Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào dạy học Địa lí lớp 12 ở TP. Hồ Chí Minh (SGK ban cơ bản)" do sinh viên Nguyễn Thị Hồng Châu thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Luyện tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 5/2010). Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Sư phạm Địa lí (Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Địa lí).
Lý do chọn đề tài xuất phát từ nghịch lý trong thực tiễn dạy học: Địa lí địa phương là một bộ phận cấu thành của Địa lí đất nước, đóng vai trò cầu nối quan trọng giúp học sinh gắn tri thức sách vở với đời sống thực tế. Tuy nhiên, tại các trường trung học phổ thông (THPT) ở Việt Nam, nội dung này chưa được quan tâm đúng mức do thiếu tài liệu chuyên khảo mang tính chuẩn mực như sách giáo khoa (SGK). Chương trình Địa lí 12 ban cơ bản chỉ bố trí 2 tiết Địa lí địa phương ở phần cuối sách—thời điểm học sinh và giáo viên phải dồn lực ôn tập thi tốt nghiệp THPT, khiến tiết học này thường xuyên bị cắt bỏ hoặc giảng dạy chiếu lệ. Trong khi đó, phần lớn các bài học Địa lí Việt Nam (Địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế) đều chứa đựng nhiều mắt xích tri thức có thể gắn kết chặt chẽ với thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh. Việc thiếu hụt sự liên hệ này làm cho giờ học trở nên trừu tượng, nặng về lý thuyết thuần túy.
Đề tài xác định 2 mục tiêu nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu những kiến thức thực tiễn Địa lí địa phương tại TP. Hồ Chí Minh có mối liên hệ trực tiếp với nội dung chương trình Địa lí lớp 12 ban cơ bản.
- Tìm kiếm và đề xuất các giải pháp, phương thức liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào các khâu lên lớp của giờ dạy Địa lí 12 tại TP. Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng bài học, đồng thời bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành 5 nội dung:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào dạy học Địa lí lớp 12 ở trường phổ thông nói chung và tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học Địa lí địa phương và việc liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào dạy học Địa lí Việt Nam hiện nay tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu hệ thống hóa các kiến thức Địa lí địa phương tại TP. Hồ Chí Minh liên quan đến chương trình Địa lí lớp 12.
- Xây dựng các phương án liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào những bài học cụ thể trong chương trình Địa lí lớp 12.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và minh chứng cho các luận điểm lý thuyết đã xây dựng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào tiến trình dạy học Địa lí lớp 12.
- Phạm vi nội dung: Chương trình SGK Địa lí lớp 12 (ban cơ bản).
- Phạm vi không gian: Các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; thực hiện khảo sát thăm dò và thực nghiệm sư phạm tại 4 trường nội thành: THPT Trưng Vương, THPT Tenlơman (Quận 1), THPT Nguyễn Chí Thanh và THPT Nguyễn Thái Bình (Quận Tân Bình).
- Phạm vi thời gian: Khóa học 2006 – 2010, dữ liệu thực tiễn và khảo sát cập nhật giai đoạn 2008 – 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan niệm sư phạm
Cơ sở pháp lý và nguyên lý giáo dục của đề tài dựa trên Luật Giáo dục năm 2005 với định hướng: "Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội".
Về mặt chuyên ngành, tác giả phân chia việc tích hợp tri thức địa phương vào dạy học Địa lí thành 3 mức độ:
- Mức độ 1: Đưa kiến thức Địa lí địa phương vào bài dạy không có nội dung trực tiếp về địa phương thông qua liên hệ thực tế.
- Mức độ 2: Đưa một phần kiến thức Địa lí địa phương vào nội dung bài dạy có một phần liên quan đến địa phương (ví dụ các bài về vùng kinh tế).
- Mức độ 3: Giảng dạy hoàn chỉnh nội dung Địa lí địa phương trong các tiết học độc lập theo chương trình quy định.
