Luận án tiến sĩ bạo lực gia đình và sức khỏe của thai phụ trẻ sơ sinh tại huyện đông anh hà nội năm 2014 2015

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bạo lực gia đình và ảnh hưởng đến sức khỏe thai phụ, trẻ sơ sinh tại huyện Đông Anh, Hà Nội giai đoạn 2014-2015.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

156
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số định nghĩa

1.2. Định nghĩa sinh non và sinh nhẹ cân

1.3. Một số định nghĩa về bạo lực

1.4. Cách thức xác định và phân loại bạo lực

1.5. Một số khung lý thuyết

1.6. Thực trạng bạo lực đối với thai phụ

1.7. Tỷ lệ bạo lực đối với thai phụ trên thế giới

1.8. Tỷ lệ bạo lực đối với thai phụ tại Việt Nam

1.9. Các yếu tố liên quan đến bạo lực đối với thai phụ

1.10. Ảnh hưởng của bạo lực đối với sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh

1.11. Tác hại của bạo lực đối với sức khỏe thai phụ

1.12. Tác hại của bạo lực đến sức khỏe trẻ sơ sinh

1.13. Hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ và sự hỗ trợ đối với các thai phụ bị bạo lực do chồng

1.14. Hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ của các thai phụ bị bạo lực

1.15. Sự hỗ trợ đối với thai phụ bị bạo lực

1.16. Tổng quan về huyện Đông Anh

1.17. Một số khoảng trống và sự cần thiết tiến hành nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Thiết kế nghiên cứu định lượng

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Cỡ mẫu và chọn mẫu

2.6. Kỹ thuật thu thập và quá trình thu thập số liệu

2.7. Điều tra viên

2.8. Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.9. Bộ câu hỏi phỏng vấn

2.10. Hạn chế sai số

2.11. Quản lý và phân tích số liệu

2.12. Thiết kế nghiên cứu định tính

2.13. Đối tượng nghiên cứu

2.14. Chọn mẫu và cỡ mẫu

2.15. Quá trình thu thập số liệu

2.16. Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.17. Công cụ nghiên cứu định tính

2.18. Phân tích số liệu

2.19. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Thông tin chung về mẫu nghiên cứu

3.2. Thực trạng bạo lực do chồng đối với thai phụ và các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội có liên quan

3.3. Tỷ lệ và tần suất thai phụ bị bạo lực do chồng

3.4. Phân tích một số yếu tố kinh tế-văn hóa-xã hội liên quan đến bạo lực do chồng trên thai phụ

3.5. Mối liên quan giữa bạo lực do chồng trong quá trình mang thai với sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh

3.6. Mối liên quan giữa bạo lực do chồng trong quá trình mang thai và sức khỏe của thai phụ

3.7. Mối liên quan giữa bạo lực do chồng trong quá trình mang thai và sức khỏe của trẻ sơ sinh

3.8. Hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ của các thai phụ bị bạo lực do chồng và sự hỗ trợ đối với các thai phụ bị bạo lực do chồng

3.9. Hành vi tìm kiếm dịch vụ hỗ trợ của thai phụ khi bị bạo lực và một số yếu tố liên quan

3.10. Thực trạng hỗ trợ đối với thai phụ bị bạo lực

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng bạo lực do chồng đối với thai phụ và các yếu tố liên quan

4.2. Tỷ lệ bạo lực đối với thai phụ

4.3. Một số yếu tố liên quan đến bạo lực đối với thai phụ

4.4. Mối liên quan giữa bạo lực do chồng trong quá trình mang thai với sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh

4.5. Mối liên quan giữa bạo lực và sức khỏe của thai phụ

4.6. Mối liên quan giữa bạo lực và sức khỏe của trẻ sơ sinh

4.7. Hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ của các thai phụ bị bạo lực do chồng và sự hỗ trợ đối với các thai phụ bị bạo lực do chồng

4.8. Bàn luận về phương pháp

4.9. Thực trạng bạo lực do chồng đối với thai phụ và các yếu tố liên quan

4.10. Mối liên quan giữa bạo lực do chồng trong quá trình mang thai với sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh

4.11. Hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ của các thai phụ bị bạo lực do chồng và sự hỗ trợ đối với các thai phụ bị bạo lực do chồng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bạo lực gia đình và sức khỏe thai phụ

Bạo lực gia đình là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe thai phụtrẻ sơ sinh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bạo lực gia đình bao gồm bạo lực tinh thần, thể xác và tình dục. Nghiên cứu tại Đông Anh, Hà Nội giai đoạn 2014-2015 cho thấy tỷ lệ thai phụ bị bạo lực dao động từ 2% đến 57%, tùy thuộc vào khu vực và điều kiện kinh tế xã hội. Bạo lực gia đình không chỉ gây tổn thương tâm lý mà còn dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như sinh non, sinh nhẹ cân, và thậm chí tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.

