Tổng quan luận án

Công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong lực lượng Công an nhân dân được hình thành từ năm 1946. Bước vào giai đoạn từ năm 2000 trở đi, hệ thống các cơ sở đào tạo của ngành Công an phát triển với quy mô gồm 4 học viện, 4 trường đại học, 4 trường cao đẳng và 6 trường trung cấp. Trong bộ máy đó, đội ngũ giảng viên được xác định là lực lượng trí thức giữ vị trí trọng yếu, quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Đảng ủy Công an Trung ương, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân (nay là Tổng cục Chính trị Công an nhân dân) và Đảng ủy các học viện, trường đại học, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên giai đoạn này đã bộc lộ những hạn chế về tính đồng bộ, sự hợp lý trong cơ cấu số lượng và chất lượng, cũng như tính hệ thống trong chỉ đạo thực hiện. Trước bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đặt ra đòi hỏi phải tổng kết thực tiễn, làm rõ các luận cứ khoa học để kiện toàn đội ngũ giảng viên. Luận án "Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân từ năm 2001 đến năm 2010" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Trang, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 03 15), bảo vệ năm 2017 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bình Ban và TS Nguyễn Thị Thanh, đã giải quyết khoảng trống này.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an Trung ương đối với công tác xây dựng đội ngũ giảng viên tại các học viện, trường đại học Công an nhân dân giai đoạn 2001 - 2010, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá và đúc kết các kinh nghiệm lịch sử phục vụ giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khảo sát thực trạng, làm rõ các yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân của Đảng bộ Công an Trung ương và thực trạng đội ngũ giảng viên trước năm 2001.
  2. Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an về xây dựng đội ngũ giảng viên giai đoạn 2001 - 2010.
  3. Phân tích, làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Công an Trung ương (bao gồm Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân và Đảng bộ các học viện, trường đại học) trên các mặt tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với giảng viên từ năm 2001 đến năm 2010.
  4. Đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ Công an Trung ương giai đoạn này.
  5. Đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ Công an Trung ương trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân từ năm 2001 đến năm 2010.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào chủ trương và quá trình chỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân của Đảng bộ Công an Trung ương từ năm 2001 đến năm 2010.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Tập trung vào chủ trương và chỉ đạo trên 3 mặt công tác chính: tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện chế độ, chính sách cho đội ngũ giảng viên.
  • Thời gian: Giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2010.
  • Không gian: Đội ngũ giảng viên cơ hữu thuộc các học viện, trường đại học Công an nhân dân trên phạm vi toàn quốc; trong đó tập trung khảo sát trực tiếp tại 5 cơ sở đào tạo gồm: Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy ở khu vực phía Bắc; Trường Đại học An ninh nhân dân và Trường Đại học Cảnh sát nhân dân ở khu vực phía Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo cứu khối lượng tài liệu khoa học liên quan đến đề tài, phân chia thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế.

Đối với các công trình nước ngoài nghiên cứu về vai trò, năng lực và phương pháp giảng dạy đại học, tác giả điểm lại: cuốn sách "The Joy of teaching" của Peter Filence phân tích mối quan hệ ba chiều giữa giảng viên, sinh viên và môn học, nêu 5 phẩm chất của giảng viên gồm lòng nhiệt tình, sự rõ ràng, biết cách tổ chức, biết cách khơi dậy và biết quan tâm; công trình "Effective college teaching" của Wilbert J. McKeachie và James A. Kulik nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy trong các ngành khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên, toán học và tâm lý học; ấn phẩm "Qualities of effective teacher" của James H. Stronge xác lập hệ thống yếu tố hình thành người giáo viên tốt; tác phẩm "Teacher’s Professional Development" của Jaap Scheerens làm rõ mối quan hệ giữa phong cách, năng lực và kết quả giảng dạy; cuốn sách "The Art and science of teaching" của Robert J. Marzano nghiên cứu kỹ năng sư phạm, lập mục tiêu và quản lý lớp học; công trình "Peut-on former les enseignants" của Michel Develay bàn về các nguyên tắc và mô hình đào tạo giảng viên; cuốn "What the best college teachers do" của Ken Bain đúc kết các hoạt động giảng dạy và phương thức kiểm định, tự đánh giá của nhà giáo đại học.

