Theo đó, CISG tiếp cận theo hướng công nhận quyền yêu cầu BTHĐHĐ của bên bị vi phạm như một biện pháp pháp lý cơ bản nhằm hướng các bên đến việc thực hiện hợp đồng, đồng thời tạo cơ chế cho bên vi phạm được khắc phục sau vi phạm, đảm bảo tính hiệu quả và cân bằng lợi ích của các bên trong hợp đồng. Nhóm tác giả Stefan Kröll, Loukas Mistelis, Pilas Perales Viscasillas, vào năm 2011, đã chủ biên xuất bản cuốn sách “UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”) (NXB C.Beck-Hart- Nomos, năm 2011). Trong quyển sách này, các quy định liên quan đến biện pháp BTHĐHĐ theo CISG (Điều 25, Điều 28, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 62, Điều 63 CISG và các quy định có liên quan khác) được phân tích, đánh giá chi tiết, có đối chiếu, so sánh với các quy định của PICC, PECL và các vụ việc được cập nhật mới nhằm giúp hiểu rõ việc giải thích và cách thức áp dụng biện pháp BTHĐHĐ theo CISG.
Thông qua đó, các quan điểm pháp lý liên quan đến việc áp dụng biện pháp BTHĐHĐ theo CISG cũng hình thành và có ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia thành viên qua từng thời kỳ. Nhóm tác giả Peter Schlechtriem và Ingeborg Schwenzer trong năm 2010 đã chủ biên công bố công trình nghiên cứu “Commentary on the UN Convention on the International Sale of Goods (CISG)” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Bình luận về Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”) (NXB Oxford University Press, tái bản lần thứ 3, năm 2010). Đây là một công trình nghiên cứu công phu và tập hợp khá toàn diện các tình huống pháp lý phát sinh từ việc giải thích và áp dụng các quy định của CISG, trong đó có các quy định liên 9 i quan đến các biện pháp khắc phục đối với việc không thực hiện đúng hợp đồng. Việc phân tích các quy định của CISG đã cho thấy các biện pháp được xây dựng mang bản chất hướng đến việc thực hiện hợp đồng, nhưng cũng đồng thời có tính đến yếu tố đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên.
Trong đó, các quy định của CISG về biện pháp BTHĐHĐ được phân tích, đánh giá chi tiết, gắn với việc phân tích các vụ việc được cập nhật vào thời gian đó. Nếu được nghiên cứu đồng thời với các tài liệu khác, công trình này là một nguồn tham khảo bổ trợ, hướng đến việc giải thích và áp dụng thống nhất pháp luật của các quốc gia thành viên. Treitel đã công bố công trình nghiên cứu dưới hình thức là một cuốn sách tham khảo “Remedies for Breach of Contract: A Comparative Account” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Các biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng: Một nghiên cứu so sánh”) (NXB Oxford, Clarendon Press, năm 1988). Biện pháp BTHĐHĐ được tác giả này nghiên cứu và phân tích ở Chương 3.
Trong phần này, tác giả nghiên cứu cơ sở của biện pháp BTHĐHĐ và sự khác biệt trong cách thức biện pháp này được áp dụng theo quy định của pháp luật Đức, Pháp, Anh, và các nước có xu hướng dung hòa giữa các mô hình này. Thông qua đó, tác giả này cũng đã đề cập và phân tích sự ảnh hưởng từ các cách tiếp cận khác nhau đến việc đặt nền tảng cho sự tồn tại của biện pháp BTHĐHĐ, lấy việc thực hiện đúng các nghĩa vụ của hợp đồng làm cơ sở và hướng đến việc duy trì hiệu lực của hợp đồng. Bên cạnh đó, NCS cũng nhận thấy nhiều bài viết được công bố liên quan đến biện pháp BTHĐHĐ, tiêu biểu như: Năm 2011, các tác giả Daniel Markovits và Alan Schwartz đã công bố bài viết “The Myth of Efficiency Breach: New Defenses of the Expectation Interest” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Học thuyết vi phạm hiệu quả: Những biện pháp bảo vệ mới đối với lợi ích được mong đợi”) đăng trên Tạp chí Virginia Law Review, Volume 97 (2011). Bài viết chủ yếu đề cập đến cơ chế bảo vệ giá trị lợi ích mà bên bị vi phạm mong đợi từ việc hợp đồng được thực hiện thông qua việc cho phép bên này yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền được xác định tương ứng với giá trị của lợi ích bị xâm phạm.
Bài viết có giá trị tham khảo nhất định khi nghiên cứu về cách thức áp dụng biện pháp BTHĐHĐ và bồi thường thiệt hại nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên và tối ưu hóa giá trị lợi ích khi việc thực hiện hợp đồng được đặt trong các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Bài viết “Economic Aspects of Damages and Specific Performance” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Các khía cạnh kinh tế của bồi thường thiệt hại và buộc thực hiện đúng hợp đồng”) của tác giả Daniel Friedmann, công bố trong quyển sách “Contract Damages – Domestic and International Perspectives” do nhóm tác giả 10 i Djakhongir Saidov và Ralph Cunnington chủ biên (NXB Hart Publishing, năm 2008). Bài viết này chủ yếu đề cập đến việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ và bồi thường thiệt hại nhìn từ góc độ kinh tế, có tính đến yếu tố cân bằng lợi ích của các bên, nhằm đặt bên bị vi phạm vào vị trí không có sự khác biệt nào so với việc hợp đồng được thực hiện đúng (nguyên tắc không có sự khác biệt). Theo đó, tác giả phân tích các trường hợp mà việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ là cần thiết nhằm đảm bảo nguyên tắc không có sự khác biệt.
Tuy nhiên, trong trường hợp việc thực hiện đúng hợp đồng dẫn đến hệ quả không phù hợp với nguyên tắc thiện chí, đòi hỏi bên vi phạm phải chịu khoản chi phí bất hợp lý quá mức so với lợi ích mà bên bị vi phạm đạt được, thì không thể buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng, mà thay vào đó là việc bồi thường cho bên bị vi phạm, bù đắp cho bên này giá trị lợi ích sẽ nhận được như khi hợp đồng được thực hiện đúng. Eisenberg có bài viết “Actual and Virtual Specific Performance, the Theory of Efficient Breach, and the Indifference Principle in Contract Law” (tạm dịch ra tiếng Việt là “Buộc thực hiện đúng hợp đồng trực tiếp và gián tiếp, Học thuyết vi phạm hiệu quả và Nguyên tắc không có sự khác biệt trong luật hợp đồng”) đăng trên Tạp chí California Law Review, Volume 93 (2005). Bài viết phân tích về cơ sở áp dụng học thuyết VPHQ và vấn đề tối ưu hóa về lợi ích. Theo đó, việc tối ưu hóa về lợi ích có thể đạt được từ việc bên vi phạm được (i) quyết định thực hiện hợp đồng hoặc (ii) chọn việc bồi thường thiệt hại thay cho việc thực hiện hợp đồng.