Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Cụ thể, phần nội dung bao gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Bối cảnh văn hóa dẫn tới hành vi LCGTTS Chƣơng 3.
Hành trình tìm kiếm con trai của các cặp vợ chồng 19 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 24 of 107. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm và thuật ngữ khoa học 1.1 Gia đình đình và sinh đẻ Gia đình Giống nhƣ khái niệm văn hóa, khái niệm gia đình cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi nền văn hóa lại có những quan niệm, nhận thức và quy chuẩn khác nhau về gia đình. Có quan điểm cho rằng “gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con ngƣời lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái” [18, tr.
54], hay bởi những vai trò, chức năng riêng của mình, gia đình là một giá trị (Lê Thị Quý, 2007). Các thành viên trong gia đình không chỉ liên hệ với nhau bằng mối quan hệ huyết thống, sinh học bình thƣờng mà còn có tình yêu thƣơng, sự chăm sóc, sự ràng buộc bởi các giá trị văn hóa về đạo lý, tập tục, lễ giáo… Theo Luật Hôn nhân và gia đình đƣợc sửa đổi, hoàn thiện mới nhất vào năm 2014, gia đình là “tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này” (khoản 2, điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Trong đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm “gia đình” theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình, gắn gia đình với chức năng tâm lí, tình cảm, chức năng sinh sản và tái sản xuất con ngƣời, xã hội. “Hôn nhân”, “mối quan hệ huyết thống”, “quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình” là những yếu tố nội hàm cơ bản của khái niệm gia đình, có ảnh hƣởng trực tiếp tới việc sinh con của các cặp vợ chồng.
Sinh đẻ Sinh đẻ hay sinh sản là một trong những chức năng cơ bản của gia đình, có ý nghĩa duy trì nòi giống, tái sản xuất xã hội (Đặng Cảnh Khanh, 2007). Về mặt xã hội, văn hóa Việt Nam truyền thống thƣờng mặc định rằng “trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, yên bề gia thất rồi thì sinh con, “trời sinh voi, trời sinh cỏ” nhƣ một lẽ tự nhiên, tất yếu. Những ai đi chệch ra khỏi quy luật tự nhiên 20 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 25 of 107.
ấy, không lập gia đình hay đặc biệt là không có con cái, vô sinh, hiếm muộn sẽ bị ngƣời đời dè bỉu, cho là vô phúc, gán cho những lời lẽ cay nghiệt “cây khô không lộc, ngƣời độc không con”. Chính việc coi trọng sinh con đẻ cái nhƣ một lẽ tự nhiên ấy lại thể hiện rõ những chuẩn mực, kỳ vọng của mỗi cá nhân cũng nhƣ cộng đồng vào hành vi sinh đẻ. Trong gia đình Việt Nam, đứa trẻ sinh ra không chỉ gắn kết, củng cố thêm tình cảm của cha mẹ mà còn mang theo tình yêu, niềm hy vọng của gia đình, dòng họ, đặc biệt là đối với con trai, cháu đích tôn (Mai Huy Bích, 19913). Ngƣời ta gắn cho con cái, con trai những mong mỏi, kỳ vọng nhất định.
Nếu chƣa có con trai, nhiều cặp vợ chồng sẽ sinh cho đến khi có đƣợc coi trai mới dừng (Hồ Ngọc Châm, 2011). Trong một vài thập niên gần đây, các dịch vụ chăm sóc SKSS phát triển, cha mẹ có thể lựa chọn thời điểm thụ thai, khoảng cách giữa các lần sinh, giới hạn số con, thậm chí là lựa chọn giới tính thái nhi (UNFPA, 2009). Lúc này, rõ ràng gia đình là một thiết chế xã hội giúp cho con ngƣời thực hiện việc duy trì nòi giống một cách chủ động và có tổ chức (Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007). Sinh đẻ không đơn thuần là một hành động tự nhiên, chỉ với mục đích duy trì nòi giống nữa mà đã trở thành một hành động có mục đích, chứa đựng những kỳ vọng mà cha mẹ gửi gắm.2 Tỷ số giới tính khi sinh, lựa chọn giới tính trước sinh Tỷ số giới tính khi sinh Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) đƣợc xác định bằng số bé trai trên bé gái đƣợc sinh ra của một thời kỳ, thƣờng là một năm lịch.
Tỷ số này thông thƣờng là 104- 106/100 và nhìn chung ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc ngƣời (WHO). Bât kỳ sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức sinh học bình thƣờng đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó và sẽ làm ảnh hƣởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đe dọa sự ổn định dân số toàn cầu [33; tr. 21 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 26 of 107.