Khóa luận tập trung khai thác trọng tâm ở Mức độ 1, coi liên hệ thực tiễn là giải pháp khả thi nhất để bù đắp việc 2 tiết học độc lập (Mức độ 3) thường xuyên bị bỏ qua trên thực tế.
Nội dung liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương được phân tách thành 3 thành tố:
- Đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước tại địa phương (tiêu biểu như các chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2010 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định).
- Các diễn biến thời sự kinh tế – xã hội, thành tựu khoa học – kỹ thuật mới phát sinh mà SGK chưa kịp cập nhật (chẳng hạn biến động về quy mô dân số sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính ngày 01/8/2008).
- Đời sống, vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân học sinh tích lũy qua môi trường sinh sống, gia đình và hoạt động sản xuất thường nhật.
Bốn yêu cầu sư phạm bắt buộc khi tiến hành liên hệ gồm: không làm biến tính đặc trưng bài học (không biến tiết học thành bài Địa lí địa phương riêng biệt); có sự chọn lọc hệ thống, tránh nhồi nhét tràn lan; phát huy tính chủ động nhận thức và kinh nghiệm sống của học sinh; dự trù và phối hợp hiệu quả với các phương tiện dạy học trực quan.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Đặt mối liên hệ giữa giáo viên, học sinh, SGK, tâm lý lứa tuổi và phương tiện trực quan vào một cấu trúc thống nhất.
- Phương pháp phân loại: Rà soát, đối chiếu từng phần, từng bài trong SGK Địa lí 12 ban cơ bản để xác định các đơn vị kiến thức có khả năng dung nạp tư liệu địa phương.
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác số liệu từ Tổng cục Thống kê (website
gso.gov.vn), Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ứng dụng ảnh vệ tinh Google Earth, phần mềm bản đồ MapInfo, các phóng sự truyền hình và báo chí.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm và dạy đối chứng tại trường THPT nhằm thu thập điểm số bài kiểm tra, kiểm chứng tính hiệu quả của phương án đề xuất.
- Phương pháp khảo sát rút kinh nghiệm: Thiết kế phiếu thăm dò lấy ý kiến của 10 giáo viên Địa lí giảng dạy trực tiếp tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào dạy học Địa lí
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm và nguyên lý dạy học bộ môn. Tác giả định nghĩa "Địa phương" là không gian lãnh thổ hành chính (xã, huyện, tỉnh/thành phố) và "Địa lí địa phương" là chuyên ngành nghiên cứu tổng thể các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và kinh tế – xã hội của một bộ phận lãnh thổ cụ thể trong mối quan hệ nhân quả thống nhất hữu cơ. Nội dung ĐLĐP của một tỉnh/thành phố bao gồm 3 trụ cột: tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, khoáng sản); dân cư (số dân, gia tăng dân số, cơ cấu dân số, nguồn lao động, phân bố dân cư, chính sách dân số); kinh tế (công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải).
Chương 1 chỉ rõ nguồn tư liệu thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh rất dồi dào nhưng phân tán, bao gồm: văn kiện chính sách, hệ thống bản đồ/atlat, số liệu thống kê, tranh ảnh cảnh quan, phóng sự thời sự và kinh nghiệm cá nhân của người học. Tác giả cảnh báo khó khăn lớn nhất của giáo viên khi tích hợp là tình trạng "không đồng bộ" giữa số liệu của các cơ quan Trung ương (Tổng cục Thống kê, các Bộ ngành) với số liệu do địa phương ban hành. Về mặt ý nghĩa, việc liên hệ thực tiễn góp phần giải quyết tình trạng học sinh đô thị thờ ơ với môn Địa lí do định kiến môn học xa rời thực tế, đồng thời đáp ứng các nguyên tắc dạy học phát triển tư duy độc lập và bồi dưỡng ý thức trách nhiệm công dân.
