BO GIAG DUG VADAOTAO (GIAO TRINH DUNG CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐĂNG) ay NHA XUAT BAN GIAO DUC BỘ GIÁO DỤC VA ĐÀO TẠO PGS. BÙI THANH QUẤT (Chủ biên) TS. NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC Bién soan : PGS. Bui Thanh Quat TS.
Bùi Đăng Duy PGS. Nguyễn Tiến Dũng TS. Vương Tất Đạt © TS. Đoàn Đức Hiếu TS.
Nguyễn Như Hải Ths. Nguyễn Quang Hưng TS. Dương Văn Thịnh TS. Đoàn Quang Thọ TS.
Trần Văn Thụy ID(09) - GD-02_ 651/71-02 Mã số: 7X306T2 LỜI GIỚI THIỆU Lịch sử triết học là một học phần trong chương trình môn Triết học Mác - Lênin ở các trường đại học và cao đẳng, giúp cho người học nắm được quá.trình hình thành, phát triển những khái niệm, phạm trù, ngùyên lý, quy luật của tư duy triết học nhân loại. Căn cứ vào chương trình học phần Lịch sử triết học được ban hành theo Quyết định 3244/GD-ĐT ngày 12-9-1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành tạm. thời Bộ chương trình Giáo dục Đại học đại cương dùng trong các trường đại học và cao đẳng, qua thực tiễn giảng dạy và học tập ở các trường trong thời gian vừa qua, Vụ Công tác Chính trị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức biên soạn giáo trình Lịch sử triết học dùng cho khối không chuyên ngành Triết học ở các trường đại học và cao đẳng. Để phù hợp với sinh viên các ngành không chuyên triết, cuốn sách không đi sâu vào giới thiệu và phân tích đầy „ đủ các trường phái triết học và các triết gia thuộc các thời kỳ phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử các dân tộc, các quốc gia trên thế giới mà chỉ dừng lại giới thiệu một cách đại cương sự phát triển tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho tới ngày nay.
Giáo trình Lịch sử triết học này do tập thể các phó giáo su, phó tiến sĩ đang giảng dạy ở các trường đại học, đại điện cho các khối ngành, các khu vực trong cả nước biên soạn và được các phó giáo sư, phó tiến sĩ của Khoa Triết học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Triết học thuộc Trung tâm Nhoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia đọc, góp ý bổ sung. Mặc dà các tác giả đã cố gắng làm việc với tính thần trách nhiệm khoa học, song chắc chắn còn có những hạn chế nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần tái bản sau sách được hoàn chính hơn. Thư từ trao đổi xin liên hệ với Vụ Công tác Chính trị,.
Bộ Giáo dục và Đào tạo 49 Đại Cổ Việt Hà Nội và Nhà xuất bản Giáo dục (Ban Giáo dục) 81 Trần Hưng Đạo Hà Nội. Hà Nội, tháng 6 năm 1999 VỤ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ VÀ NXB GIÁO DỤC BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ' PHAN THU NHẤT KHAI LUAN CHUNG VE LICH SU TRIET HOC I - DOI TUONG CUA LICH SU TRIET HOC 1. Triết học là gì Thuật ngữ triết học ra đời khoảng từ thế ky thi VIII đến thế kỷ thứ VI trước Công nguyên cả ở phương Đông va phương lây. Ở phương Đông, theo người Trung Quốc, triết học có gốc ngôn ngữ là (riết, gồm chữ thu, chit can va chi khẩu hợp thành.
Đây là hình tượng bàn tay của con người cầm búa và bên dưới là cái miệng. Với hình tượng này, người Trung Quốc hiểu rằng triết học không phải là sự mô tả bể ngoài mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, giống như bàn tay của con người dùng búa phanh phui sự vật ra để miệng nói về những cái ẩn náu bên trong sự vật ấy. Với ý nghĩa này, triết học chính là trí, là sự hiểu biết sâu sắc của con người. Ở phương Tây, theo gốc tiếng Hy Lạp, triết học là yêu mến sự thông thái.
Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tỉnh thần -biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người. Nó là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Cho đến nay, đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học nhưng tất cả những cách địnH nghĩa ấy, dù ít hay nhiều vẫn có những nội dung giống nhau : Nghiên cứu thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Khái quát lại, có thể hiểu : Triết học là một hình thái ý thức xã hội ; là học thuyết về những nguyên tắc chung.
của tôn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới ; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Vấn đề cơ bản của triết học. Các trường phái triết học và các phương pháp triết học a) Vấn đề cơ bản của triết học Triết học cũng như những ngành khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Những vấn đề đó tạo nên hệ vấn đề của từng ngành khoa học.
Tuy nhiên, vai trò của các vấn để trong hệ vấn dé không giống nhau, trong đó bao giờ cũng có một hay một số vấn đề cực kỳ quan trọng, quan trọng đến mức nó là nền tảng và là điểm xuất phát mang tính định hướng để giải quyết những vấn đề còn lại. Đấy chính là vấn đề cơ bản của ngành khoa học Ấy. Mỗi ngành khoa học có những vấn để cơ bản của riêng mình. Vân đề cơ bản của triết học bì mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Van dé co ban của triết học có hai mặt : Mặt thứ nhất : Giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào ? 6 Mặt thứ hai : Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không ? Giải quyết hai mặt trên liên quan trực tiếp đến việc hình thành các trường phái triết học và các phương pháp nhận thức của triết học. b) Các trường phái triết học Việc phân định các trường phái triết học liên quan đến mặt thứ nhất trong vấn để cơ bản của triết học. Giải quyết mặt này có ba cách : Một là, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Cách giải quyết này thừa nhận tính thứ nhất ——— của vật chất, tính thứ hai của ý thúc.
Hai là, ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất. Cách giải quyết này thừa nhận fính thứ nhất của ý thức, tính thứ hai của vật chất. Ba là, vật chất và ý thức tồn tại độc lập, chúng không nằm trong quan hệ sản sinh, cũng không nằm trong quan hệ quyết định nhau. Trong ba cách giải quyết trên thì : _ ÖỔ Cách giải quyết thứ nhất và cách giải quyết thứ hai tuy đối lập nhau về nội dung nhưng giống nhau ở chỗ chúng đều chỉ thừa nhận tính thứ nhất của một nguyên thể (hoặc vật chất, hoặc ý thức) Những cách giải quyết này thuộc về triết học nhất nguyên.
Trong triết học nhất nguyên, những người khẳng định, tính thứ nhất của vật chất thuộc trường phái triết học nhất nguyên duy vật, còn gọi là chủ nghĩa duy vật. Những người khẳng định tính thứ nhất của ý thức thuộc trường phái triết học nhất nguyên duy tâm, còn gọi là chủ nghĩa. - Cho đến nay, chủ nghĩa duy vat đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản : chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ - nghia duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chúng. + Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại, nó mang nặng tính trực quan ngây thơ, chất phác.
Tuy còn rất nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên, nó không viện đến một thần linh hay thượng đế nào khi nói về vũ trụ. + Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật. Thể hiện khá rõ từ thế kỷ XV, chủ nghĩa duy vật siêu hình đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ thứ XVIH, XVHI. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển thư được những thành tựu rực rỡ "nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc - phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập và bất biến.
Tuy không phản ánh đúng hiện thực nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống 'thế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là ở giai đoạn lịch sử chuyển tiếp "từ đêm trường trung cổ sang thời Phục hưng". + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C. Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ thứ XIX, sau đó được V. Lênin phát triển.
Với sự kế thừa tỉnh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ. khi mới ra đời đã khắc phục hạn chế 8 cua chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình, thể hiện là đỉnh cao nhất trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực như chính bản thân nó tồn tại, mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực. - Chủ nghĩa duy tâm ngay từ đầu đã thể hiện một sự không nhất quán.
Nó chia thành hai phái : Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan. + Chú nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người. Trong khi phủ nhận sự tổn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng. định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của chủ thể, của con người.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng đấy là ý thức khách quan, có trước và tổn tại độc lập với con người. Ý thức khách quan này thường được các nhà triết học duy tâm gọi bằng các: tên gọi khác nhau như ý niệm, tính thần tuyệt đối, lý tính thế giới, v.