Tổng quan nghiên cứu
Nuôi con bằng sữa mẹ là giải pháp can thiệp tự nhiên, kinh tế và hiệu quả hàng đầu nhằm bảo vệ sự sống còn của trẻ sơ sinh. Hàng năm trên toàn cầu có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong. Theo ước tính từ Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời có thể ngăn ngừa tử vong cho hơn 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm. Mặc dù lợi ích của sữa mẹ đã được chứng minh rõ ràng, tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trên thế giới vẫn ở mức dưới 35%, và tại Việt Nam con số này theo Viện Dinh dưỡng năm 2011 chỉ đạt khoảng 19,6%.
Thực trạng cho trẻ ăn sam sớm, bổ sung nước trắng, nước hoa quả hoặc sử dụng sữa công thức thay thế sữa mẹ trong giai đoạn đầu đời vẫn còn rất phổ biến do ảnh hưởng của tập quán văn hóa và áp lực công việc. Tại tỉnh Thái Nguyên, một địa bàn miền núi phía Bắc với hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số, việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ còn gặp nhiều rào cản đặc thù.
Luận văn thạc sĩ Y học dự phòng của tác giả Vũ Hương Dịu dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hạc Văn Vinh tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên đã tiến hành đề tài nghiên cứu nhằm hai mục tiêu cốt lõi: Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại 20 xã thuộc 4 huyện của tỉnh Thái Nguyên năm 2016; đồng thời phân tích các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội và dịch vụ y tế liên quan đến hành vi này. Khảo sát trên quy mô 1.382 cặp mẹ con không chỉ mang lại bức tranh dịch tễ học chuẩn xác mà còn là căn cứ khoa học vững chắc để ngành y tế địa phương xây dựng các chính sách can thiệp dinh dưỡng cộng đồng phù hợp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hướng dẫn chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, kết hợp cùng các lý thuyết về hành vi sức khỏe cộng đồng. Các khái niệm nền tảng bao gồm:
- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: Trẻ chỉ nhận duy nhất sữa mẹ từ vú mẹ hoặc sữa mẹ vắt ra trong suốt 179 ngày đầu đời, không ăn hoặc uống bất kỳ chất lỏng hay thức ăn đặc nào khác, ngoại trừ vitamin, khoáng chất hoặc thuốc dạng giọt theo chỉ định y khoa.
- Cho trẻ bú sớm: Trẻ được tiếp xúc da kề da và bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu ngay sau khi sinh nhằm kích thích phản xạ tiết oxytocin và prolactin, hỗ trợ co hồi tử cung của mẹ và giúp trẻ tận dụng nguồn sữa non quý giá. Sữa non chứa hàm lượng cao kháng thể IgA, protein casein, vitamin A và các đại thực bào giúp xây dựng hàng rào miễn dịch vững chắc.
- Ăn bổ sung: Giai đoạn chuyển tiếp dinh dưỡng khi trẻ được làm quen với thức ăn đặc hoặc nửa đặc song song với việc tiếp tục bú mẹ từ tháng thứ 6 trở đi.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dịch tễ học. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (Z = 1,96), tỷ lệ tham chiếu p = 0,32 và độ chính xác tương đối ε = 0,1, cho ra cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 816 đối tượng.
Trên thực tế, nghiên cứu đã tiếp cận và sàng lọc từ 1.600 ca sinh thuộc cơ sở dữ liệu dự án Bổ sung vi chất dinh dưỡng trước mang thai giữa Đại học Emory và Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên. Sau khi sàng lọc theo các tiêu chí lựa chọn và loại trừ nghiêm ngặt, mẫu nghiên cứu chính thức đạt 1.382 cặp mẹ con tại 20 xã thuộc 4 huyện đại diện gồm Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai và Đại Từ. Phương pháp chọn mẫu tầng nhiều giai đoạn bảo đảm tính đại diện cao cho cả vùng đồng bằng lẫn vùng núi cao có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp bà mẹ kết hợp đo lường nhân trắc của trẻ bằng cân lồng máng SECA đạt chuẩn y tế từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2016. Quy trình quản lý số liệu sử dụng phần mềm EpiData 3.1 với kỹ thuật nhập liệu kép hai lần độc lập để triệt tiêu sai sót. Toàn bộ dữ liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 10. Các kiểm định Chi-square và kiểm định chính xác Fisher được áp dụng ở ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 nhằm xác định mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tập quán nuôi dưỡng và tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu trên 1.382 bà mẹ đã ghi nhận nhiều chỉ số dịch tễ học quan trọng:
- Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đạt 60,27% (832 trẻ). Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh đạt 51,99% (718 trẻ).