Chương 2. Liên hệ thực tiễn Địa lí địa phương vào dạy học Địa lí lớp 12 ở các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Nội dung chương 2 mở đầu bằng bức tranh thực trạng giáo dục phổ thông tại TP. Hồ Chí Minh thời điểm nghiên cứu: năm học 2008 – 2009 toàn thành phố có 81 trường THPT và 55 trường nhiều cấp học (THCS & THPT); đến năm học 2009 – 2010 bổ sung thêm 14 trường THPT mới. Cơ sở vật chất phòng máy, thư viện, máy chiếu đa năng được trang bị khá hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin và giáo án điện tử.
Tuy vậy, kết quả điều tra qua phiếu thăm dò đối với 10 giáo viên tại các trường THPT Trưng Vương, Tenlơman, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thái Bình đã bộc lộ những tồn tại đáng kể:
| Tiêu chí thăm dò giáo viên THPT (n = 10) |
Tỷ lệ lựa chọn ghi nhận |
| Nhận thức về sự cần thiết liên hệ thực tế TP. Hồ Chí Minh vào Địa lí 12 |
8/10 ý kiến đánh giá "Rất cần thiết" / 2/10 ý kiến đánh giá "Đôi khi" |
| Thực hiện 2 tiết Địa lí địa phương chính khóa trên lớp (Câu hỏi 8) |
7/10 giáo viên trả lời "Không" tổ chức giảng dạy trên lớp |
| Nguyên nhân chính bỏ tiết Địa lí địa phương |
Dành thời gian ôn thi tốt nghiệp THPT, giảm tải chương trình, thiếu đề cương chuẩn |
| Đặc điểm đội ngũ giáo viên tác động đến giảng dạy |
Tỷ lệ lớn giáo viên từ địa phương khác chuyển đến, thiếu vốn hiểu biết sâu về TP.HCM |
Từ kết quả thực trạng, tác giả đi sâu thiết kế quy trình liên hệ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh vào cấu trúc một tiết dạy Địa lí 12 qua 3 khâu cơ bản:
- Khâu kiểm tra bài cũ: Thiết kế các câu hỏi tái hiện kiến thức gắn với vận dụng thực tiễn hoặc câu hỏi phụ mở rộng nhằm kích thích tư duy học sinh (Ví dụ: kiểm tra Bài 17 yêu cầu chứng minh việc làm là vấn đề cấp bách dựa trên thực tế thành phố; kiểm tra Bài 25 yêu cầu so sánh trung tâm công nghiệp TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội; Bài 39 yêu cầu phân tích thành tựu phát triển dịch vụ theo chiều sâu của TP. Hồ Chí Minh).
- Khâu vào bài (mở bài): Sử dụng tư liệu địa phương để tạo động cơ học tập thông qua 4 phương án:
- Trình chiếu tư liệu/hình ảnh: Dùng hình ảnh ùn tắc giao thông, ô nhiễm kênh rạch, nhà ở tạm bợ để dẫn nhập Bài 18 (Đô thị hóa).
- Đọc bản tin/bài báo: Dẫn bài viết về mô hình Hội chợ việc làm TP. Hồ Chí Minh (khởi xướng từ tháng 3/1997 với hơn 3.000 người tham gia, mở rộng đồng loạt tại 3 địa điểm vào năm 2004) để mở đầu Bài 17 (Lao động và việc làm).
- Đàm thoại khai thác vốn sống: Trao đổi về mức chênh lệch thu nhập bình quân và nhu cầu tuyển dụng lao động TP. Hồ Chí Minh năm 2010 (lao động đại học chiếm 7,48%, trung cấp nghề 10,27%, lao động chưa qua đào tạo 27%) để dẫn dắt Bài 19.
- Nêu tình huống thực tiễn: Đặt giả định học sinh là Chủ tịch UBND Thành phố đứng trước quyết định phê duyệt dự án giữa doanh nghiệp dệt may và doanh nghiệp lắp ráp xe máy nhằm tạo vấn đề nhận thức cho Bài 17.
