Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VẺ LIÊN KÉT 4 “NHÀ” TRONG SAN XUAT VA TIEU THU LUA VUNG TU GIAC LONG XUYEN, DONG BANG SONG CUU LONG 1.1 Lý luận về liên kết và liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa 1. Liên kết kinh tễ trong quá trình tái sản xuất xã hội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, liên kết là hiện tượng kinh tế khách quan phản ánh bản chất của các quá trình kinh tế của tái sản xuất xã hội, nay sinh trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội và nhu cầu quản lý nền sản xuất xã hội cũng như các quá trình kinh tế. Nhu cầu quản lý đó do tính chất xã hôi của lao động quy định. Khi nghiên cứu quá trình phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã coi sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công xã hội là nguồn gốc dân đến sự ra đời của kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường hiện đại.Mác, su phan chia thành những nghề nghiệp khác nhau trong nền sản xuất xã hội dần tiến tới sự phân công là điểm xuất phát của phân công lao động xã hội.
Theo đó, có phân công chung (phân công giữa các ngành), phân công đặc thù (phân công nội bộ ngành) và phân công cá biệt (phân công trong cơ sở sản xuất).Mác viết: “Nếu người ta chỉ xét riêng bản thân lao động thôi, thì người ta có thé goi su phan chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn như nông nghiệp, công nghiệp, v. là sự phân công lao động chung [im Allgemeinen], và sự phân chia những ngành sản xuất ấy thành loại và thứ - là sự phân công lao động đặc thù [im Besondren], còn sự phân công lao động trong xưởng thợ là sự phân công lao động cá biệt [im Einzelnen]” [3 1, tr. Sự phân công chuyên môn hóa càng sâu, càng đòi hỏi sự hợp tác liên kết trong sản xuất và lưu thông. Chính sự phát triển của phân công và hợp tác dẫn đến sự xuất hiện các mô hình tô chức sản xuất thê hiện tính liên kết (các công ty cổ phần, và cao hơn nữa là các tập đoàn kinh tế lớn các công ty đa quốc gia).
Bên cạnh mô hình liên kết đó là mô hình liên kết của các chủ thẻ kinh tế độc lập với nhau như dạng các chủ hộ kinh tế độc lập, các tập thé người lao động, các doanh nghiệp hoặc các cơ sở nghiên cứu, phục vụ sản xuất (các trạm trại viện nghiên cứu.) liên kết với nhau trong sản xuất, trong tiêu thụ, trong ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, bảo quản, giảm thiểu rủi ro, thất thu sản phẩm. Sau này, trên cơ sở những nguyên lý lý luận của C.Mác và vận dụng phương pháp biện chứng, V.Lênin cũng đã có những nghiên cứu sâu sắc về phân công lao động dẫn đến sự xuất hiện của những quan hệ kinh tế mới giữa các chủ thể trong nền kinh tế Nga (nông dân, chúa đất, công nhân và chủ xưởng) khi những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt dau xuất hiện trong nền kinh tế Nga mang nặng tính tiểu nông và lạc hậu.LLénin da chi ra rang do kết quả của sự phân công xã hội ngày càng tăng, nền kinh tế tự nhiên của những người sản xuất nhỏ dần dần biến thành nền kinh tế hàng hoá [30, tr. Sản xuất hàng hóa phát triển, tức là sự phân công lao động xã hội ngày càng diễn ra phỏ biến và ở một trình độ ngày càng cao đã biến thành nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đó là một quá trình kinh tế tất yếu, chứa đựng trong đó là mối quan hệ vận động khăng khít giữa phân công và hiệp tác [20, tr.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tuy không đề cập đến mối quan hệ giữa phân công và hiệp tác (theo hàm nghĩa sự liên kết) nhưng thông qua lý luận phân công lao động có thể thấy, trong bản chất của nó - sự phân công, đã nói lên rằng sự phân công khách quan chứa đựng nhu cầu phải liên kết. Phân công là tách nền sản xuất thành các ngành, các bộ phận 13 độc lập với nhau, biến chúng thành thị trường tiêu thụ của nhau. Rõ ràng, bản thân quá trình đó đòi hỏi chúng phải làm tiền đề, điều kiện cho nhau để quá trình tái sản xuất diễn ra trót lọt. Như thế sự phân công đòi hỏi có sự hợp tác, liên kết.