Đối với các công trình trong nước nghiên cứu về giảng viên ngoài lực lượng Công an nhân dân, tác giả phân tích các nghiên cứu tiêu biểu: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay" của Ngô Văn Hà; "Tính tích cực giảng dạy của giảng viên đại học" của Nguyễn Thị Tình; "Những đặc điểm nhân cách tạo thành uy tín của nữ giảng viên đại học đối với sinh viên" của Hoàng Mộc Lan; "Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam" của Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan; "Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp" của Lê Đức Ngọc; "Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân văn trong các trường đào tạo sỹ quan quân đội" của Nguyễn Văn Tháp; "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của các trường đại học khối kinh tế Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác quốc tế" của Phan Thủy Chi; "Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục" của Nguyễn Văn Đệ; "Phát triển bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học của giảng viên trẻ khoa học xã hội nhân văn ở các trường sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam" của Lương Thanh Hân; "Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường cao đẳng khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh ở nước ta hiện nay" của Trần Văn Khởi; "Thực trạng và một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội" của Phạm Văn Thuần; "Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ giảng viên trong các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Hòa; "Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay" của Trần Xuân Bách; "Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế" của Nguyễn Văn Lượng.

Đối với các công trình nghiên cứu trong ngành Công an nhân dân, tác giả khảo cứu hệ thống lịch sử truyền thống các trường: "Lịch sử Học viện An ninh nhân dân (1946-2006)", "Lịch sử biên niên Học viện An ninh nhân dân (1996-2016)", "Lịch sử biên niên Học viện Cảnh sát nhân dân" các giai đoạn 1968-2002 và 1968-2008, "Lịch sử Trường Đại học Cảnh sát nhân dân" các giai đoạn 1976-2006 và 1976-2016, "Lịch sử Trường Đại học Phòng cháy, chữa cháy" các giai đoạn 1976-2006, 2006-2011 và 1976-2016. Bên cạnh đó là các luận án, đề tài: "Quản lý chất lượng đào tạo đại học trong các học viện, trường Công an nhân dân" của Nguyễn Văn Ly; "Phát triển đội ngũ giảng viên đại học Công an nhân dân theo hướng chuẩn hóa" và "Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên nghiệp vụ các trường Trung học cảnh sát Bộ Công an" của Tống Văn Khuông; đề tài "Các giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các trường Công an nhân dân đến năm 2015 và hướng tới năm 2020" do Cấn Văn Chúc chủ nhiệm; kỷ yếu hội thảo "Xây dựng đội ngũ nữ giảng viên tại Học viện Cảnh sát nhân dân đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo"; các bài viết chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Công an như Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, Lê Hồng Anh, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Ngọc; các nghiên cứu chuyên ngành của Đặng Văn Hải, Lương Hữu Hiền, Đỗ Đình Hòa, Lê Minh Hùng, Nguyễn Bình Ban, Nguyễn Hải Hưng, Đinh Hữu Phượng, Vũ Hồng Sơn, Phùng Thế Vắc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên dưới góc độ tâm lý học, sư phạm học hoặc khoa học quản lý giáo dục; một số nghiên cứu trong lực lượng Công an nhân dân chỉ tập trung vào một phân khúc giảng viên nghiệp vụ hoặc khảo sát tại từng trường đơn lẻ, từng nội dung đào tạo riêng biệt. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an Trung ương đối với toàn bộ các mặt tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách cho đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân trong suốt thập niên 2001 - 2010 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo, về công tác cán bộ, về xây dựng lực lượng Công an nhân dân và phát triển đội ngũ nhà giáo.