Theo thống kê của UNFPA năm 2011, trên thế giới hiện có 11 nƣớc đã hoặc đang phải đối phó với tình trạng mất CBGTKS. Trong đó, ngoại trừ Hàn Quốc hiện đã trở về mức ổn định (106,7), các quốc gia còn lại bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Nepan, Bangladesh, Armenia, Azerbaijan, Georgia, Albani và Việt Nam đều có SRB hiện đang dao động từ 109,9 (Pakistan) đến 118 (Trung Quốc) (gopfp. Lựa chọn giới tính trước sinh LCGTTS là hành vi can thiệp có chủ đích trƣớc và trong thai kỳ để con sinh ra mang giới tính nhƣ mong muốn, bao gồm lựa chọn giới tính thai nhi trƣớc khi mang thai (trƣớc thai kỳ); siêu âm xác định giới tính, nạo phá thai khi giới tính của thai nhi không nhƣ kỳ vọng (trong thai kỳ) (Trần Minh Hằng, 2012). Có ba điều kiện cần dẫn đến việc LCGTTS (Guilmoto, 2009).
Điều kiện thứ nhất và là điều kiện tiên quyết là tâm lý ƣa thích con trai, điều kiện thứ hai là sự sẵn có của các dịch vụ y tế hiện đại và điều kiện thứ ba là mức sinh thấp [34, tr. Tâm lý ƣa thích con trai trong xã hội là một vấn đề phức tạp, là hệ quả tổng hợp của các quan niệm truyền thống kế thừa từ quá khứ và các giá trị xã hội hiện đại phát sinh từ những chuyển đổi gần đây trong xã hội (TCTKVN, 2011). Hiện nay, các dịch vụ y tế hỗ trợ việc can thiệp lựa chọn giới tính trƣớc khi mang thai hay siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi có thể đƣợc tìm thấy dễ dàng tại các khu vực trung tâm, thành phố lớn hay thậm chí là vùng nông thôn (điển hình nhƣ tại địa bàn tác giả tiến hành nghiên cứu thực địa). Thêm vào đó, sinh ít con đồng nghĩa với việc không có con trai tăng lên, khiến nhiều cặp vợ chồng tìm đến các dịch vụ y tế hỗ trợ cho việc sinh con theo ý muốn.
Thống kê về thực trạng mất CBGTKS theo vùng, tỉnh/ thành có thể giúp xác định các đặc điểm vùng, kinh tế - xã hội của các nhóm dân cƣ có xu hƣớng thực hành LCGTTS (xem bảng 1. Trên thực tế, thực trạng mất CBGTKS còn có thể là hệ quả của việc loại bỏ trẻ sơ sinh có giới tính không nhƣ mong muốn (sau thai kỳ) bằng cách vứt bỏ đến chết hoặc giết chết sau khi sinh (Trần Minh Hằng, 2012). Tuy nhiên, trong khuôn khổ 22 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 27 of 107.
luận văn này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu việc lựa chọn giới tính trƣớc khi sinh nên hành vi lựa chọn giới tinh sau thai kỳ không đƣợc nhắc đến.3 Các thực hành lựa chọn giới tính thai nhi phổ biến ở Việt Nam hiện nay Giai đoạn trước thai kỳ Phƣơng pháp dân gian Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp, du mục, cần ngƣời đàn ông có sức khỏe tốt và hệ tƣ tƣởng phong kiến cùng hình thức cƣ trú bên nội, từ hàng nghìn năm trƣớc, ngƣời Trung Quốc đã biết đến cách sinh con theo ý muốn dựa vào việc tính tuổi và quẻ Bát quái. Trung Quốc là một nền văn hóa lớn trên thế giới, là quốc gia láng giềng và có ảnh hƣởng sâu rộng đến Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, ngay từ buổi đầu lịch sử của dân tộc ta. Do đó, ngƣời Việt Nam cũng đã học theo cách này với mong muốn sinh đƣợc con trai, con gái nhƣ ý muốn, mà chủ yếu là để sinh con trai. Chế độ dinh dƣỡng Hiện nay, có rất nhiều tài liệu cũng nhƣ kinh nghiệm về chế độ dinh dƣỡng để sinh con theo ý muốn.
Theo thời gian, phƣơng pháp này đang dần đƣợc bổ sung, hoàn thiện dựa trên cả kinh nghiệm dân gian cũng nhƣ thành tựu khoa học (Ngọc Lan, 2001; Đỗ Kính Tùng, 2002). Điều này dựa trên cơ sở khoa học chế độ dinh dƣỡng có ảnh hƣởng nhất định đến đặc tính, số lƣợng tinh trùng của cha cũng nhƣ môi trƣờng âm đạo bên trong cơ thể ngƣời mẹ. Thời điểm thích hợp để thực hiện chế độ dinh dƣỡng đƣợc xác định khoảng ba tháng trƣớc khi thụ thai. Uống thuốc Bắc Ở miền Bắc Việt Nam, không quá khó để có thể tìm kiếm một phòng khám Đông y cung cấp các dịch vụ hỗ trợ SKSS nhƣ chữa vô sinh, hiếm muộn, chữa các bệnh phụ nữ, bệnh nam giới.
Các phòng khám này đều kèm theo dịch vụ bắt mạch chẩn đoán sớm giới tính thai nhi (từ 6 – 7 tuần trở lên) và sinh con theo ý muốn.