Phân công lao động làm cho (biến) các chủ thể kinh tế thành những nhà sản xuất, và tiêu thụ đứng đối diện với nhau trên thị trường. Những chủ thê đó có lợi ích tuy khác nhau nhưng có điểm chung là muốn thực hiện được các lợi ích đó họ phải bằng cách nào đó hợp tác, liên kết với nhau theo những cách thức nhất định. Nhưng để liên kết được với nhau, các chủ thể đó cần một nhân tố khách quan khác làm “bà đỡ” cho họ - sự quản lý với tính cách một chức năng xã hội. Phân công làm cho lao động mang tính xã hội, khi tính chất xã hội của lao động xuất hiện sẽ làm nảy sinh nhu cầu quản lý.
Nói cách khác phân công làm nảy sinh nhu cầu hợp tác, đến lượt nó lao động hiệp tác (trong đó có hàm nghĩa liên kết), đòi hỏi phải có sự quản lý.Mác viết: “Tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nảo tiền hành trên một quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phat sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lay mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [3 1, tr. Những vấn đẻ trên tuy được C.Lênin đề cập từ cuối thé ky XIX, song vân giữ nguyên giá trị khi vận dụng xem xét chúng đối với các hiện tượng, các quá trình kinh tế hiện nay, trong đó có mô hình liên kết kinh tế 4 “nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa - vẫn đề đang được bản luận sôi nổi ở nước ta hiện nay. Ngày nay, do yêu cầu của thực tiễn đặt ra, liên kết kinh tế được các nhà 14 khoa học nghiên cứu từ nhiều khía cạnh.
Trong ngôn ngữ gốc Latin, cụm từ "integration" hay "integratio" được hiểu nghĩa là kết hợp, hoà hợp, hội nhập, hợp nhất, khi dịch ra tiếng Việt có nghĩa rất gần với thuật ngữ liên kết trong kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu nước ta cũng cho rằng các thuật ngữ đó có cùng bản chất với thuật ngữ liên kết trong kinh tế. Theo đó, liên kết kinh tế được hiêu là một hiện tượng kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể kinh tế (các tô chức, các ngành, các địa phương và các đơn vị với nhau) đó là những quan hệ phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác. Theo đó liên kết kinh tế được hiểu vừa là hình thức tô chức sản xuất vừa là cơ chế quản lý.
Hoặc đã coi liên kết kinh tế là những hình thức quan hệ kinh tế thông thường như: mua bán trao đôi hàng hoá thông thường, thuê mướn đất đai, nha xưởng, địa điểm kinh doanh, cho vay vốn. Trong từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam liên kết kinh tế được định nghĩa là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia, nhằm thúc đây sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước [35]. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, khi nói về liên kết kinh tế trong san xuất, lưu thông, dịch vụ của nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã khang định liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyên tiến hành để cùng nhau bàn bạc và để ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúc đây sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất.
15 Ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu khẳng định bản chất của liên kết kinh tế là thê chế kinh tế (institution) và trên cơ sở đó họ đi tìm sự khác biệt giữa nó với hai thể chế còn lại đối lập nhau như hai cực đó là thị trường mở và thứ bậc (ké hoạch mệnh lệnh). Trong sự khác biệt đó họ đặt liên kết kinh tế như là một thể chế kinh tế trung gian giữa hai cơ chế cơ bản nêu trên với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Do tính phong phú của nó, liên kết kinh tế có nhiều cách tiếp cận và nhận thức có những sự khác nhau ở những khia cạnh nhất định. (1) Xem liên kết kinh tế là một cơ chế kinh tế; (2) xem liên kết kinh tế là một hình thức tổ chức sản xuất; (3) Xem liên kết kinh tế vừa là cơ chế kinh tế vừa là hình thức tổ chức sản xuất và điều này đồng nghĩa với việc xem liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế; (4) xem liên kết kinh tế là một quá trình kinh tế.
Tuy nhiên, trên cơ sở những dấu hiệu chung phản ánh tính bản chất của hiện tượng kinh tế này và dưới góc độ của kinh tế chính trị, luận văn nảy lựa chọn cách tiếp cận tổng hòa của bốn vẫn đề nói trên: xem liên kết kinh tế là một trong những con đường biện pháp giải quyết hai hoa các quan hệ kinh tế của các thực thé trong chuỗi liên kết để nâng cao tính bền vững của liên kết, góp phân thúc đây sự phát triển theo hướng bên vững trong sản xuất và tiêu thụ lúa Vùng tứ giác Long Xuyên. Đặc trưng cơ bân của liên kết kinh té Liên kết kinh tế với tính cách là một phạm trù của kinh tế chính trị chứa đựng trong lòng nó những đặc trưng cơ bản sau đây. Một là, liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế độc lập trong điều kiện nên kinh tế đã có sự phân công.