Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được chia làm 04 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung và tổng quan về làng dệt Phương La Chƣơng 2: Nghề dệt và văn hóa vật chất của làng Phương La hiện nay Chƣơng 3: Văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng dệt Phương La hiện nay Chƣơng 4: Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu biến đổi văn hóa làng dệt Phương La. 19 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG DỆT PHƢƠNG LA 1. Những vấn đề lý luận chung 1. Một số khái niệm dùng trong Luận án 1.
Làng nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công hiện đại - Làng nghề: từ xưa đến nay, khi nói đến làng nghề, thông thường ai cũng hiểu là làng làm các nghề tiểu - thủ công. Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm về làng nghề, làng nghề thủ công truyền thống nhưng chưa có sự thống nhất. Tác giả Lưu Thị Tuyết Vân, trong bài viết “Một số vấn đề về làng nghề ở nước ta hiện nay” đưa ra định nghĩa: “Làng nghề là một làng có nghề tiểu - thủ công đã từng tồn tại trong lịch sử hoặc một thời gian nhất định, có sản phẩm hàng hóa nổi tiếng hoặc có khối lượng hàng hóa lớn có vai trò nhất định đối với thị trường trong nước và quốc tế, có số đông người trong làng cùng làm một hoặc nhiều nghề, dân làng sống chủ yếu bằng các nghề đó”[114, tr. Trong Tổng quan về nghề và làng nghề truyền thống ở Việt Nam, nhóm tác giả mà chủ biên là Trương Minh Hằng cũng đã thống nhất và đưa ra định nghĩa về làng nghề, theo đó định nghĩa được trình bày như sau: “Theo cách định nghĩa trong dân gian, một nghề có “thâm niên” và tỉ lệ người làm nghề (ở trong làng) cao, thu nhập từ nghề là nguồn thu chính, tên làng dần dần gắn với tên nghề.
thì được gọi là làng nghề” [42, tr. Định nghĩa trên nhấn mạnh nghề tồn tại từ rất lâu, tạo ra sản phẩm có tên tuổi. Trong làng, có nhiều người tham gia làm nghề và sống chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập từ nghề. Nhiều làng nghề, người dân đã quen với cách gọi tên nghề thay cho tên làng.
Như vậy, các tác giả cùng các công trình nghiên cứu đều khẳng định làng nghề phải là làng sản xuất tiểu - thủ công, có số đông người trong làng cùng làm 20 nghề, có nguồn thu nhập chính từ làm nghề. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đề cập tới khả năng các làng đó có thể chỉ tiến hành thực hiện một công đoạn của nghề. Chắt lọc những điểm chung và riêng từ các định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng: Làng nghề là làng có phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công (có khi chỉ là một công đoạn của nghề) tạo ra các sản phẩm mang tính cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các hoạt động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh hưởng lớn đến các mặt khác của làng (kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống, thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán. Bên cạnh các đặc điểm chung của làng Việt (với đại đa số là làng nông nghiệp), các làng nghề có những nét khác biệt: hoạt động làm nghề là chính, do vậy, thu nhập từ nghề là chủ đạo và cao hơn, ổn định hơn so với cư dân các làng nông nghiệp; nhịp độ lao động, nhịp sống trong các làng nghề sôi động hơn, tính theo số ngày trong năm và số giờ trong ngày; kết cấu hạ tầng, nhà cửa, hệ thống đình, chùa, đền miếu, nếp sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội nhìn chung bề thế và quy củ hơn, do dân làng có điều kiện kinh tế để đóng góp xây dựng; quan hệ, giao lưu, giao tiếp của người các làng nghề được mở rộng, do hoạt động nghề nghiệp; người các làng nghề truyền thống sớm hình thành một số đức tính tốt đẹp, như tính kiên nhẫn, tính toán, tiết kiệm, tính trung thực trong làm ăn, giao tiếp, chú trọng chữ tín, nhằm bảo đảm nguồn lợi thường xuyên, ổn định và lâu dài, niềm tự hào với nghề nghiệp, với quê hương, tạo ra lòng yêu nghề, yêu quê và gắn bó với quê hương của người thợ thủ công.
- Làng nghề truyền thống: cũng theo tác giả Lưu Thị Tuyết Vân: “Các làng nghề truyền thống trước hết phải là một làng nghề nhưng đã có lịch sử tồn tại lâu đời, đến nay vẫn sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng truyền thống có giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế. Tác giả Dương Bá Phượng dựa vào tính chất và số lượng nghề để phân loại làng nghề, tác giả chia làng một nghề, làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống. 21 Theo tác giả: “làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại cho đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm” [85, tr. Các cách định nghĩa trên cơ bản đã đưa ra vấn đề cốt lõi của làng nghề truyền thống, trước tiên phải là làng nghề và nhấn mạnh làng nghề đó tồn tại đã từ rất lâu, sản phẩm có thương hiệu, uy tín trên thị trường.
