chương 1 này, Chiaki Takagi không né tránh một thực tế “đáng xấu hổ” mà Nhật Bản đã từng trải qua trong quá khứ. Tác giả cho rằng: các kinh nghiệm, hiểu biết về chiến tranh trong lịch sử hiện đại Nhật Bản thường được miêu tả như là một câu chuyện về nỗ lực của các nạn nhân chiến tranh để xây dựng 13 lại đất nước từ đống tro tàn. Trong đó, “Hiroshima thường được coi là một khởi đầu mới. Nó giống như quả bom hạt nhân đã xóa hoàn toàn thời kỳ xâm lược thuộc địa của Nhật Bản.
Hơn nữa, có thể cho rằng Nihonjinron (Lý thuyết Nhật Bản), xuất hiện từ nhu cầu về một bản tường thuật tổng thể tích cực, để hồi phục từ phức cảm thấp kém trước phương Tây và ý thức tội lỗi đối với các thuộc địa cũ của Nhật Bản ở Châu Á” [137,5]. Tác giả còn chỉ ra rằng trong các tiểu thuyết của mình, Murakami sử dụng các kĩ thuật hậu hiện đại để miêu tả cuộc đấu tranh quyền lực giữa các phe đối lập nhị nguyên: Đông – Tây, truyền thống – hiện đại, hệ thống – cá nhân tạo nên một không gian văn hóa độc đáo và xa hơn, cố gắng “viết lại lịch sử hiện đại Nhật Bản từ góc độ mới” [137,6]; cũng như “Murakami coi lịch sử là chìa khóa cho các cá nhân sau chiến tranh để xác định cá tính của họ trong xã hội có kiểm soát” [137,6]. Trong chương 2, Murakami’s Modernity: Is the “Post”- in the Postwar the “Post” in Postmodern? (Tính hiện đại của Murakami: là “hậu” - trong hậu chiến, “hậu” trong hậu hiện đại?), tác giả tiếp tục đi sâu tìm hiểu về quá trình hiện đại hóa diễn ra ở Nhật Bản chủ yếu trong giai đoạn Meiji (1868 - 1912), với những thay đổi về văn hóa (công nghiệp hóa - quốc tế hóa); quá trình Nhật Bản tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới II như một cường quốc. Đồng thời, tác giả quan tâm đến một sự kiện được trở đi trở lại trong tiểu thuyết của Murakami như một kí ức không được phép nhắc đến trong lịch sử hiện đại Nhật Bản – phong trào Zenkyoto.
“Xem xét những tác phẩm đầu của ông được viết trong những năm 1960 và 1970 và trong suốt các tác phẩm của mình, nhiều nhân vật chính quan tâm sâu sắc đến sự thất bại của phong trào Zenkyoto vào những năm 1960” [137,42]. Sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 1960 cho phép mọi người tự hào về nhân dạng tầng lớp trung lưu mới, tuy nhiên cũng có những cuộc đấu tranh chính trị và cuộc biểu tình phản đối được tổ chức để phản đối hiệp định An ninh Hoa Kỳ - Nhật Bản cũng như phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Zenkyoto thường được biểu trưng cho những cuộc nổi loạn lớn ở các trường đại học, cuối cùng nó đã trở thành một phong trào chung chống lại Hệ thống. Tác giả cho rằng sự kiện lịch sử này đóng một vai trò quan trọng trong cốt truyện của tiểu thuyết Murakami, xem nhà văn là “một phát ngôn viên tiềm năng cho các thành viên trẻ tuổi của phong trào Zenkyoto cuối những năm 1960” [137,42].
