phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng. hƣơng 1: Những vấn đề chung hƣơng 2: Lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh Jrai hƣơng 3: Lỗi dùng từ tiếng Việt của học sinh Jrai e 8 C N 1 N ỮN VẤN Ề C UN 1. Khái niệm tiếng Việt và chuẩn tiếng Việt 1. Khái niệm tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ của ngƣời Việt (ngƣời Kinh) và là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ chung thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong Hiến pháp nƣớc ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, tại hƣơng iều 5 Mục 3 quy định tiếng Việt là “ngôn ngữ quốc gia”, “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó là phƣơng tiện giao lƣu không thể thiếu đƣợc giữa các địa phƣơng và các dân tộc trong cả nƣớc, giúp cho các địa phƣơng và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, v. tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Vì vậy, mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng và chữ phổ thông.
Chuẩn tiếng Việt ần 4000 năm tồn tại và phát triển, tiếng Việt đã đạt đƣợc phẩm chất trong sáng, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc đảm nhiệm những chức năng xã hội quan trọng. Sử dụng tiếng Việt cho trong sáng là sử dụng theo các chuẩn mực của tiếng Việt. Vấn đề “chuẩn mực hóa tiếng Việt” đã đƣợc S. Hoàng Phê trình bày: - Chuẩn mực về phát âm và chữ viết.
Khi nói cần phải nói theo chuẩn mực về ngữ âm. Khi viết cần viết theo đúng các chuẩn mực hiện hành về chữ viết (dạng chữ, kiểu chữ, chính tả, viết hoa, dấu câu…). - Chuẩn mực về từ ngữ. huẩn mực về từ đòi hỏi việc sử dụng từ phải đạt đƣợc những yêu cầu về các phƣơng diện: âm thanh, hình thức cấu tạo, kết e 9 hợp ngữ pháp, nội dung ngữ nghĩa, màu sắc phong cách… ồng thời nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ còn đòi hỏi phát triển vốn từ của tiếng Việt sao cho vừa giàu có lại vừa giữ gìn bản sắc tinh hoa của tiếng Việt.
Tránh lạm dụng từ nƣớc ngoài một cách tùy tiện, không cần thiết vừa dung hợp những yếu tố tích cực đối với tiếngViệt. - Chuẩn mực về ngữ pháp. Những chuẩn mực này tùy biểu hiện ở việc cấu tạo của từ, ở việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, trong việc cấu tạo và sử dụng các kiểu câu, ở việc cấu tạo các thành phần của văn bản và văn bản thuộc các loại khác nhau. ác chuẩn mực này đƣợc đúc kết thành các quy tắc ngữ pháp và các quy tắc sử dụng.
- Chuẩn mực về phong cách. Những chuẩn mực này xác định những đặc điểm tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao tiếp khác nhau của cuộc sống xã hội. Mỗi lĩnh vực và tình huống nhƣ vậy có những nhiệm vụ và mục đích giao tiếp nhất định. o đó, nó cũng đòi hỏi những nhân tố và những phƣơng tiện ngôn ngữ đặc thù.
ó những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ nói, có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ viết, có những chuẩn mực thuộc phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học, phong cách nghị luận, phong cách hành chính và phong cách báo chí công luận. Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực không hề phủ nhận và thủ tiêu sự sáng tạo độc đáo trong cách dùng, những đóng góp mới mẻ và sự uyển chuyển, linh hoạt trong việc sử dụng. ó điều những đóng góp và sáng tạo đó phải dựa trên những quy luật, sự uyển chuyển, linh hoạt đó phải đƣợc thực hiện trong những điều kiện nhất định. iữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt còn hàm chứa cả nội dung luôn luôn tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ có giá trị tích cực từ các tiếng bên ngoài, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì sự giao lƣu quốc tế và sự tiếp xúc văn hóa đƣợc mở rộng và phát triển cao độ hơn bao giờ hết.
Chính tả tiếng Việt 1. Khái niệm chính tả hính tả, hiểu theo nghĩa thông thƣờng, là phép viết đúng. úng ở đây là đúng với truyền thống sử dụng chữ viết đã đƣợc xã hội thừa nhận, đúng với bản thân hệ thống văn tự của một ngôn ngữ. hính tả đƣợc xây dựng trên cơ sở của những quy định mang tính xã hội cao, đƣợc mọi ngƣời trong một quốc gia chấp nhận và sử dụng.
Những quy định đó thƣờng là thói quen trong thực tiễn sử dụng chữ viết của một dân tộc, hoặc cũng có thể là do những cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành. ản chất chính tả là sự phiên tiếng thành chữ, là hệ thống các quy tắc xác lập các phƣơng thức để chuyển lời nói sang chữ viết. Mỗi ngôn ngữ có cách riêng trong việc chuyển dòng âm thanh của lời nói thành chữ viết, nói cách khác, mỗi ngôn ngữ có hệ thống chính tả riêng của mình. Ví dụ, ngƣời ta nói đến chính tả tiếng Việt, chính tả tiếng Anh, tiếng Nga… Nhƣ vậy: “Chính tả được hiểu là phép viết đúng: đúng theo quy định và truyền thống chữ viết của mỗi dân tộc.
Viết đúng các âm, các thanh trong âm tiết. Rộng hơn, còn bao gồm cả việc viết hoa, viết các chữ số, viết các từ ngữ mượn tiếng nước ngoài, cách viết dấu câu theo đúng chuẩn mực”[dẫn theo 17, tr. hữ viết tiếng Việt đƣợc ghi theo nguyên tắc ghi âm vị. Vì vậy, chính tả phải dựa trên chuẩn mực về ngữ âm (tức là chính âm).
