Chương Il: Các yếu tố cấu thành của các biện pháp cầm cố, thê chấp trình bày các yếu tố không thể thiếu được trong tính khách quan của các biện pháp mà pháp luật quy dinhvé chủ thể tham gia, đối tượng bảo dam, giá trị các đối tượng đó và hình thức xác lập các hợp đồng bao đảm. Chương HE: Nội dung cầm cố, thế chấp. Phân tích nội dụng của hat biện pháp bao dam quan trọng nhật, các quyền và nghĩa vụ của các bên trong các hợp đồng cầm cố, thế chấp. Và những quy định về thế chấp quyền sử dụng đất.
Một chế định mới tronp chuyển quyền sử đụng đất. Kết luận: Tóm tắt kết qua nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện và bổ sung để thực thí tốt những quy định của BLDS về vấn dé bao đảm thực hiện hợp đồng dân sự nói riêng và nghĩa vu dan sự nói chung. Tôi xin chân thành cảm on và mong nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của các đồng chí, các bạn đồng nghiệp. Đặc biệt cảm ơn thầy Đính Văn Thanh PTS luật học đã giúp tôi hoàn thành bản luận án nầy.
Hà nội ngày 10.1996 KHÁI NIÊM CHUNG VỀ BẢO DAM THUC HIẾN NGHĨA VỤ DAN SỰ 1. SƠ LƯỢC LICH SỬ CÁC BIEN PHÁP BẢO DAM. Bao dam thực hiện nghĩa vu din sự phat sinh bởi chính các quan hệ nghĩa vụ dân sự. Do đặc tính của quan hệ nghĩa vụ dan sự là loại quan hệ tương đối, trong đó chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ luôn luôn xác định một cách cụ thể: người có quyền luôn ứng với người có nghĩa vụ cụ thể; người có quyền chỉ có quyền yêu cầu đết với người có nghĩa vụ xác định và ngược lại người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện những hành vi theo yêu cầu của người có quyền: Hơn nữa, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyển trong đó người có quyền chỉ có thể thỏa mãn quyền yêu cầu của mình thông qua hành vĩ của người có nghĩa vụ.
Điều di biệt này khác với các quan hệ vat quyển - trong đó người có quyển có thể thực hiện quyền của mình thông qua hành ví của chính họ. Người có quyển phải thông qua hành vi của người khác để thỏa mãn quyền của mình làm cho các quan hệ nghĩa vụ trở nên phức tạp hơn, đặc biệt đối với người có quyền. Bởi họ không thể thoả mãn quyển của mình nếu người có nghĩa vụ không, thực hiện nghĩa vụ của họ. Mặt khác việc tạo lập nghĩa vụ (chủ yếu thông qua các hợp đồng đân sự) thông qua sự thỏa thuận của các chủ thể đã tao điều kiện cho họ lựa chọn các quan hệ mà họ tham gia.
cách thức tham gia; nội dung các quan hệ mà họ tham gia và cũng không loại trừ trách nhiệm khi các bên tham gia không thực hiện hoặc thực hiện không, đúng nghĩa vụ của họ. Điều đó đã tạo cho người có quyên đối với người có nghĩa vụ không những chỉ về mặt lý thuyết mà còn ở trên thực tế - Họ đã buộc người có nghĩa vụ phải chấp nhận những diéu kiện để họ, có thể bằng hành vi của mình thực hiện, quyền mà không cần phải thông qua hành vi của người khác. Xuất phat từ quan hệ này, trên thực tế- Các luẠt gia từ thời La mã cổ đại đã coi quyển cầm cố là một loại quyền đối với tài sản của người khác. Quyền của một chủ thể đối với tài sản không thuộc sở hữu của họ- là một dang vật quyền, trong đó người có quyển có thể thực hiện quyển thông qua hành vi của chính họ mà không phụ thuộc vào hành vi của người khác.
Quan niệm về cầm cố tài sản của những luật gia La ma cũng như phap luật của nhiều nước trên thê giới dựa trên những kết luận của luật phấp La mã về quyền cầm cố được thể hiện bởi những tiêu chí nhất định. Trong đó phải kể đến những tiêu chí cơ bản sau đây: Đó là một loại quyển dân sự tuyệt đối - bởi nó là dạng vật quyén- Quyển của người nhận cầm cố đối với tài sản cầm cố. Họ có quyền như một chủ sở hữu đối với tài sẵn mà họ nhận cầm cố. Tuy rằng so với chủ sở hữu thực sự của tài sản, họ bị hạn chế hơn bởi chính các điều khoản của hợp đồng cầm cố mà các bên đã thỏa thuận.
Đôi khi những, thỏa thuận này cho phép người nhận cầm cố như là chủ sở hữu có điều kiện đổi với tài sẵn mà họ cầm cố. Bởi người nhận cầm cô có quyền tuyệt đốt, trong đó có quyền theo đuổi đối với vat cầm cố. Mac dù họ không phải là chủ sở hữu dich thực đối với tài sản cầm cố, nhưng, một khi vật đã đem cẩm cố, thì người nhận cầm cố có quyền như một chủ sở hữu với tài san cầm cô, trong đó quyền theo đuổi là quyền đặc trưng. Quyền của chủ nhân đối với một tài sẵn xác định - cho dù tài sẵn đó ở đâu? Hiện ai đang chiếm hữu ? (kể ca chủ sở hữu đích thực của tài sản).
