CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu của chương trình bày tình hình nghiên cứu liên quan tới đặc điểm của ngôn ngữ mạng, các nghiên cứu về blog làm mẹ, các nghiên cứu về phân tích diễn ngôn phê phán, trong đó có khung phân tích diễn ngôn của Fairclough (2001). Theo Fairclough (2001), việc phân tích các đặc điểm của từ vựng bao gồm phân tích chủ đề các bài viết và trường từ vựng (thể hiện giá trị kinh nghiệm của từ vựng), ngôn ngữ ít trang trọng, tiếng lóng, uyển ngữ (thể hiện giá trị quan hệ của từ vựng), ngôn ngữ đánh giá phạm trù Thái độ (thể hiện giá trị biểu cảm của từ vựng), và việc sử dụng biện pháp ẩn dụ. Vì vậy, chúng tôi sẽ trình bày các nghiên cứu liên quan tới uyển ngữ, ẩn dụ và thuyết đánh giá.
Phần sau của chương sẽ tổng hợp các cơ sở lí thuyết chính của luận án (bao gồm phân tích diễn ngôn phê phán, phân tích diễn ngôn dựa trên khối liệu, so sánh và đối chiếu ngôn ngữ dựa trên khối liệu) và một số lí thuyết liên quan (uyển ngữ, ẩn dụ ý niệm, ngữ pháp chức năng hệ thống và thuyết đánh giá). Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về ngôn ngữ mạng Phương ngữ xã hội, một trong những nội dung quan trọng của ngôn ngữ học xã hội, được hiểu như là sản phẩm ngôn ngữ của các nhóm xã hội khác nhau (Nguyễn Văn Khang, 2012, tr.214), là biến thể ngôn ngữ dưới sự tác động của các nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, v. Internet và công nghệ máy tính có tác động đáng kể đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp trên mạng Internet, đặc biệt là trên các mạng xã hội, từ đó xuất hiện khái niệm ngôn ngữ mạng, hay còn gọi là diễn ngôn điện tử (e-discourse) (AbuSa'aleek, 2015).
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ mạng là “ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp trên mạng, cụ thể hơn là ngôn ngữ được cư dân mạng sử dụng để thích ứng với nhu cầu giao tiếp trên mạng” (Nguyễn Văn Khang, 2019, tr. Ngôn ngữ mạng gồm ba loại: ngôn ngữ đời thường (phổ biến trong giao tiếp 18 hàng ngày), ngôn ngữ chuyên dụng của máy tính, và biến thể của ngôn ngữ khi được sử dụng trên mạng. Theo Nguyễn Văn Khang (2019), biến thể ngôn ngữ là “hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau” (tr. Sự lựa chọn ngôn ngữ trong từng hoàn cảnh khác nhau phụ thuộc vào cộng đồng giao tiếp cụ thể, chính vì thế ngôn ngữ được sử dụng cũng có sự biến đổi để đáp ứng tốt nhất nhu cầu giao tiếp.
