ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, môi trƣờng đất đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có phần không nhỏ là do hoạt động sản xuất nông nghiệp.Việc lạm dụng phân bón vô cơ của ngƣời trồng không những làm tăng lƣợng tồn dƣ hóa học nông sản mà còn ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng đất. Một trong những loại phân bón phổ biến thƣờng xuyên đƣợc đƣa vào đất đó là phân lân, nhằm bổ sung chất khoáng phospho cho đất và thúc đẩy sinh trƣởng cây trồng, tuy nhiên bón lân dƣ thừa dẫn đến gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc cũng nhƣ gây phú dƣỡng, đe dọa nhiều hệ sinh thái, nhất là các thủy vực, chƣa kể trong nhiều nguồn lân thƣờng có chứa các kim loại nặng. Lân đƣợc bổ sung vào đất do lân là một trong các yếu tố quan trọng của đất, có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây trồng. Phospho tham gia vào thành phần các enzym, protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các amino acid, kích thích sự phát triển của rễ cây, kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm hơn và nhiều hơn.
Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất,… Lân còn là một chỉ tiêu xác định của độ phì nhiêu đất. Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống trong đất, nƣớc và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón. Hầu nhƣ mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, giải phóng chất dinh dƣỡng vô cơ từ hợp chất khó tan hoặc tổng hợp chất dinh dƣỡng từ môi trƣờng. Trong tự nhiên, sự chuyển hóa lân xảy ra chủ yếu dƣới tác dụng của quá trình hóa học và sinh học.
Quá trình chuyển hóa hợp chất lân khó tan trong đất có phần đóng góp quan trọng của các chủng vi sinh vật. Trên thế giới có các công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số vi sinh vật có khả năng thể hiện đƣợc nhiều các hoạt tính sinh học khác nhau, trong đó có những vi sinh vật vừa chuyển hoá hợp chất phosphate vừa có khả năng tạo các chất dinh dƣỡng cho cây, sinh tổng 1 hợp chất kích thích sinh trƣởng thực vật đồng thời cũng có khả năng ức chế một số vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây trồng. Xuất phát từ lí do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu phân lập và tuyển chọn một số chủng vi sinh vật phân giải phosphate khó tan trong đất “ 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vai trò của phospho Phospho (lân) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu P và số nguyên tử 15 có khối lƣợng nguyên tử là 30,79. Hàm lƣợng phospho trong vỏ trái đất là 0,8% tính theo khối lƣợng.
Là một phi kim đa hóa trị trong nhóm nitơ, phospho chủ yếu đƣợc tìm thấy trong các loại đá phosphate vô cơ và trong các cơ thể sống. Trong đất, phospho chiếm 0,02 - 0,2 % tùy theo loại đất. Do độ hoạt động hóa học cao, phospho không ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Phát xạ ra ánh sáng nhạt khi bị phơi ra trƣớc oxy xuất hiện dƣới một số dạng thù hình.
Là nguyên tố thiết yếu cho các cơ thể sống. Sử dụng quan trọng nhất trong thƣơng mại là để sản xuất phân bón. P cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong các loại vật liệu nổ, diêm, pháo hoa, thuốc trừ sâu, kem đánh răng và chất tẩy rửa [1]. Phospho là một trong ba nguyên tố dinh dƣỡng quan trọng của cây trồng (N, P, K), là nguyên tố cơ bản cần thiết cho sự sống của tất cả các loài sinh vật đặc biệt là thực vật.
Là thành phần xây dựng nên các hợp chất quan trọng bậc nhất của tế bào nhƣ: nucleoprotein (ADN, ARN), phospholipid (màng sinh chất, màng không bào, màng các bào quan), estephosphate (đƣờng hoạt hóa hexone P, triose P, pentone P). Phospho là thành phần không thể thiếu của ATP, ADP, AMP, FAD, NADP, coenzyme A,… đây là những phân tử trao đổi năng lƣợng, có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, hô hấp và đồng hóa nitơ của thực vật.1 Cấu tạo một số ATP, ADP, AMP chƣa phospho Phospho có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trƣởng của cây trồng. Dƣới tác dụng của phospho cây trồng có hạt chín hơn từ 5 đến 7 ngày, cây ăn quả có số quả chín sớm nhiều hơn đạt tới 78% (nếu không bón lân thì chỉ chín 32%) [17]. Làm tăng tính chịu rét, tăng độ đƣờng cho củ cải, tăng lƣợng tinh bột cho củ khoai tây làm tăng chất lƣợng cùng năng xuất cho cây trồng lên rất nhiều.
Phospho giúp cây chịu hạn tốt hơn nhờ khả năng hút nƣớc cao, làm ổn định pH nhờ hệ thống đệm KH2PO4 và K2HPO4, đối với cây họ đậu phospho còn giúp cho quá trình cố định N tốt hơn.1 Hàm lượng và phân bố của lân trong cơ thể thực vật Hàm lƣợng lân P2O5 trong cơ thể thực vật thông thƣờng chiếm khoảng 0,2- 1,1% trọng lƣợng khô của cả cây. Trong đó tồn tại dƣới dạng lân hữu cơ nhƣ các nucleic acid, nucleoprotein, phosphatide và phytin vv. ƣớc chiếm khoảng 85% hàm lƣợng lân, số còn lại là lân vô cơ, chủ yếu tồn tại ở dạng muối phosphate của canxi, magie và kali. Tuy rằng hàm lƣợng các muối phosphate này ít ,nhƣng mức độ tăng giảm của chúng lại có quan hệ cực kì mật thiết với mức độ nguyên tố lân của môi trƣờng bên ngoài.