ồng thời, chính tả trong chữ viết của ta hiện nay còn phải dựa vào những quy tắc của chữ quốc ngữ. Nguyên tắc chính tả tiếng Việt hữ quốc ngữ là chữ viết dùng chữ cái để ghi âm. Vì vậy, nguyên tắc cơ bản của chính tả tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học. Nguyên tắc này thể hiển mối liên hệ mật thiết giữa âm- chữ, là sự chuyển đổi các biểu tƣợng thính giác thành biểu tƣợng thị giác.
Tuy nhiên, sự biến đổi của chữ viết và ngữ âm trong quá trình phát triển ngôn ngữ không có sự tƣơng ứng đồng đều. hữ e 11 quốc ngữ hầu nhƣ không có gì thay đổi thì ngữ âm có sự biến đổi dù rất chậm. hính vì điều đó nên chữ viết và chính tả dù có cố gắng đến đâu cũng có phần lạc hậu hơn so với mặt ngữ âm của ngôn ngữ. ể khắc phục hạn chế này, nguyên tắc ngữ âm học của chính tả đƣợc bổ sung bằng các nguyên tắc ngữ nghĩa và nguyên tắc thói quen sử dụng chữ viết đã đƣợc xã hội công nhận.
Nguyên tắc ngữ âm học ây là nguyên tắc cơ bản nhất, vì chữ tiếng Việt hiện đại là chữ viết theo nguyên tắc ghi âm, hơn nữa là ghi âm vị. Vì vậy, cơ sở để xác định chính tả là cơ sở ngữ âm, nghĩa là phát âm nhƣ thế nào thì viết nhƣ thế ấy. Nguyên tắc ngữ âm thể hiện ở hai phƣơng diện: - hữ viết phải theo đúng chuẩn ngữ âm. o đó, những trƣờng hợp viết theo cách phát âm địa phƣơng hoặc cách phát âm cá nhân đều là sai chính tả.
- Phải viết chữ theo đúng những quy tắc chung của chữ tiếng Việt hiện nay. Những quy tắc này đƣợc hình thành theo sự kết hợp các âm, các thanh hoặc các chữ cái. ác quy tắc đó trở thành các mẹo luật chính tả. Ví dụ: ô cuối âm tiết, sau âm /a/ thì viết i, còn sau /ă/ thì viết y: hai/hay/tai/tay.
Nguyên tắc ngữ nghĩa hữ viết của tiếng Việt không theo nguyên tắc ghi ý tức là không ghi phụ thuộc vào ý nghĩa của từng từ hay từng tiếng. Nó chỉ căn cứ vào âm thanh của từ ngữ, tùy thuộc vào thành phần âm thanh của từ ngữ. Nhƣng khi cần xác định chính tả ở những trƣờng hợp mà hai hoặc nhiều khả năng đều có thể chấp nhận về ngữ âm và chữ viết, thì việc viết theo cách nào là việc có thể căn cứ vào ý nghĩa của từ hay tiếng cần biểu đạt mà định đoạt. Ví dụ: Trong tiếng Việt có cả hai từ với hai diện mạo âm thanh và chữ viết khác nhau hươu và hưu.
Viết hươu là đúng chính tả khi muốn nói đến một loài động vật. Viết hưu là đúng chính tả khi muốn nói về thời kỳ đƣợc nghỉ làm việc do con ngƣời tuổi cao hoặc sức yếu (nghỉ hƣu). Chính âm và hệ thống ngữ âm tiếng Việt 1. Chính âm tiếng Việt “Chính âm là cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn ngữ; hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ đó” [53].
Rèn luyện chính âm cho học sinh TTS là giúp các em phát âm các đơn vị ngữ âm đạt chuẩn. Nắm vững bản chất của âm thanh tiếng Việt và hệ thống các đơn vị âm thanh chuẩn là cơ sở để việc rèn chính âm đạt kết quả cao. ản chất của các đơn vị ngữ âm thể hiện ở đặc điểm sinh học, đặc điểm âm học và đặc điểm xã hội. Âm thanh của ngôn ngữ đƣợc phát ra từ bộ máy phát âm của con ngƣời.
Mỗi âm thanh do sự phối hợp một số bộ phận cấu tạo của bộ máy phát âm (cơ quan khởi phát nguồn hơi, dây thanh, hộp cộng hƣởng) dẫn đến sự khác biệt trong giọng nói giữa các cá nhân. o vậy, đặc điểm này cũng ảnh hƣởng đến kết quả phát âm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn. ặc điểm âm học của âm thanh ngôn ngữ là cơ sở để xác định những điểm khu biệt và đồng nhất của các đơn vị ngữ âm trong hệ thống chuẩn. ác đơn vị ngữ âm đƣợc hình thành do quy ƣớc của một cộng đồng dùng ngôn ngữ.
ản chất xã hội của âm thanh ngôn ngữ thể hiện ở sự thừa nhận của các thành viên trong cộng đồng đối với số lƣợng và cách thức phát âm đơn vị ngữ âm. Nhờ đặc điểm này, các đơn vị ngữ âm có tính dân tộc. Những hiểu biết về bản chất xã hội của âm thanh ngôn ngữ là cơ sở khoa học giúp học sinh DTTS có ý thức rằng, muốn học tiếng Việt phải học cách phát âm chuẩn. Hệ thống ngữ âm tiếng Việt ần dựa vào các các đơn vị ngữ âm và phƣơng thức phát âm chuẩn để rèn kĩ năng phát âm cho học sinh.
Âm vị và âm tiết là các đơn vị ngữ âm chuẩn của tiếng Việt.