Khung khái niệm và cơ sở phân tích được xác lập từ quy định của pháp luật và tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang:

  • Giảng viên được định vị theo khoản 3 Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005, là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở cơ sở giáo dục đại học, bao gồm các chức danh: trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư; chuẩn trình độ đào tạo là thạc sĩ trở lên.
  • Đội ngũ giảng viên được xác định là tập hợp những người làm nghề dạy học, nghiên cứu khoa học, được tổ chức thành lực lượng có chung mục tiêu đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng.
  • Xây dựng đội ngũ giảng viên là việc tác động liên tục và có kế hoạch vào cơ cấu số lượng, chất lượng nhằm đảm bảo sự cân đối, đồng bộ, hoàn chỉnh, bao gồm 3 nội dung trọng tâm: tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ.
  • Giảng viên các trường đại học, học viện Công an nhân dân mang tính đặc thù kép: vừa là nhà giáo, vừa là sĩ quan Công an nhân dân. Họ phải bảo đảm trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học; đồng thời phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, tinh thông nghiệp vụ công an, có sức khỏe và chấp hành nghiêm kỷ luật, điều lệnh của lực lượng vũ trang.

Về cơ chế lãnh đạo của Đảng: Quyết định số 110-QĐ/TW ngày 30/8/1990 của Bộ Chính trị xác lập việc thành lập Đảng ủy Công an Trung ương, chuyển phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Công an nhân dân từ cơ chế "lãnh đạo đảm bảo" sang cơ chế "lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt". Các quy định tiếp theo của Bộ Chính trị như Quy định số 38-QĐ/TW (1998), Quy định số 107-QĐ/TW (2004), Quy định số 88-QĐ/TW (2007) xác định Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo xuyên suốt các tổ chức đảng trực thuộc Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân và các học viện, trường đại học trong ngành.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng định tính lịch sử kết hợp phân tích logic:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu, được vận dụng kết hợp để tái hiện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ Công an Trung ương qua từng mốc thời gian, đồng thời chỉ ra quy luật vận động nội tại của công tác phát triển đội ngũ giảng viên.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để chia tách và đánh giá hai giai đoạn phát triển (2001 - 2005 và 2006 - 2010), từ đó tổng hợp thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê: Chọn lọc, xử lý số liệu khảo sát về số lượng, trình độ, ngạch bậc, kết quả giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên.
  • Phương pháp khảo sát: Thu thập tài liệu thực tế tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Trường Đại học An ninh nhân dân và Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả giữa hai thời kỳ 2001 - 2005 và 2006 - 2010, so sánh các chỉ số của khối trường Công an với hệ thống giáo dục đại học quốc dân.
  • Phương pháp chuyên gia: Tổ chức tọa đàm, tham vấn ý kiến các nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học và lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo trong ngành Công an.

Nguồn dữ liệu của luận án gồm: Tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy Công an Trung ương và Hội nghị Công an toàn quốc; nghị quyết của Đảng bộ Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân; các báo cáo tổng kết năm học của Cục Đào tạo (giai đoạn 1997 - 2010); văn kiện đại hội đảng bộ và báo cáo thường niên của 5 học viện, trường đại học khảo sát; các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương này phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước chia theo các nhóm nội dung: công trình quốc tế bàn về phẩm chất và phương pháp của nhà giáo đại học; công trình trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực giáo dục đại học và đội ngũ giảng viên các trường đại học, trường sĩ quan quân đội; các công trình nghiên cứu về nhà giáo trong lực lượng Công an nhân dân. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã cung cấp nhiều cơ sở phương pháp luận và dữ liệu thực tế nhưng chủ yếu đứng trên góc độ khoa học quản lý giáo dục hoặc tâm lý học. Luận án xác định 4 nội dung trọng tâm cần giải quyết: làm rõ nhận thức về vị trí, vai trò của giảng viên Công an nhân dân; hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng bộ Công an Trung ương; phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện trên các mặt công tác cụ thể; rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm lịch sử giai đoạn 2001 - 2010.

Chương 2: Xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân trong Đảng bộ Công an Trung ương từ năm 2001 đến năm 2005

Chương 2 làm rõ những yếu tố tác động, bối cảnh thực tiễn và sự chỉ đạo của Đảng bộ Công an Trung ương trong giai đoạn 2001 - 2005. Về mặt tổ chức, năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 154/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học An ninh nhân dân và Quyết định số 152/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Cảnh sát nhân dân trên cơ sở nâng cấp hai phân hiệu phía Nam thành trường đại học độc lập. Trước đó, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy được thành lập theo Quyết định số 203/1999/QĐ-TTg. Về áp lực đào tạo, lưu lượng học viên toàn ngành từ 7.813 người năm 1997 tăng lên 18.133 người vào năm học 2001 - 2002 (tăng 43%).