Bóng dáng của phong trào này xuất hiện trong bộ ba tiểu thuyết của Murakami (Lắng nghe gió hát, Rừng Na Uy, Biên niên kí chim vặn dây cót) như là một ảo tưởng về tự do của cá nhân chống lại Hệ thống sau thế chiến. 14 Down the Well: Embedded Narratives and Japanese War Memory in Murakami (Xuống giếng: Tự sự lồng khung và kí ức chiến tranh Nhật Bản của Murakami, 2017) là luận án của Bridget Sellers nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Murakami, đồng thời quan sát cách ông xây dựng các câu chuyện lịch sử đối lập giữa cá nhân với nhà nước Nhật Bản. Qua kĩ thuật truyện trong truyện này, Murakami muốn “tái tạo, đọc lại và ghi nhớ lịch sử cẩn thận” theo cách riêng, bởi ông “không bao giờ có thể thừa nhận cho sự lãng quên”. Luận án đã nêu bật các sự kiện lịch sử cụ thể mà tác phẩm của Murakami tham khảo và đánh giá về lập trường chính trị cũng như hiểu biết của nhà văn về kí ức chiến tranh Nhật Bản.
Tác giả cho rằng: “Những câu chuyện phản đối của Murakami ngụ ý rằng Nhật Bản đang lãng quên cam kết của nhà nước với những người dân vô tội. Vấn đề về kí ức chiến tranh ở Nhật Bản phức tạp hơn là quên và nhớ. công trình của Murakami đem lại cơ hội đánh giá lại sự đạo đức giả của lịch sử quốc gia hàng năm vẫn kỉ niệm sự tàn bạo của Hirishima và Nagasaki nhưng vẫn đề cập đến vụ thảm sát người dân Trung Quốc ở Nam Kinh như một sự cố” [126,7]. Bridget Sellers khẳng định: “Bằng cách nhấn mạnh bạo lực áp đảo xảy ra ở Nam Kinh, Murakami sắp xếp văn bản của ông bên cạnh cuộc tranh luận, xem xét đó là “vụ thảm sát” chứ không phải là “sự cố” [126,20].
Tác giả còn đi sâu phân tích sự quan tâm của Murakami dành cho các sự kiện lịch sử khác xung quanh việc khai thác của Nhật Bản ở Mãn Châu, sự kiện Nomonhan. Bridget Sellers cho rằng các nhân vật bước ra khỏi cuộc chiến như Mayami, Honda với những câu chuyện kể về đời mình sẽ “tiếp tục soi sáng sự phi lý và bạo lực xảy ra vì sự hiện diện của Nhật Bản trên lục địa”. Qua những phân tích và kiến giải sắc sảo, tác giả khẳng định việc Murakami tái hiện quá khứ bạo lực của Nhật Bản trong một nỗ lực là để hiểu, hoặc ít nhất là giải phóng chấn thương đó, để tìm kiếm bản sắc của những cá nhân bị lẫn lộn, mất kết nối với quá khứ văn hóa và lịch sử nguồn cội [126]. Hành trình tìm kiếm bản sắc và sự kết nối quá khứ này còn được Murakami tập trung phản ánh qua hình ảnh lịch sử Nhật Bản thời hậu chiến.
Đó là giai đoạn những năm 60 - 70 của thế kỉ XX, Nhật Bản bước vào giai đoạn bùng nổ kinh tế, kèm theo là sự khủng hoảng về mọi mặt. Tuy Nhật Bản vươn lên trở thành một cường quốc, “một Châu Âu trong lòng Châu Á”, nhưng đổi lại sự khôi phục và phát triển này là sự khủng hoảng trong đời sống chính trị - xã hội [127]. Nhân vật của Murakami luôn là những con người rơi vào trạng thái bất định, hoang mang. trước những đổ vỡ của nhiều giá trị truyền thống.
Mối quan hệ nền tảng trong mỗi con 15 người là gia đình, bạn bè. hầu như mờ nhạt trong kí ức của thế hệ trẻ những năm 60 - 70 đó. Họ lớn lên và định hình nhân cách trong một xã hội méo mó và hỗn độn. Trong bài viết, Murakami Haruki and The History Memory of East Asia (Murakami Haruki và ký ức lịch sử của Đông Á) (2010), Jiwoon Baik tập trung phân tích logic nội tại của “hiện tượng Haruki” như một hiện tượng văn hóa công cộng Đông Á hiện nay.