- Khâu nghiên cứu kiến thức mới: Tác giả hệ thống hóa các chỉ số thực tế tại TP. Hồ Chí Minh để soi sáng nội dung lý thuyết SGK:
- Bài 1 (Đổi mới và hội nhập): Dẫn chứng thực tế thành phố trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường tài chính - tiền tệ sau khủng hoảng.
- Bài 2 (Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ): Cung cấp tọa độ địa lý 10°22' – 11°22'B và 106°01' – 107°01'Đ; điểm cực Bắc tại xã Phú Mỹ Hưng (Củ Chi), cực Nam tại xã Long Hòa (Cần Giờ), cực Tây tại xã Thái Mỹ (Củ Chi), cực Đông tại xã Thạnh An (Cần Giờ); tiếp giáp 6 tỉnh (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang) và Biển Đông.
- Bài 6 (Đất nước nhiều đồi núi): Minh họa tính chất chuyển tiếp của địa hình thành phố: gò đồi phù sa cổ Củ Chi, Hóc Môn, Bình Long (Thủ Đức); đồng bằng 3 bậc ở Bình Chánh, Nhà Bè; đầm lầy than bùn Thái Mỹ - Lê Minh Xuân; đầm lầy sú vẹt Cần Giờ và giồng cát duyên hải.
- Bài 8 & 9 (Thiên nhiên chịu ảnh hưởng của biển và Nhiệt đới ẩm gió mùa): Phân tích hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, hiện tượng đảo nhiệt đô thị oi bức do khí thải giao thông; phân tích biểu đồ nhiệt độ - lượng mưa với 2 mùa mưa (tháng 5 – 11) và mùa khô (tháng 12 – 4 năm sau).
- Kiến nghị cho 2 tiết Địa lí địa phương: Đề xuất áp dụng phương pháp dạy học theo dự án; chia nhóm 4 – 5 học sinh nghiên cứu chủ đề trước 2 tháng và tổ chức báo cáo, lấy điểm kiểm tra 15 phút hoặc 1 tiết thay vì bỏ trống tiết dạy.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của các giáo án có tích hợp tư liệu TP. Hồ Chí Minh. Tác giả tiến hành thực nghiệm tại 2 cơ sở: Trường THPT Trưng Vương (Quận 1, dưới sự hỗ trợ của cô Phan Thị Lê Hoàng) và Trường THPT Nguyễn Chí Thanh (Quận Tân Bình, dưới sự hướng dẫn của thầy Đặng Duy Định). Quá trình thực nghiệm tuân thủ quy trình chuẩn: xây dựng giáo án thực nghiệm, bố trí các cặp lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có trình độ tương đương, tiến hành giảng dạy theo phương án liên hệ thực tế, tổ chức kiểm tra đánh giá định lượng bằng bài kiểm tra kiến thức và phát phiếu thăm dò thu nhận phản hồi từ giáo viên bộ môn và học sinh sau giờ học.
Kết quả và đóng góp
Kết quả khảo sát và phân tích thực tiễn
Khóa luận đưa ra các bằng chứng định lượng cụ thể phản ánh thực trạng dạy học môn Địa lí tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2010:
- Xác nhận sự mâu thuẫn giữa nhận thức và hành động của giáo viên: 80% giáo viên được khảo sát thừa nhận việc liên hệ thực tế là rất cần thiết đối với khả năng hiểu bài và khắc sâu kiến thức của học sinh, nhưng có tới 70% giáo viên chủ động bỏ dạy 2 tiết Địa lí địa phương chính khóa do áp lực thi cử tốt nghiệp.
- Nhận diện nguyên nhân mang tính đặc thù xã hội: Một bộ phận không nhỏ giáo viên Địa lí tại TP. Hồ Chí Minh xuất thân từ các tỉnh thành khác chuyển về công tác, dẫn đến tâm lý e ngại, thiếu tự tin hoặc thiếu nguồn tư liệu chuẩn xác về địa phương để liên hệ vào bài giảng.