Trên cơ sở Nghị quyết số 04/NQ-ĐU ngày 22/4/1997 của Đảng ủy Công an Trung ương, Chương trình số 305/CT-BCA ngày 23/4/1997 và Quyết định số 551/1998/QĐ-BCA ban hành Đề án xây dựng đội ngũ giáo viên với mục tiêu đến năm 2000 có 50% giáo viên đại học đạt trình độ thạc sĩ trở lên (trong đó 15% là tiến sĩ), Đảng bộ Công an Trung ương đã tập trung chỉ đạo các mặt công tác:

Tiêu chí Năm 1998 Năm 2001 Mức biến động
Tổng số giảng viên đại học, cao đẳng 520 người 582 người Tăng 62 người (11,9%)
Trình độ Tiến sĩ Chiếm 6,8% (phó tiến sĩ) 44 người (7,56%) Tăng 0,76%
Trình độ Thạc sĩ Gộp chung trong trên ĐH 244 người (41,9%) Tăng 16,9% so với 1998
Trình độ Cử nhân đại học Cơ bản đạt 100% môn dạy 342 người (58,76%) Tỷ lệ còn cao
Trình độ Trung học Giảng viên võ thuật, thực hành 6 người (1,03%) Tỷ lệ thấp

Công tác tuyển chọn: Năm 2001 tuyển bổ sung được 51 giảng viên nhưng toàn hệ thống vẫn thiếu 52 chỉ tiêu (Học viện An ninh nhân dân thiếu 22 chỉ tiêu, Đại học An ninh nhân dân thiếu 19 chỉ tiêu).

Công tác đào tạo, bồi dưỡng: Tính đến năm 2001, có 59 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh, 83 giảng viên học cao học, 71 người học đại học, cao đẳng và 1 người học trung học. Riêng năm 2001, cử 158 giảng viên bồi dưỡng nghiệp vụ công an, 44 giảng viên bồi dưỡng lý luận chính trị, 4 giảng viên học ngoại ngữ và 53 giảng viên bồi dưỡng các chuyên đề khác.

Hoạt động phong trào và thực tế: Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 142/2000/QĐ-BCA ban hành Điều lệ Hội giảng các trường Công an nhân dân; Quyết định số 494/2000/QĐ-BCA quy định về việc đi công tác thực tế của giáo viên. Năm học 2000 - 2001, các trường đã cử 147 giảng viên đi thực tế tại công an địa phương (chiếm 25,2% tổng số giảng viên); trong đó Học viện An ninh nhân dân cử 45 người (26,6%), Đại học Cảnh sát nhân dân cử 46 người (42%).

Chế độ, chính sách: Thực hiện Thông tư số 09/TT-BNV(X11) năm 1995 về trả lương thừa giờ; Công văn số 514/X14 năm 1995 quy định tiền thưởng đạt danh hiệu Nhà giáo Nhân dân là 2.000.000 đồng, Nhà giáo Ưu tú là 1.000.000 đồng, Giảng viên giỏi là 500.000 đồng, hỗ trợ 5.000 đồng/người cho cả khóa học nghiên cứu sinh. Quyết định số 49/1999/QĐ-BCA quy định trần cấp bậc hàm: Giáo sư trần Thiếu tướng, Phó Giáo sư trần Đại tá, Giảng viên chính trần Thượng tá, Trợ giảng trần Đại úy. Quyết định số 496/2000/QĐ-BCA quy định tiêu chuẩn xét chọn danh hiệu giảng viên giỏi.

Hạn chế chỉ ra trong chương là mục tiêu Đề án theo Quyết định 551 không đạt kế hoạch: Năm 2001, tỷ lệ thạc sĩ chỉ đạt 16,9% (mục tiêu 50%), tiến sĩ đạt 7,56% (mục tiêu 15%); hiện tượng giảng viên có trình độ đại học dạy đại học vẫn phổ biến (chiếm 58,76%); kế hoạch tuyển dụng mang tính tình thế, thiếu dự báo dài hạn.