1.1. Định nghĩa và phân loại bạo lực gia đình

Theo WHO, bạo lực gia đình được chia thành ba loại chính: bạo lực tinh thần, thể xác và tình dục. Bạo lực tinh thần bao gồm các hành vi như chửi bới, đe dọa, làm nhục. Bạo lực thể xác liên quan đến các hành vi đánh đập, gây thương tích. Bạo lực tình dục là việc ép buộc quan hệ tình dục ngoài ý muốn. Nghiên cứu tại Đông Anh sử dụng bộ câu hỏi chuẩn để xác định các loại bạo lực này, đảm bảo tính chính xác và khách quan.

1.2. Ảnh hưởng của bạo lực đến sức khỏe thai phụ

Bạo lực gia đình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe thai phụ. Thai phụ bị bạo lực có nguy cơ cao bị trầm cảm, sẩy thai, thai chết lưu, và các biến chứng thai kỳ khác. Nghiên cứu tại Hà Nội chỉ ra rằng, thai phụ bị bạo lực có tỷ lệ sinh non và sinh nhẹ cân cao hơn so với nhóm không bị bạo lực.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượngnghiên cứu định tính để đánh giá tác động của bạo lực gia đình đối với sức khỏe thai phụtrẻ sơ sinh. Đối tượng nghiên cứu là các thai phụ tại Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn 2014-2015. Kết quả cho thấy, tỷ lệ thai phụ bị bạo lực do chồng là 35%, trong đó bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao nhất.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu 500 thai phụ. Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi chuẩn, đảm bảo tính bảo mật và riêng tư. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với 20 thai phụ bị bạo lực để hiểu rõ hơn về hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ.

2.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bạo lực gia đình có mối liên quan chặt chẽ với các vấn đề sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh. Thai phụ bị bạo lực có nguy cơ sinh non cao gấp 2 lần và sinh nhẹ cân cao gấp 1.5 lần so với nhóm không bị bạo lực. Ngoài ra, chỉ 20% thai phụ bị bạo lực tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội.

III. Bàn luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng khoa học về tác động tiêu cực của bạo lực gia đình đối với sức khỏe thai phụtrẻ sơ sinh. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chính sách và chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình tại Việt Nam.

3.1. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện tác động của bạo lực gia đình đối với sức khỏe thai phụtrẻ sơ sinh. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách về vấn đề này.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình can thiệp tại cộng đồng, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn như Đông Anh. Các chương trình này nên tập trung vào việc nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình, hỗ trợ tâm lý cho thai phụ, và tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ bạo lực gia đình và sức khỏe của thai phụ trẻ sơ sinh tại huyện đông anh hà nội năm 2014 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bạo lực đối với phụ nữ là một vấn đề sức khỏe y tế công cộng mang tính toàn cầu. Trong đó, chồng là đối tượng chính gây nên bạo lực đối với phụ nữ [1],[2]. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bạo lực do chồng đối với phụ nữ bao gồm: bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục. Theo một báo cáo gần đây của WHO, 35% phụ nữ bị bạo lực do chồng trong cuộc đời bao gồm bạo lực thể xác và tình dục [3].

Thai phụ là đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương với tỷ lệ bị bạo lực dao động từ 2% đến 57% tùy thuộc vào mỗi quốc gia [4],[5]. Phụ nữ khi mang thai phải chịu bạo lực sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe của họ và thai nhi, họ có nguy cơ trầm cảm, sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, sinh nhẹ cân thậm chí trong một số trường hợp nặng còn có nguy cơ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh [1],[6]. Một số nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ bạo lực đối với thai phụ bao gồm: thai phụ trẻ tuổi [7],[8],[9],[10]; thai phụ có trình độc học vấn thấp[7], [10],[11]; thai phụ thất nghiệp [7],[9],[10],[12] hoặc sống trong các hộ gia đình có thu nhập thấp hay sống tại các vùng nông thôn [7],[12]. Một số yếu tố nguy cơ từ phía chồng cũng được tìm ra như: chồng trẻ tuổi, trình độc học vấn thấp, thất nghiệp, nghiện rượu [7],[8],[10],[11].