Đóng góp về mặt phương pháp dạy học
- Hệ thống hóa toàn diện các địa chỉ tích hợp: Chỉ ra cụ thể các bài học trong SGK Địa lí 12 ban cơ bản có khả năng liên hệ tư liệu TP. Hồ Chí Minh xuyên suốt từ Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư đến Địa lí kinh tế.
- Đưa ra giải pháp kỹ thuật sư phạm chi tiết: Không dừng lại ở lý luận chung chung, đề tài đã cụ thể hóa việc liên hệ tri thức địa phương vào từng khâu chức năng của một tiết học chuẩn (kiểm tra miệng, mở bài, khám phá kiến thức mới), đi kèm số liệu thực chứng (tọa độ, phân tầng địa hình, số liệu lao động việc làm).
- Đề xuất mô hình dạy học theo dự án cho nội dung giáo dục địa phương: Đưa ra giải pháp giao việc theo nhóm nhỏ trước 2 tháng kết hợp cơ chế quy đổi điểm kiểm tra định kỳ, giải quyết dứt điểm tình trạng tiết Địa lí địa phương bị cắt bỏ vào cuối năm học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi mẫu khảo sát: Do hạn chế về thời gian thực tập sư phạm và điều kiện đi lại, tác giả chỉ mới tiến hành thăm dò ý kiến trên quy mô hẹp với 10 giáo viên tại 4 trường THPT thuộc khu vực nội thành (Quận 1 và Tân Bình), chưa thể khảo sát thực tế tại các trường THPT thuộc huyện ngoại thành (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
- Hạn chế về nguồn tài liệu: Tình trạng số liệu thống kê giữa các cơ quan Trung ương và địa phương thiếu đồng bộ làm ảnh hưởng đến tính nhất quán tuyệt đối của một số dẫn chứng thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra ra toàn bộ các trường THPT ngoại thành; nghiên cứu hoàn thiện quy trình tích hợp kiến thức địa phương ở quy mô sâu hơn, tiến tới biên soạn tập tài liệu/sổ tay chuyên đề Địa lí địa phương TP. Hồ Chí Minh hoàn chỉnh phục vụ giảng dạy cho các khối lớp THPT.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Sư phạm Địa lí: Tham khảo phương pháp thiết kế bài giảng, kỹ thuật chuyển hóa tư liệu kinh tế – xã hội đời sống thành các tình huống sư phạm trên lớp trong các đợt thực tập và giảng dạy sau này.
- Giáo viên Địa lí tại các trường THPT TP. Hồ Chí Minh: Đặc biệt có giá trị đối với các giáo viên từ các tỉnh thành khác chuyển về thành phố công tác, cung cấp hệ thống số liệu, địa danh, tọa độ và hiện tượng địa lý điển hình tại địa phương để sử dụng trực tiếp trong giáo án hàng ngày.
- Cán bộ quản lý chuyên môn và biên soạn tài liệu giáo dục địa phương: Gợi ý mô hình dạy học theo dự án và các hình thức tích hợp liên hệ thực tế trong bối cảnh các tiết học giáo dục địa phương thường bị quá tải hoặc cắt xén.
Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống ví dụ thực tiễn minh họa cho từng bài học trong Chương 2, bao gồm các phương án mở bài bằng tin tức báo chí, kỹ thuật đặt tình huống thực tế và ngân hàng câu hỏi kiểm tra bài cũ mang tính vận dụng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Ba mức độ tích hợp kiến thức Địa lí địa phương được tác giả xác định là gì và đề tài tập trung vào mức độ nào?