Trên cơ sở nhận thức định nghĩa về làng nghề truyền thống của các tác giả trên, chúng tôi quan niệm, làng nghề truyền thống là làng có nghề thủ công hình thành từ lâu đời, đến nay nghề còn duy trì hoặc rất phát triển, vẫn sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng truyền thống. Khái niệm “Làng nghề truyền thống” trong Luận án, xét trên phương diện kinh tế là nghề có kỹ thuật thủ công; xét trên phương diện xã hội và văn hóa, gắn với cơ cấu tổ chức xã hội và các giá trị văn hóa của làng Việt được hình thành và tồn tại trong xã hội truyền thống. Ngày nay, nhiều làng nghề truyền thống vẫn tồn tại, song nghề đã có những thay đổi về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, loại hình sản phẩm. Sự thay đổi này của nghề đã tác động đến nhiều mặt của làng.
- Làng nghề thủ công hiện đại là làng có các nghề mới được nhân cấy. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, cả hai loại hình làng nghề truyền thống và làng nghề hiện đại ngày nay có chung các đặc điểm sau: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt ba tiêu chí sau: 1/ Nghề xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm được công nhận; 2/ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; 22 3/ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Tại tỉnh Thái Bình, ngày 31 tháng 3 năm 2006, UBND tỉnh ra Quyết định số 29/ 2006/ QĐ- UBND "Quyết định V/v Ban hành Quy định tiêu chuẩn làng nghề"[110, tr.
3], làng nghề có các tiêu chí sau: 1. Chấp hành tốt các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của tỉnh và địa phương. Trong làng, số lao động quy đổi làm nghề công nghiệp - thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đạt từ 50% trở lên hoặc 30% số hộ. Giá trị sản xuất làng nghề chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng.
Có hình thức tổ chức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái theo quy định hiện hành. “Làng nghề truyền thống phải đạt các tiêu chuẩn như Điều 3 và phải là làng nghề sản xuất lâu đời có ít nhất từ 50 hộ trở lên hoặc 1/3 (một phần ba) tổng số hộ cùng làm một nghề truyền thống, có thu nhập ổn định”. Văn hóa làng nghề Đến nay, có một quan niệm phổ biến cho rằng, văn hóa làng nghề gồm hai yếu tố “Văn hóa làng” và “Văn hóa nghề”.
Văn hóa làng có trước, gồm các yếu tố văn hóa vật thể (diện mạo và cấu trúc vật chất làng xã, các di tích thờ cúng…) và văn hóa phi vật thể (cơ cấu tổ chức làng xã, các ứng xử xã hội, lễ hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng…). Văn hóa nghề là các yếu tố liên quan đến nghề (kỹ thuật làm nghề, đặc trưng sản phẩm nghề, tâm lý và tính cách người làm nghề,…). Văn hóa làng nghề là các yếu tố tiêu biểu nhất về vật thể và phi vật thể của một làng được hình thành dưới ảnh hưởng của nghề; gắn với việc sản xuất, sinh sống bằng một hay một số nghề [108, tr. 23 Tác giả Đinh Thị Vân Chi cũng có quan điểm gần như quan niệm trên khi cho rằng, văn hóa làng nghề là một dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung.
Ngoài các yếu tố chung của văn hóa làng Việt, văn hóa làng nghề có một số yếu tố đặc thù, như kiến thức nghề, trình độ tay nghề, đạo đức nghề, thái độ hành nghề,. Tác giả Vũ Quốc Tuấn xác định văn hóa làng nghề có ba bộ phận chính là văn hóa tổ chức (hay cơ cấu tổ chức), văn hóa vật thể (các sản phẩm nghề, các thiết chế thờ cúng, các thiết chế văn hóa) và văn hóa phi vật thể (các phong tục, lễ hội, việc dạy nghề, truyền nghề…) [104, tr. Định nghĩa đã chỉ ra được yếu tố quan trọng nhất là nghề trong văn hóa, hay tác động của việc làm nghề tới các khía cạnh của làng và của văn hóa. Tác giả Lâm Bá Nam trong bài viết gần đây trên Tạp chí Dân tộc học, tuy không đưa ra một khái niệm về làng nghề, song, xuyên suốt toàn bộ bài viết, tác giả Lâm Bá Nam đã giúp cho chúng ta hiểu khía cạnh khác của văn hóa làng nghề, đó là những đặc điểm của yếu tố nghề trong văn hóa tạo nên diện mạo làng.
Như vậy, các tác giả đều đã đưa ra được định nghĩa về văn hóa làng nghề, đó là một kiểu loại văn hóa làng, có những đặc trưng của yếu tố nghề, chịu tác động của nghề. Mỗi cách định nghĩa đều khai thác được những khía cạnh mang tính đặc trưng của làng nghề.