Các nghiên cứu cũng chỉ ra những phụ nữ được hỗ trợ từ phía gia đình, bạn bè hoặc các tổ chức xã hội có thể làm giảm nguy cơ bị bạo lực trong quá trình mang thai [13],[14]. Theo WHO, sinh non được định nghĩa khi trẻ được sinh sau 22 tuần và trước 37 tuần thai; sinh nhẹ cân được định nghĩa là cân nặng khi sinh của trẻ nhỏ hơn 2500g [15]. Đây được xem là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sơ sinh và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sau này của trẻ [15],[16]. Một số nghiên 2 cứu trên thế giới đã tìm hiểu mối liên quan giữa bạo lực đối với thai phụ và sức khỏe của trẻ sơ sinh.

Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang hoặc bệnh chứng sử dụng phương pháp thu thập số liệu dựa vào bệnh viện và được thực hiện tại Châu Phi hoặc Châu Mỹ. Các nghiên cứu này gợi ý cần có một thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc với cỡ mẫu lớn được thực hiện tại cộng đồng, kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm xem xét đến mối liên quan giữa các loại bạo lực trong quá trình mang thai và sức khỏe của thai phụ cũng như nguy cơ sinh non/sinh nhẹ cân [12],[17],[18],[19]. Tại Việt Nam 63.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm và gần 50% trong số đó là tử vong sơ sinh. Trong đó, 50% nguyên nhân tử vong sơ sinh được biết đến là sinh non/sinh nhẹ cân và các biến chứng của sinh non/sinh nhẹ cân [20].

Nghiên cứu quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 cũng chỉ ra rằng 58% phụ nữ phải chịu một loại bạo lực trong đời (bạo lực tinh thần: 54%; thể xác: 32%; tình dục: 10%) [21]. Việt Nam cũng đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình vào năm 2007 và Chính phủ cũng thông qua chiến lược quốc gia về phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2015-2020. Tuy nhiên thực trạng việc thực hiện chiến lược quốc gia về phòng chống bạo lực gia đình còn nhiều hạn chế. Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản hiểu rõ sức khỏe của thai phụ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi, tuy nhiên vai trò của bạo lực ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của thai phụ và thai nhi còn chưa được biết đến.

Nhưng thai phụ bị bao lực đang chăm sóc bản thân và chăm sóc tiền sản như thế nào, họ tìm kiếm sự hỗ trợ và thực trạng hỗ trợ từ phía cộng đồng vẫn còn là câu hỏi đối với 3 những nhà quản lý chính sách. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài này với các mục tiêu. Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định tỷ lệ thai phụ bị bạo lực (tinh thần/thể xác/tình dục) do chồng và một số yếu tố kinh tế văn hóa xã hội liên quan trên thai phụ tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014-2015.

Xác định mối liên quan giữa bạo lực do chồng với sức khỏe của thai phụ và nguy cơ sinh non/sinh nhẹ cân ở những thai phụ này. Mô tả hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ và thực trạng hỗ trợ đối với những thai phụ bị bạo lực do chồng nói trên. 4 1 Chƣơng 1 2 TỔNG QUAN 1.1 Một số định nghĩa 1.1 Định nghĩa trẻ sinh non và trẻ sinh nhẹ cân Theo WHO, sinh non được định nghĩa khi trẻ được sinh sau 22 tuần và trước 37 tuần. Trẻ sinh non có nguy cơ bị các bệnh bại não, khuyết tật phát triển, khiếm thính và khiếm thị cao hơn.

Trẻ sinh non càng sớm thì các nguy cơ trên càng cao. Sinh nhẹ cân được định nghĩa là cân nặng khi sinh của trẻ nhỏ hơn 2500g. Trẻ có cân nặng lúc sinh giữa 1.499g gọi là trẻ rất nhẹ cân, và trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 1.000g là trẻ cực nhẹ cân. Những trẻ này có thể đủ tháng hoặc non tháng; Bình thường hoặc có dị tật bẩm sinh [15].2 Một số định nghĩa về bạo lực Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ (1993) đã định nghĩa bạo lực đối với phụ nữ là “bất kỳ hành vi bạo lực trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có thể dẫn đến tổn hại về thể xác, tình dục hoặc tâm thần hoặc gây đau khổ cho phụ nữ, kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, áp bức hoặc độc đoán tước bỏ tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” [22].