Tác giả nhấn mạnh rằng sự ảnh hưởng của môi trường giao tiếp trực tuyến (trên các mạng xã hội như facebook, các blog, v.) khiến cho ngôn ngữ có nhiều sự thay đổi lớn trong hệ thống ngữ âm, hệ thống từ vựng và ngữ pháp. Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã dành nhiều sự quan tâm cho việc nghiên cứu các biến thể của ngôn ngữ tiếng Anh trên mạng Internet (Thurlow, 2003; Sun, 2010; Averianova, 2012; AbuSa’aleek, 2013; Lyddy và cộng sự, 2014; AbuSa'aleek, 2015), từ đó rút ra tám đặc điểm chung của biến thể ngôn ngữ mạng, bao gồm: viết rút gọn từ (shortening), viết tắt (clippings and contractions), thay đổi chữ cái trong từ (unconventional spellings), thay từ bằng chữ cái (word-letter replacement), thay từ bằng con số (word-digits replacement), kết hợp từ (word combination), sử dụng các chữ cái đầu của từ (initialisms), và sử dụng biểu tượng cảm xúc thay cho chữ viết (emoticons). Ở cấp độ từ vựng, ngôn ngữ mạng còn có sự xuất hiện của các từ ngữ thông tục (mang đặc trưng của văn bản nói) và từ ngữ lóng.1 dưới đây cung cấp ví dụ cho từng đặc điểm của ngôn ngữ mạng tiếng Anh. Đặc điểm của ngôn ngữ mạng tiếng Anh (tổng hợp từ các nghiên cứu khác nhau) STT Đặc điểm ngôn ngữ mạng Ví dụ biến thể Ngôn ngữ chuẩn ngôn ngữ trên mạng 1 Rút gọn từ (shortening) bro brother (anh em trai, người anh em) 19 2 Viết tắt (clippings and goin / goin’ going (đang đi, sẽ) contractions) don’t do not (không) nxt next (sắp tới) 3 Thay đổi chữ cái trong từ gud good (tốt, giỏi) (unconventional spellings) 4 Thay từ bằng chữ cái (word- y why (tại sao) letter replacement) u you (bạn) 5 Thay từ bằng con số (word- 4 for (cho ai, để làm gì) digits replacement) 6 Kết hợp từ (word combination) wanna want to (muốn làm gì) 7 Sử dụng cái chữ cái đầu của từ asap as soon as possible (initialisms) (càng sớm càng tốt) 8 sử dụng biểu tượng cảm xúc : ) smile (cười) (emoticons) 9 Sử dụng những từ ngữ phong a bunch of a lot of (nhiều) cách thân mật (mang đặc trưng của văn bản nói) 10 Sử dụng từ ngữ lóng flunk fail (thất bại) Ở Việt Nam, các công trình Ngôn ngữ học xã hội của GS.
Nguyễn Văn Khang như Ngôn ngữ học xã hội (1999), Tiếng lóng Việt Nam (2001), Từ ngoại lai trong tiếng Việt (2007), và Ngôn ngữ mạng - biến thể ngôn ngữ trên mạng tiếng Việt (2019) đã cung cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu về ngôn ngữ trên mạng xã hội. Ngoài ra, các nhà khoa học trong nước cũng đã nghiên cứu các biến thể ngôn ngữ trên mạng, đặc biệt là ngôn ngữ của giới trẻ, ví dụ như Ngôn ngữ giới trẻ có phải là tiếng lóng cần chuẩn hóa? (Nguyễn Đức Tồn, 2014), Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay (Trịnh Cẩm Lan, 2014), Một số vấn đề mới trong phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Nguyễn Văn Hiệp, 2014), và Ngữ pháp chức năng hệ thống và đánh giá ngôn ngữ 20 “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống (Nguyễn Văn Hiệp, 2015). Các nghiên cứu này phân tích vấn đề dưới góc độ lý luận ngôn ngữ học hiện đại và đề xuất các giải pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Một số công trình nghiên cứu bậc thạc sĩ và tiến sĩ gần đây đã nghiên cứu và đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của ngôn ngữ mạng trên các ngữ liệu khác nhau, ví dụ như các trang web, các bài báo (Nguyễn Thị Khánh Dương, 2009; báo điện tử (Đỗ Thùy Trang, 2018; báo in, báo mạng, các phim truyền hình và các diễn đàn mạng xã hội (Nguyễn Thị Hoài Tâm, 2022).
Từ đó, các tác giả chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt (mang tính khái quát) trong các đặc điểm ngôn ngữ mạng của các ngôn ngữ được chọn nghiên cứu (tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Hán). Các nghiên cứu này đều có nguồn ngữ liệu lớn chứa ngôn ngữ tự nhiên và gần gũi, từ đó những kết quả nghiên cứu phần nào phản ánh được những đặc điểm đặc trưng ngôn ngữ mạng mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Khánh Dương (2009) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các trao đổi trên mạng, các trang web, các bài báo có liên quan đến ngôn ngữ chat từ năm 2006 tới năm 2009 (với ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh). Nghiên cứu chỉ ra nhiều sự tương đồng trong ngôn ngữ chat ở hai ngôn ngữ: ví dụ sự tương đồng về chủ đề, sự phổ biến trong việc sử dụng các biểu tượng cảm xúc, từ viết tắt, hiện tượng bỏ các chữ cái trong từ, v.