Tác giả xác định 3 mức độ: Mức độ 1 là đưa kiến thức Địa lí địa phương vào bài dạy không có nội dung trực tiếp về địa phương thông qua liên hệ thực tế; Mức độ 2 là đưa một phần kiến thức địa phương vào bài dạy có một phần liên quan (như bài về vùng kinh tế); Mức độ 3 là giảng dạy toàn bộ kiến thức địa phương trong bài dạy riêng biệt. Đề tài tập trung chủ yếu vào Mức độ 1, bởi vì các bài dạy riêng về Địa lí địa phương ở lớp 12 (Mức độ 3) chỉ có 2 tiết và thường bị bỏ qua trên thực tế.
2. Khảo sát 10 giáo viên THPT tại TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra thực trạng gì đối với 2 tiết Địa lí địa phương cuối cấp?
Kết quả khảo sát ghi nhận có tới 7/10 giáo viên trả lời "Không" tổ chức giảng dạy 2 tiết Địa lí địa phương trên lớp. Lý do là các tiết này nằm ở cuối chương trình, trùng vào thời điểm công bố môn thi tốt nghiệp THPT, nên giáo viên phải cắt bỏ để dành thời lượng ôn tập các nội dung trọng tâm thi cử hoặc giảm tải chương trình cho học sinh ôn thi môn khác.
3. Tác giả đề xuất những hình thức cụ thể nào để liên hệ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh vào khâu vào bài (mở bài)?
Tác giả đề xuất 4 hình thức mở bài: (1) Trình chiếu hình ảnh/đoạn phim thực tế (như chiếu cảnh ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường để vào bài Đô thị hóa); (2) Đọc thông tin thời sự, bài báo (như đọc phóng sự về Hội chợ việc làm TP. Hồ Chí Minh để vào bài Lao động và việc làm); (3) Đàm thoại, phỏng vấn kinh nghiệm sống của học sinh (như trao đổi về cơ cấu nhu cầu lao động kỹ thuật năm 2010); (4) Đặt tình huống thực tiễn cần giải quyết (giả định học sinh làm Chủ tịch UBND Thành phố lựa chọn cấp phép đầu tư dự án công nghiệp).
4. Về mặt địa hình, tác giả đã liên hệ các dạng địa hình đặc thù nào của TP. Hồ Chí Minh vào Bài 6: "Đất nước nhiều đồi núi"?
Tác giả liên hệ đặc điểm TP. Hồ Chí Minh nằm ở vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các dạng: vùng đồi lượn sóng phù sa cổ ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Long (Thủ Đức); địa hình đồng bằng với 3 bậc khác nhau tại Bình Chánh, Đông Hóc Môn, Nam Củ Chi, Thủ Đức, Nhà Bè; địa hình đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; địa hình đầm lầy sú vẹt tập trung ở huyện Cần Giờ và các giồng cát ven biển.
5. Phương án nào được đề xuất để giải quyết việc học sinh không được học 2 tiết Địa lí địa phương chính khóa?
Tác giả đề xuất giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ (4 – 5 học sinh) và giao nhiệm vụ nghiên cứu các chủ đề Địa lí địa phương trước 2 tháng theo phương pháp dạy học dự án. Đến phân phối chương trình, giáo viên dành 1 tiết hướng dẫn hoàn thiện báo cáo và 1 tiết tổ chức cho các nhóm báo cáo trước lớp, đồng thời khích lệ bằng cách cộng điểm hoặc chấm thành một cột điểm kiểm tra 15 phút hay 1 tiết.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng Châu đã giải quyết thấu đáo vấn đề kết hợp lý luận sư phạm với thực tiễn giảng dạy Địa lí 12 tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh các tiết học địa phương chính khóa thường bị lãng quên. Bằng các số liệu khảo sát thực tế và hệ thống dẫn chứng địa phương xác thực, công trình đã xây dựng thành công quy trình liên hệ tri thức TP. Hồ Chí Minh vào từng khâu lên lớp cụ thể. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng rõ rệt, hỗ trợ thiết thực cho giáo viên THPT và sinh viên sư phạm trong việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Địa lí theo hướng gắn kết tri thức với thực tiễn đời sống.