Theo Tổ chức Y tế thế giới, bạo lực đối với phụ nữ bao gồm: bạo lực tinh thần, thể xác, tình dục [2]. Bạo lực tinh thần được xác định bằng những hành động hoặc đe dọa hành động như: chửi bới, kiểm soát, hăm dọa, làm nhục và đe dọa nạn nhân. Bạo lực thể xác được định nghĩa là một hoặc nhiều hành động tấn công có chủ ý về thể xác bao gồm các hành vi như: xô đẩy, tát, ném, giật tóc, cấu 5 véo, đấm, đá hoặc làm cho bị bỏng, dùng vũ khí hoặc có ý định đe dọa dùng vũ khí được thực hiện với khả năng gây đau đớn, thương tích hoặc tử vong. Bạo lực tình dục được định nghĩa là việc sử dụng sức mạnh, cưỡng bức hoặc đe dọa về tâm lý để ép buộc người phụ nữ tham gia quan hệ tình dục ngoài ý muốn của mình, cho dù hành vi đó có thực hiện được hay không.

Định nghĩa về bạo lực gia đình theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam: một thành viên gia đình được coi là bị bạo lực gia đình khi bị một trong các hành vi dưới đây do một thành viên khác trong gia đình gây ra: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. Bạo lực gia đình là một khái niệm có phần trùng với khái niệm bạo lực đối với phụ nữ, song không hoàn toàn giống nhau. Khái niệm này phản ánh nhiều hình thức bạo lực khác nhau của một thành viên hay một nhóm thành viên gia đình đối với một thành viên hay nhóm thành viên khác trong gia đình (chồng-vợ, cha mẹ-con cái, bạo lực của thành viên gia đình nhà chồng/vợ hay bạo lực đối 6 với người cao tuổi). Theo nhiều nghiên cứu, loại hình bạo lực gia đình phổ biến nhất là bạo lực đối với phụ nữ mà thủ phạm là chồng hay bạn tình (bạo lực do bạn tình gây ra), còn được gọi là „đánh vợ‟ hay „ngược đãi vợ‟.

Thuật ngữ „bạo lực gia đình đối với phụ nữ‟ và „bạo lực do bạn tình gây ra‟ thường được dùng lẫn cho nhau [23] và đôi khi gây hiểu nhầm bởi vì bạo lực do bạn tình gây ra chỉ là một biểu hiện của bạo lực gia đình. Bạo lực do chồng hoặc bạn tình gây ra (Intimate partner violence) là các hành vi bạo lực về thể xác hoặc tình dục hoặc tinh thần do chồng hiện tại hoặc bạn trai hiện tại hoặc trước đây gây ra [24]. Bạn tình/chồng là đối tượng gây bạo lực gia đình đối với phụ nữ phổ biến nhất [23]. Tại Việt Nam, nghiên cứu quốc gia về phòng chống bạo lực đã chỉ ra chồng là đối tượng gây bạo lực nhiều nhất đối với phụ nữ.

Trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, trong luận án tiến sĩ này chúng tôi chỉ đề cập đến ba loại bạo lực do chồng gây ra đối với thai phụ là: bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục. Chúng tôi cũng chỉ sử dụng định nghĩa của WHO để định nghĩa 03 loại bạo lực kể trên [23]. [23] Các hành vi bạo lực tinh thần do chồng gây ra: a) Sỉ nhục/lăng mạ vợ hoặc làm cho vợ cảm thấy rất tồi tệ b) Coi thường hoặc làm vợ bẽ mặt trước mặt người khác c) Đe dọa hay dọa nạt vợ bằng bất cứ cách nào như quắc mắt, quát mắng, đập phá đồ đạc d) Dọa gây tổn thương người người vợ yêu quý e) Dọa/đuổi vợ ra khỏi nhà Các hành vi bao lực thể xác do chồng gây ra : (các hành vi từ c đến f được coi là "nghiêm trọng") 7 a) Tát hoặc ném vật gì đó vào vợ làm tổn thương vợ? b) Đẩy hoặc xô thứ gì vào vợ, kéo tóc vợ?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Bạo lực gia đình ảnh hưởng sức khỏe thai phụ và trẻ sơ sinh tại Đông Anh, Hà Nội 2014-2015 là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động tiêu cực của bạo lực gia đình đối với sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh tại khu vực Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn 2014-2015. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ mối liên hệ giữa bạo lực gia đình và các vấn đề sức khỏe mà còn đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện chính sách và dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và những người quan tâm đến vấn đề bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề xã hội và quản lý nhà nước, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh cao bằng, nghiên cứu về các biện pháp phòng ngừa tội phạm ma túy. Ngoài ra, Luận án ts chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố hà nội cung cấp cái nhìn toàn diện về cải thiện chất lượng dịch vụ công. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại cục thuế tỉnh đồng tháp là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về động lực làm việc trong khu vực công.