- Tỷ lệ cho trẻ ăn hoặc uống các chất khác ngoài sữa mẹ ngay sau sinh vẫn ở mức cao với 45,58%. Trong đó, có 40,09% trẻ (554 trường hợp) phải dùng sữa công thức hoặc sữa bò, 6,80% dùng nước đường, mật ong hoặc nước hoa quả, và 0,80% dùng nước trắng.
- Yếu tố dân tộc và nghề nghiệp: Bà mẹ là người dân tộc thiểu số có tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đạt 68,75%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bà mẹ người Kinh với 59,08% (p = 0,037). Phụ nữ làm nông nghiệp có tỷ lệ cho con bú hoàn toàn đạt 66,19%, vượt trội so với các nhóm nghề nghiệp khác đạt 60,23% (p = 0,046).
- Yếu tố học vấn và việc làm: Bà mẹ có trình độ cao đẳng, đại học hoặc sau đại học có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn thấp hơn (49,06%) so với nhóm học vấn tiểu học (64,22%) và trung học cơ sở (61,94%) với p = 0,042. Phụ nữ chưa đi làm lại trước 6 tháng đạt tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ 66,16%, cao hơn đáng kể so với nhóm đã đi làm lại là 57,23% (p = 0,038). Ngoài ra, bà mẹ có từ 2 con trở lên có tỷ lệ thực hành đúng đạt 70,03%, cao hơn nhóm sinh con lần đầu với 61,21% (p = 0,027).
Thảo luận kết quả
Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ đạt 60,27% tại Thái Nguyên cao hơn đáng kể so với mức bình quân 19,6% toàn quốc năm 2011 cũng như các báo cáo tại Hà Nội (20%) hay Quảng Nam (0,24%). Nguyên nhân bắt nguồn từ đặc thù địa bàn miền núi với tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 49,78% và nông dân chiếm 80,90%, nơi điều kiện kinh tế và nếp sống gắn liền với gia đình tạo điều kiện duy trì việc nuôi con tự nhiên.
Dữ liệu nghiên cứu khi được mô tả qua các bảng số liệu chéo và biểu đồ cột so sánh theo từng huyện cho thấy sự tương phản rõ nét: Huyện Đại Từ đạt tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn cao nhất với 74,60%, tiếp theo là Định Hóa (65,04%), Phú Lương (58,65%) và thấp nhất là Võ Nhai (43,56%). Ngược lại, thực trạng cho trẻ ăn thức ăn trước khi bú mẹ vẫn phổ biến ở mức 40,58% tại Phú Lương và 52,04% tại Võ Nhai. Điều này bắt nguồn từ quan niệm sai lầm cho rằng sữa non chưa về hoặc không đủ chất, dẫn đến việc dùng sữa bột tráng ruột ngay tại bệnh viện huyện, nơi có tới 78,87% các ca sinh diễn ra. Nhóm phụ nữ có học vấn cao và đi làm sớm chịu áp lực xã hội và sự tiếp cận quảng cáo sữa bột thương mại, khiến thời gian cho con bú hoàn toàn bị rút ngắn rõ rệt.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao tỷ lệ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại vùng miền núi, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Tăng cường truyền thông thay đổi hành vi tại tuyến y tế cơ sở: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh và Trạm Y tế xã cần phối hợp tổ chức các chiến dịch giáo dục tiền sản định kỳ, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bú sớm trong 1 giờ đầu từ 51,99% lên trên 75% trong giai đoạn 2018-2020, xóa bỏ dứt điểm thói quen cho trẻ uống nước đường và sữa công thức trước cữ bú đầu.
- Chuẩn hóa quy trình thực hành sản khoa tại các cơ sở sinh đẻ: Ban giám đốc các bệnh viện tuyến huyện, nơi tiếp nhận 78,87% sản phụ, cần áp dụng nghiêm ngặt quy trình chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm, bảo đảm 100% trẻ sinh thường và sinh mổ được tiếp xúc da kề da liên tục và bú mẹ ngay trong phòng sinh.
- Thực thi chính sách bảo vệ thai sản và hỗ trợ lao động nữ: Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp tại địa phương cần hoàn thiện quy định nghỉ thai sản, bố trí phòng vắt trữ sữa tại nơi làm việc để duy trì tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ở nhóm phụ nữ đi làm trở lại đạt trên 65% trong giai đoạn 2017-2022.