Họ có quyền doi! lại tài sản như chủ sở hữu đòi lại tài san từ người chiếm hữu bất hợp pháp- Họ là người chiếm hữu hợp pháp, trong khi bất cứ ai chiếm hữu (kể cả chủ sở hữu dich thực của tài sản) cũng đều là người chiếm hữu bat hợp pháp (trừ trường, hợp trong thỏa thuận quy định người cầm cô. người thứ ba giữ tài sẵn cẨm cô). Người nhân cầm cố có quyền ưu tiên so với bat cứ người có quyền nào đối với người cầm cố. Người cầm cố có thể là con nợ của "hiểu chủ nợ khác nhau.
Đối với tài sẵn cầm cố, thì người nhận cẩm cố có Lẻ 10 quyền ưu tiên trước bất cứ chủ ng nào. Chỉ họ có quyền thỏa mãn yêu cầu của mình đối với tài sản cầm cố. Thỏa mãn toàn bộ nghĩa vụ đôi ' với tài sản cẩm cố. Điều này được thể hiện qua pháp luật hiện đại với thuật ngữ “Chu nợ có báo dưnn” « - Quyền cầm cố không tôn tại một cách độc lập và riêng rẽ.
Chúng luôn là những nghĩa vụ dẫn xuất và phát sinh từ những nghĩa vụ cụ thể nào đó. Một nghĩa vụ chính và tần tại vì nghĩa vụ chính, do nghĩa vụ chính. Vì vậy nghĩa vụ chính quyết định nghĩa vụ phát sinh từ các biện pháp bảo dam và nguyên tắc khong vượt quá nghĩa vụ được bảo đam Những nguyên tắc chính yếu trên đây được xuyên suốt trong, các nghĩa vụ bảo dam ở thực tế cũng như trong pháp luật của các nước trên thế giới và cả pháp luật Việt nam từ trước đến nay. Tuy nhiên những điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau, những phong tục tập quán khác nhau, những thoi điểm lich sử khác nhau đã làm cho các biện pháp này da dang, phức tap.
Có những biện pháp bao đảm mới này sinh, mất dị ty theo su“ Nidn thức” về pid trị xã hội của các biện pháp đó. Những bien pháp bao dam xuất phát từ chính các quan hệ mà nó cần bao đảm. Pháp luật ghí nhận có chọn lọc và chỉ “Dieu chinh” cic quan hệ đó cho phù hợp với những điều kiện kính tế xã hội và quan trọng hơn cả phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội đó. Những biện pháp này được thể hiện trong Bộ dân luật Pháp 1804, từ điều 1632 đến điều 1679.
Bộ dan luật Nhật bản từ điều 342 đến điều 375. Bộ dân luật Thái lan từ điều 680 đến điều 769. Từ điều 1309 đến 1372 bộ dân luật Bắc. Ở Việt nam từ năm 1945 đến nay vấn để bảo đảm nói chung- thê chấp và cầm cố nói riêng- để cập đều khác nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.
Từ năm 1945, tuy chúng ta đã giành được độc lập nhưng phải tiên hành cuộc kháng chiến chống Pháp, bên cạnh đó Nhà nước mới được thành lập, vì thế không thể ban hành các văn bản pháp luật nói chung và pháp luật dan sự nói riêng. Vì vậy ngày TỔ 10-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sac lệnh 90/SU cho tạm eit các luật lệ đã ban hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban hành những bộ luật thống nhất trong toàn quốc “Món những luật lệ ấy không trái với neuyen tác độc lập của nước Viet nam và chính thể dâu chủ cộng hòa” (Việt nam Quốc dân công báo- Năm thứ nhất số 4 ngày 20-10-1945) với tinh thần đó các Bộ luật Nam- Trung- Bắc ( 1883-1936-1931) vẫn có hiện lực. Tiếp đó,trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, để điểu hành công việc và điều chính các mối giao lưu dan sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh.
Trong đó phải kể đến là sắc lệnh 97/SL ngày 22-5-1950 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về dan sự- “Sửa đối một xố quy lệ và chỉ: định trong dan luật. Xét về mặt tịch sử, những quy định của sắc lệnh 97/SL không những chi làm thay đổi bản chất của những quy định của các bộ luật trước đó đang còn có hiệu lực mà nó đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển của pháp luật dan sự ở nước ta, Đối với các biên pháp bao đảm thực hiện nghĩa vụ thì diéu 13 của Sắc lệnh này có một ý nghĩa rất quan trọng bởi quy định “ Khí ldap đức mà có sự tổn thiệt do su bóc lột của một bên vì điển kiện kính tế của hai ben chênh lệch thì khế ước đó có thẻ bị coi la vỏ hiệu”. Quy định này đã tao tiền để về mặt pháp lý cho việc hủy bỏ các hợp đồng cầm cố, để đương. Đặc biệt đối với dat dai và trên thực tế cuộc cải cách ruộng đất năm 1956 đã xóa bỏ chế độ đó.
Trước khi pháp luật dan sự của chế độ phong kiến. dé quốc bị hủy bỏ vào năm 1959. Những biện pháp bao đảm thực hiện nghĩa vu dan sự được thể hiện và điều tiết chủ yếu trong nền kinh tế hàng hóa.ở đó có nhiều thành phần kinh tế. Vì vậy trong những năm 60-70 và đến những năm 80 việc điển tiết các quan hệ dan sự nói chung và các biên pháp bao dam thực hiện nghĩa vu dan sự nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cao độ.
Phương pháp hành chính được sử dụng phổ biến, chủ yêu lầm biên dang các quan hệ dân sự - đặc biệt các biện pháp bảo dam - trong đó cẩm cố, thê chấp không còn được dé cập đến trong các van ban pháp luật.