Chương 3: Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên từ năm 2006 đến năm 2010

Chương 3 phản ánh sự chuyển biến trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên trước yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế và cải cách hành chính tư pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học. Đảng bộ Công an Trung ương tập trung chỉ đạo các giải pháp điều chỉnh cơ cấu, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh giảng viên, tăng cường đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, đào tạo giảng viên ở nước ngoài, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học gắn với tổng kết thực tiễn chiến đấu của các tổng cục nghiệp vụ. Công tác đánh giá, phân loại, bổ nhiệm ngạch giảng viên và thực hiện các chế độ phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thâm niên được triển khai đồng bộ hơn nhằm tạo động lực công tác cho đội ngũ nhà giáo.

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết hệ thống nhận xét về ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các bài học kinh nghiệm. Ưu điểm nổi bật là đội ngũ giảng viên có sự phát triển về số lượng và bước chuyển biến về chất lượng chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàng, bảo đảm giảng dạy khối lượng học viên tăng nhanh. Hạn chế là cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối giữa khoa học nghiệp vụ và khoa học cơ bản, tỷ lệ có học hàm, học vị cao chưa đồng đều giữa các học viện phía Bắc và các trường phía Nam; chính sách đãi ngộ còn một số điểm chưa theo kịp thực tế. Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:

  1. Thường xuyên quán triệt và giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng ủy Công an Trung ương đối với công tác giáo dục - đào tạo và xây dựng đội ngũ giảng viên.
  2. Quy hoạch, xây dựng đội ngũ giảng viên phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và gắn chặt với quy mô đào tạo, nhu cầu sử dụng cán bộ của toàn lực lượng.
  3. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị với hoạt động luân chuyển thực tế tại các đơn vị chiến đấu.
  4. Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ hệ thống quy chế, tiêu chuẩn chức danh, chế độ chính sách đãi ngộ tạo động lực cho giảng viên.
  5. Phát huy vai trò chủ động của các học viện, trường đại học gắn với sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị nghiệp vụ trong việc tạo nguồn và bồi dưỡng giảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ nhận thức về vị trí, vai trò, đặc điểm và yêu cầu chuẩn hóa đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học, học viện Công an nhân dân trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Luận án luận giải cơ sở khoa học của phương thức lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công tác đào tạo cán bộ công an.

Về mặt thực tiễn, luận án đã phục dựng bức tranh lịch sử về chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ Công an Trung ương đối với công tác xây dựng đội ngũ giảng viên từ năm 2001 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu, tư liệu tin cậy về các khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển thực tế và chế độ đãi ngộ đối với giảng viên công an. Những nhận xét và bài học kinh nghiệm được rút ra là luận cứ khoa học phục vụ công tác tham mưu cho Đảng ủy Công an Trung ương, Tổng cục Chính trị Công an nhân dân và Đảng ủy các học viện, trường đại học trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực giảng dạy đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án nằm ở phạm vi khảo sát: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu đội ngũ giảng viên cơ hữu trong giai đoạn 2001 - 2010 và tập trung vào 5 học viện, trường đại học (Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Trường Đại học An ninh nhân dân, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân), chưa bao quát toàn bộ các cơ sở đào tạo bậc cao đẳng, trung cấp hoặc các trung tâm huấn luyện nghiệp vụ của ngành Công an.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Công an Trung ương đối với đội ngũ giảng viên từ năm 2011 đến nay, hoặc đi sâu đánh giá chuyên biệt về đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng và đội ngũ cán bộ nghiên cứu tại các viện, cục nghiệp vụ tham gia công tác giáo dục trong toàn lực lượng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan tham mưu chiến lược của Bộ Công an, trực tiếp là Cục Đào tạo và Cục Tổ chức cán bộ, trong việc hoạch định chính sách tuyển chọn, quy hoạch và đãi ngộ giảng viên các trường Công an nhân dân.
  • Cấp ủy, Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu các học viện, trường đại học Công an nhân dân trong việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chức danh, cử cán bộ luân chuyển thực tế và tổ chức hội giảng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quản lý giáo dục khi nghiên cứu về lịch sử xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hoặc chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo Việt Nam.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao là hệ thống tư liệu lịch sử, các nghị quyết, quyết định của Bộ Công an trong Chương 2 và Chương 3, cùng hệ thống bảng số liệu thống kê về cơ cấu học vị, học hàm và chỉ tiêu tuyển dụng giai đoạn 2001 - 2010.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu trình độ đội ngũ giáo viên đại học Công an nhân dân đặt ra đến năm 2000 trong Đề án theo Quyết định số 551/1998/QĐ-BCA là gì và kết quả thực tế năm 2001 ra sao? Theo Quyết định số 551/1998/QĐ-BCA, Bộ Công an đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 có 50% giáo viên giảng dạy ở đại học, cao đẳng đạt trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó có 15% đạt trình độ tiến sĩ, phó tiến sĩ. Tuy nhiên, số liệu thực tế đến năm 2001 cho thấy tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ chỉ đạt 16,9% và tiến sĩ đạt 7,56%, chưa đạt mục tiêu đề ra.