Đặc biệt, tác giả luận bàn cách Haruki tìm kiếm phương pháp chữa bệnh cho “thập niên 1960” của Nhật Bản, bao gồm cả bản thân Haruki, thông qua phân tích các tiểu thuyết Rừng Na Uy (1987) và Kafka trên bờ biển (2002). Trong quá trình phân tích, tác giả cho rằng Haruki đã từ bỏ nhiệm vụ “hòa giải với những năm 1960”, thay vì đối diện trực tiếp, ông coi việc “hòa giải với những năm 1960” là một cái gì đó vượt quá khả năng của một cá nhân. Jiwoon Baik sử dụng cụm từ “nỗi hoài cổ của sự đánh mất quốc tịch” (the nostalgia of loss of nationality) để mô tả hiện tượng văn hóa kỳ lạ của những độc giả Đông Á khao khát những năm 1960 trong tiểu thuyết của Murakami, như thể đây là quá khứ của chính họ, mặc dù những ký ức quốc gia là rất khác nhau [87]. Việc đề cập vai trò của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách là người xâm lược và bị xâm lược qua các chuyên luận, cũng như qua phân tích các sự kiện lịch sử trong các tiểu thuyết: Cuộc săn cừu hoang (Chiến tranh Trung – Nhật), Kafka bên bờ biển, Biên niên kí chim vặn dây cót (trận Nomonhan ở Mãn Châu, tham vọng trở thành Đại Đông Á)., các nhà nghiên cứu đã đem đến cho người đọc một góc nhìn chân thực, đa chiều về văn hóa, lịch sử, xã hội Nhật Bản từ quá khứ đến hiện tại, từ đó góp phần khẳng định những đóng góp to lớn của Murakami, nhà văn được vinh danh là “người khổng lồ của văn học hậu chiến thế giới”.
Thứ ba, hướng Phê bình hậu hiện đại (Postmodern Criticism) xem xét đánh giá tiểu thuyết Murakami dưới góc nhìn của lý thuyết hậu hiện đại. Những công trình này tập trung nghiên cứu phong cách sáng tạo độc đáo của Murakami cũng như đóng góp mới mẻ của nhà văn cho nền văn học hậu hiện đại. Trong luận án Literature’s Postmodern Condition: Representing the Postmodern in the Translated Novel (Điều kiện hậu hiện đại của văn học: Thể hiện hậu hiện đại trong tiểu thuyết dịch, 2014), Deirdre Flynn cung cấp một cách đọc mới về văn bản của Murakami qua thấu kính hậu hiện đại. Thông qua việc khám phá cả tư tưởng hậu hiện đại phương Đông và phương Tây, luận án này chứng minh việc định vị Murakami là một nhà văn hậu hiện đại không ảnh hưởng đến định kiến 16 phương Đông hay phương Tây và hậu hiện đại không thể được xác định chính xác cho một vị trí không gian hoặc thời gian cụ thể, nhưng đó là một mô hình phát triển và tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới.
Deirdre Flynn đã phân tích các quan điểm hậu hiện đại của Murakami về bản sắc, kết nối và sáng tạo nhằm giúp người đọc hiểu biết sâu sắc hơn về phong cách nghệ thuật của nhà văn. Tác giả cho rằng: “Những nhân vật chính của ông biết những đau khổ, hạnh phúc, và họ thực hiện một cuộc hành trình đến trung tâm nhận dạng của họ, mà có thể không bao giờ đạt được. Tác phẩm của ông vừa có tính liên kết quốc tế, vừa là đại diện cho Nhật Bản đương đại, góp phần quan trọng vào một nền văn học hậu hiện đại toàn cầu. Các cuốn sách của ông được quốc tế công nhận là có ý nghĩa đối với một xã hội hậu hiện đại đa văn hóa” [99,77].
Tóm lại, luận án này cố gắng làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về Murakami và chủ nghĩa hậu hiện đại như một hiện tượng văn hóa và trí tuệ. Beyond “Pure Literature”: Mimesis, Formula, and the Postmodern in the Fiction of Murakami (Đằng sau “văn chương thuần túy”: Sự mô phỏng, công thức và hậu hiện đại trong tiểu thuyết Murakami) là bài viết của Matthew C. Strecher đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Á, năm 1998.