- Xây dựng mạng lưới tư vấn đồng đẳng tại thôn bản: Hội Liên hiệp Phụ nữ phối hợp với nhân viên y tế thôn bản thành lập các nhóm hỗ trợ mẹ và bé, huy động các bà mẹ có kinh nghiệm sinh từ 2 con trở lên để tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho 50,4% sản phụ trẻ dưới 25 tuổi sinh con lần đầu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm chuyên môn:
- Giảng viên, học viên sau đại học chuyên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng và Y học dự phòng: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang, cách thức quản lý cỡ mẫu lớn 1.382 đối tượng và kỹ thuật phân tích mối liên quan qua phần mềm thống kê chuyên dụng.
- Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách y tế tại Sở Y tế và Trung tâm Y tế huyện: Cung cấp bằng chứng thực địa tin cậy phục vụ công tác xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời tại địa bàn miền núi phía Bắc.
- Bác sĩ chuyên khoa Sản, Nhi và Nữ hộ sinh tại các bệnh viện: Cơ sở khoa học để cải tiến quy trình tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, ngăn ngừa việc chỉ định bổ sung sữa bột không cần thiết cho trẻ sơ sinh trong 24 giờ đầu đời.
- Cán bộ các tổ chức phi chính phủ và Hội Phụ nữ: Cẩm nang thực tiễn giúp thiết kế các chương trình can thiệp dinh dưỡng cộng đồng phù hợp với văn hóa, phong tục của các nhóm dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tại Thái Nguyên đạt bao nhiêu?
Theo kết quả nghiên cứu trên 1.382 bà mẹ, tỷ lệ này đạt 60,27%. Mức độ thực hành có sự khác biệt giữa các địa bàn khảo sát, cao nhất tại huyện Đại Từ đạt 74,60% và thấp nhất tại huyện Võ Nhai đạt 43,56%.
Tại sao tỷ lệ cho trẻ bú bình và uống sữa ngoài sau sinh vẫn còn cao?
Có tới 45,58% trẻ sơ sinh được cho ăn uống thức ăn ngoài sữa mẹ ngay sau sinh, chủ yếu là sữa bột chiếm 40,09%. Nguyên nhân chủ yếu do gia đình lầm tưởng mẹ chưa có sữa trong ngày đầu và thiếu sự hỗ trợ tư vấn từ nhân viên y tế sau sinh.
Trình độ học vấn ảnh hưởng như thế nào đến việc cho con bú hoàn toàn?
Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý: Nhóm bà mẹ có trình độ đại học hoặc cao đẳng chỉ đạt tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ 49,06%, thấp hơn đáng kể so với nhóm học vấn tiểu học đạt 64,22% do nhóm học vấn cao thường đi làm sớm và tiếp cận nhiều với sữa công thức.
Việc mẹ quay lại làm việc trước 6 tháng tác động ra sao đến việc nuôi con?
Phụ nữ đi làm trước 6 tháng chỉ đạt tỷ lệ cho con bú hoàn toàn là 57,23%, thấp hơn mức 66,16% ở nhóm chưa đi làm (p = 0,038). Môi trường làm việc thiếu điều kiện vắt trữ sữa là rào cản chính khiến cữ bú bị gián đoạn.
Việc sinh con tại bệnh viện có giúp tăng tỷ lệ bú sớm hay không?
Dù có 78,87% sản phụ sinh con tại bệnh viện tuyến huyện, tỷ lệ cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu chỉ đạt 51,99%. Nhiều cơ sở y tế vẫn chưa triệt để triển khai tiếp xúc da kề da liên tục, dẫn đến việc trẻ bị cách ly mẹ tạm thời.
Kết luận
- Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tại 20 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên đạt 60,27%, trong khi tỷ lệ trẻ được bú sớm trong 1 giờ đầu đạt 51,99%.
- Thói quen cho trẻ ăn thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay sau sinh vẫn chiếm tỷ lệ cao với 45,58%, trong đó sữa công thức chiếm ưu thế với 40,09%.
- Nghiên cứu đã xác định các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn gồm: Dân tộc thiểu số (p = 0,037), nghề nông nghiệp (p = 0,046), học vấn (p = 0,042), số con (p = 0,027) và việc quay lại làm việc trước 6 tháng (p = 0,038).
- Đóng góp nguồn số liệu dịch tễ học chuẩn xác trên mẫu lớn 1.382 cặp mẹ con, tạo tiền đề xây dựng mô hình can thiệp dinh dưỡng đặc thù cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Kế hoạch can thiệp giai đoạn 2018-2022 cần tập trung chuẩn hóa quy trình chăm sóc thiết yếu tại 100% cơ sở y tế tuyến huyện và tăng cường hỗ trợ cho bà mẹ sinh con lần đầu.
Các nhà nghiên cứu, cán bộ y tế và độc giả quan tâm có thể khai thác toàn bộ dữ liệu chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác thực hành lâm sàng và phát triển các đề tài y học công cộng tiếp theo.