Vì thế, thông qua kết quả xác định hóa học của các mô trong cơ thể thực vật có thể dùng làm chỉ tiêu chuẩn đoán sự phong phú hay thiếu hụt dinh dƣỡng của cây trồng[1, 7]. Hàm lƣợng lân thay đổi tùy theo chủng loại cây trồng, theo thời kì sinh trƣởng và phát triển của cây và tùy theo các khí quan của các mô thực vật khác nhau. Lân là một nguyên tố có hàm lƣợng tƣơng đối cao trong hạt của cây trồng, 4 chỉ sau nitơ. Ở các loài cây trồng khác nhau hàm lƣợng lân cũng khác nhau.
Hàm lƣợng lân ở các bộ phận khác của cây đều thấp hơn ở hạt và thông thƣờng hàm lƣợng lân ở lá cao hơn ở thân, rễ cây. Trong thời kì sinh trƣởng và phát triển của cây trồng, lân thƣờng tập trung tƣơng đối nhiều ở các bộ phận còn non, nhƣ ở lá non, chồi non, đầu mút rễ cây và ở các khí quan sinh sản hàm lƣợng lân tƣơng đối cao. Cùng một loại cây trồng ở các thời kì sinh trƣởng và phát triển khác nhau, hàm lƣợng lân cũng biến đổi tƣơng đối lớn, hàm lƣợng lân ở cây non thƣờng lớn hơn ở cây thành thục. Ví nhƣ cây lúa nƣớc ở thời kì đẻ nhánh hàm lƣợng lân có thể đạt tới 1,5 %, lúc thấp nhất chỉ còn 0,2 %.
Đồng thời trong các thời kì sinh trƣởng và phát triển khác nhau, quy luật phân phối và tích lũy của lân trong cơ thể thực vật cũng có biến đổi tùy theo sự di chuyển của lân đến các trung tâm sinh trƣởng khác nhau theo từng giai đoạn [4].2 Tác dụng tăng cường quang hợp và tổng hợp vận chuyển các hợp chất hydratcarbon Lân có tác dụng hết sức quan trọng đối với quang hợp, sự chuyển hóa vật chất trong các giai đoạn của quá trình quang hợp hầu nhƣ không thể thiếu đƣợc sự tham gia của lân. Khi ứng dụng chất đồng vị phóng xạ 14C để nghiên cứu con đƣờng cố định CO2 của tác dụng quang hợp, trong chu trình khử carbon thì rubolose diphosphate (RuDP) là thể nhận CO2 sau khi nó tiếp nhận CO2 qua tác dụng thủy phân và tác dụng tách biệt (dismutation) sẽ hình thành nên sản phẩm đầu tiên của quá trình quang hợp đó là phosphoglyceric acid (PGA). Thông qua cố định với 3 phân tử CO2 nữa sẽ có thể kết hợp tạo ra một phân tử đƣờng triose (GPA). Sau đó 2 phân tử triose phosphate lại liên kết với nhau để hình thành phân tử hexose phosphate, quá trình này diễn ra nhƣ sau: 3CO2 + 9ATP + 6NADPH GAP + 9ADP + 8Pi + 6NADP 6CO2 + 8ATP + 12NADPH F-6-P + 18 ADP+ 17Pi + 12NADP Từ công thức phản ứng trên cho thấy ngay từ đầu tác dụng quang hợp đã có sự tham gia của photphoric acid.
NADPH và ATP đƣợc hình thành từ phản ứng 5 quang có thể cung cấp năng lƣợng cho lực khử CO2 và tổng hợp ra đƣờng 6 carbon, từ đó chuyển hóa đƣợc năng lƣợng hóa học hoạt động của NADPH và ATP sang dạng năng lƣợng hóa học ổn định tích trữ trong các hợp chất của hydratcarbon. Trong chu trình C4 thì enolphotpho-piruvic acid (PEP) là thể nhận CO2, sau khi cố định CO2 sẽ hình thành ketosuccinic acid vv…. Acid này sau khi giải thoát nhóm cacboxyl sẽ chuyển thành pyruvic acid, rồi từ đó lại đi vào chu trình C4. Trong toàn bộ quá trình tác dụng quang hợp C4, rất nhiều bƣớc quan trọng là có NADPH và ATP tham gia, ở một vài loài thực vật còn có cả NADP tham gia Năng lƣợng dùng cho tái sinh thể nhận PEP cũng do ATP cung cấp.3 Xúc tiến đồng hóa nguyên tố đạm Lân là một trong những thành phần của enzyme tác động vào quá trình đồng hóa đạm trong cơ thể thực vật, ví nhƣ gốc hoạt tính của enzyme chuyển dịch amino chính là chất pyridoxal phosphate.
Xúc tiến cho các tác dụng amino hóa (Amination), tác dụng giải thoát amino và chuyển dịch amino. Đồng thời, lân có thể tăng cƣờng sự chuyển hóa đƣờng trong tác dụng hô hấp có oxy, có lợi cho sự hình thành các chất hữu cơ và ATP. Keto acid có thể làm thể nhận NH3 để hình thành nên amino acid, còn ATP là nguồn cung cấp năng lƣợng cho sự tổng hợp acid và protein [6]. Lân còn giúp ích cho sự chuyển hóa và sử dụng đạm dạng nitrat trong cơ thể thực vật.
Dƣới tác dụng của enzyme khử nitrat , các muối nitrat trƣớc tiên bị khử thành muối nitrite loại enzyme này là flavoprotein có chứa flavin adenine dinucleotid (FAD). Trong quá trình các muối nitrite bị khử thành NH3 cũng vẫn do enzyme favoproteinase và nhiều các kim loại tham gia hoàn thành, trong đó lân là một nguyên tố cấu thành quan trọng. Lân còn nâng cao khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần loài cây họ đậu, tăng thêm lƣợng cố định đạm [19].