  2. Quy định tạm thời về trần cấp bậc hàm của các chức danh giảng dạy đại học Công an nhân dân theo Quyết định số 49/1999/QĐ-BCA được phân cấp như thế nào? Theo Quyết định số 49/1999/QĐ-BCA ngày 26/01/1999 của Bộ trưởng Bộ Công an, trần cấp bậc hàm cho các chức danh giảng dạy bậc đại học được quy định tạm thời gồm: chức danh Giáo sư được đề nghị thăng cấp bậc hàm đến Thiếu tướng; chức danh Phó Giáo sư được xét thăng cấp bậc hàm đến Đại tá; chức danh Giảng viên chính được xét thăng cấp bậc hàm đến Thượng tá; chức danh Trợ giảng được xét thăng cấp bậc hàm đến Đại úy.

  3. Điểm đặc thù của giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân so với giảng viên đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân là gì? Giảng viên các trường Công an nhân dân mang đặc điểm kép: vừa là nhà giáo, vừa là sĩ quan Công an nhân dân. Họ không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn chung của Luật Giáo dục về chuyên môn và kỹ năng sư phạm mà còn phải tuyệt đối trung thành với Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chấp hành nghiêm điều lệnh, sẵn sàng chiến đấu, tinh thông nghiệp vụ chuyên ngành công an và phải duy trì hoạt động luân chuyển công tác thực tế tại các đơn vị chiến đấu.

  4. Cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng Công an nhân dân có sự thay đổi mang tính bước ngoặt nào từ năm 1990? Ngày 30/8/1990, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 110-QĐ/TW thành lập Đảng ủy Công an Trung ương. Quyết định này đánh dấu sự chuyển đổi về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Công an nhân dân: chuyển từ cơ chế "lãnh đạo đảm bảo" sang cơ chế "lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt", khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng đối với công tác tổ chức cán bộ và đào tạo trong lực lượng.

  5. Việc nâng cấp hai trường đại học độc lập ở phía Nam của ngành Công an diễn ra vào thời điểm nào và căn cứ vào văn bản nào? Ngày 28/7/2003, Phó Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 152/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (tách ra từ Phân hiệu Học viện Cảnh sát nhân dân). Tiếp đó, ngày 30/7/2003, Phó Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 154/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học An ninh nhân dân (tách ra từ Phân hiệu Học viện An ninh nhân dân), chuyển hai đơn vị này thành các trường đại học độc lập phụ trách đào tạo tại khu vực phía Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Trang đã tái hiện tiến trình lịch sử Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân trong giai đoạn 2001 - 2010. Bằng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic dựa trên nguồn tài liệu lưu trữ của ngành Công an, công trình đã làm rõ những thành tựu về quy mô, chất lượng chuyên môn cũng như chỉ ra những bất cập về cơ cấu và chính sách đãi ngộ. Các bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học của lực lượng Công an nhân dân trong các giai đoạn tiếp theo.