Luận án tiến sĩ của Đỗ Thùy Trang (2018) đã phân tích các đặc trưng của biến thể ngôn ngữ giới trẻ trên ngữ liệu 1000 bài viết trên một số báo điện tử phổ biến trong giới trẻ: Hoa Học trò, Sinh viên Việt Nam, Thế giới trẻ, YanNews, Kênh14, Zing.vn, đối chiếu với 400 bài báo trên trang Nhân Dân điện tử và Lao Động điện tử. Tác giả phân tích và đối chiếu ba hình thức đặc trưng của biến thể ngôn ngữ giới trẻ, đó là chêm xen tiếng Anh, sử dụng tiếng lóng và sử dụng kết cấu mới lạ, sau đó nêu ra những đặc điểm cụ thể của từng hình thức kể trên. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoài Tâm (2022) nghiên cứu 1.472 từ ngữ lóng của tiếng Hán và 1.472 từ ngữ lóng của tiếng Việt từ các cuốn từ điển chuyên 21 về từ ngữ lóng tiếng Hán và tiếng Việt, các bài viết trên báo in, báo mạng, các phim truyền hình và các diễn đàn mạng xã hội như Facebook và Weibo. Các từ ngữ lóng được lựa chọn thuộc bốn nhóm: nhóm trộm cướp, ma túy, mại dâm và buôn lậu.
Kết quả nghiên cứu nêu rõ những điểm tương đồng trong đặc điểm về cấu tạo, đặc điểm từ loại, đặc điểm ngữ nghĩa của các từ lóng của hai ngôn ngữ. Tuy nhiên, các nghiên cứu kể trên đều chưa khái quát được những điểm đặc trưng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ mạng ở các ngôn ngữ khác nhau. Theo Nguyễn Văn Khang (2019, tr. 73-80), ngôn ngữ mạng tiếng Việt có sáu đặc điểm của biến thể ngữ âm - chính tả như trong bảng 1.2 dưới đây: Bảng 1.
Đặc điểm của ngôn ngữ mạng tiếng Việt STT Đặc điểm ngôn ngữ mạng Ví dụ biến thể Ngôn ngữ chuẩn ngôn ngữ trên mạng 1 Không tuân thủ các quy tắc ăn kơm ăn cơm chính tả để tạo nên cách viết mới fải phải cho âm tiết tiếng Việt 2 Tận dụng các biến thể ngữ âm chời ơi trời ơi của phương ngữ địa lý tiếng Việt chớt mất chết mất để tạo ra các biến thể ngôn ngữ 3 Sử dụng kiểu viết nước ngoài, hwa hôm qua viết không dấu nhiều wa nhiều quá úi zời ơi úi giời ơi 4 Tạo ra các biến thể ngữ âm để lun yêu đời luôn yêu đời làm mới âm tiết mềnh chán đời qué mình chán đời quá. 5 Làm mới cách viết âm tiết bằng Con Gái Yêu Bằng con gái yêu bằng cách thay đổi vị trí của dấu Tai, Con Trai Yêu tai, con trai yêu thanh, dấu mũ và cách viết chính Bằng Mắt bằng mắt tả, quy tắc viết hoa, v. Chan doi qua, lam Chán đời quá, làm sao bay gio? sao bây giờ? 22 6 Sử dụng phương ngữ xã hội như em pé em bé tiếng lóng, uyển ngữ, cách phát anh iu anh yêu âm của trẻ em, cách nói nhịu, nói nũng nịu (Theo Nguyễn Văn Khang, 2019, tr.73-80) Ngoài ra biến thể từ ngữ trên mạng xã hội bao gồm các biển thể về âm, chính tả, biến thể về nghĩa, biến thể về ngữ pháp.