HQC VIEN BAO CHi VA TUYEN TRUYEN TRAN VAN HAI LANH DAO, QUAN LY HOAT DONG XUAT BAN (GIAO TRINH) - Hà Nội- 2014 1.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH DAO CUA DANG DOI VỚI HOẠT DONG XUẤT BẢN 1. Nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản chủ yếu bao pồm những vấn đề cụ thé sau: - Hoạch định đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển công tác xuất bản; lãnh đạo xây dựng các thể chế và thiết chế hoạt động xuất bản; - Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng trong lĩnh vực xuất bản; - Kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng | trong công tác xuất bản. Như vậy, Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua các cơ quan nhà nước và đội ngũ đảng viên của Đảng trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản. Phương thức lãnh đạo của Đẳng đối với hoạt động xuất bản Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản có thê được phân thành 3 cấp độ với các nội dung yêu cầu và phương pháp lãnh đạo khác nhau.
Cụ thể là: 1. Ở cấp trung wong Đảng thực hiện phương thức lãnh đạo thông qua việc xây dựng quan điểm, đường lối, các phương hướng nhiệm vụ chính trị — tư tưởng, phương châm hoạt động xuất bản; quy định các biện pháp, chính sách điều tiết xuất bản. Đồng thời, Đảng cũng hoạch định cơ cấu tổ chức toàn bộ mạng lưới hoạt động xuất bản cả nước, chỉ đạo công tác tổ chức và đào tạo cán bộ, nhất: là đội ngũ cán bộ chủ chốt của ngành xuất bản. Cấp ngành, đoàn thé trang ương và các cấp uỷ địa phương (tính, thành phố) Đây là cấp lãnh đạo của từng ngành hoặc từng địa bàn lãnh thổ, là cơ quan chủ quản của các nhà xuất bản.
Ở cấp này, phương thức lãnh đạo mang tính chất trực tiếp và cụ thể gon. Nội dung chủ yếu của lãnh đạo cấp này là quán triệt phổ biến các quan điểm nghị quyết của Trung ương về xuất bản; hướng dẫn, chỉ đạo việc vận dụng các quan điểm, đường lối, phương hướng chung vào từng ngành, từng địa phương sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất. _ Cấp lãnh đạo này phải quan tâm lãnh đạo toàn diện hoạt động xuất bản. của ngành và địa phương mình.
như: xác định tôn chỉ mục đích, quan điểm chính trị, công tác tổ chức cán Độ, định hướng dé tài, bảo đảm các điều kiện cho hoạt động xuất bản của ngành và địa phương phát triển lành mạnh, hiệu quả. Khác với lãnh đạo ở tầm vĩ mô, cấp này không bao quát toàn bộ hệ thống mà chỉ tập trung vào một ngành, một địa phương trong hoạt động xuất bản. Năng lực lãnh đạo của. cấp này có tác dụng thực tế cụ thể đối với các hoạt động xuất bản ở cơ sở và là một bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của hệ thống hoạt động xuất an ca nước.
Cấp uy dang cơ Sở Cấp ủy cơ sở trong hoat: động xuất bản là người chịu trách nhiêm về chính trị — tư tưởng trong cội vã tac của các CƠ SỞ xuất bản. Cap nay, mot mat phat quan triệt sâu sắc các quan điểm đường lỗi của Đảng và phương hướng nhiệm vụ của ngành, đoàn thể hoặc địa phương là cơ quan chủ quản, mặt khác phải chỉ đạo việc vận dụng các nội dung trên vào công tác thực tiễn của các đơn vị xuất bản. Sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng cơ sở của đơn vị xuất bản phải hướng mọi hoạt động của cán bộ đảng viên, nhân viên trong nhà xuất bản vào việc triển khai và thực hiện công tác chuyên môn đúng với chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ mục đích của nhà xuât bản, hoàn thành kê hoạch chuyên môn; kiêm tra thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng đảng viên theo chức trách được giao, khong kể đó là Tổng biên tập hay cán bộ, viên chức bình thường. Việc phân cấp nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp tổ chức Đảng đối với hoạt động xuất bản như trình bày trên là một nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, của đòi hỏi nâng cao tính đảng trong hoạt động xuất bản.
NỘI DUNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỒI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 2. Hệ thống bộ máy và đặc điểm quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam 2. Hệ thông bộ máy quản lý nhà nước về xuất bản Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xuất bản Việt Nam được xây dựng theo Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Luật Xuất bản và các văn bản của Chính phủ. Quốc hội là cơ quan nhà nước cao nhất có quyền lập pháp.
Quốc hội quyết định, ban bố và sửa đổi luật, pháp lệnh về hoạt động xuất bản. Chính phủ thỗng nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong cả nước, bao gồm các việc: trình dự án luật, pháp lệnh, ban hành Nghị định. về hoạt động xuất bản; quyết định về quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản, chính sách đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài; ban hành quyết định về quản lý nhà nước và các chính sách khác về xuất bản, in, phát hành theo thẩm quyền quy định tại Luật Tổ chức chính phủ (Theo chương IV ~ Luật Xuất bản 1993). Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về xuất bản trên cả nước.
Nhiệm vụ quản lý cụ thể của Bộ Thông tin và Truyền thông là: 1. Thống nhất quản lý, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản dài hạn và hằng năm; quản lý việc thực hiện kế hoạch xuất bản, chăm lo việc tổ chức đào lạo, bồi dưỡng cán bộ xuất bản. Xây dựng dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác của chính phủ trong lĩnh vực xuất bản; ban hành quyết định, thông tư, chỉ thị về xuất bản. Cấp, thu hỏi giấy phép thành lập các-cơ sở xuất bản của Nhà nước thuộc các Bộ, Ban ngành Trung ương và các tỉnh, thành phó.
Cấp, thu hồi giấy chấp nhận đăng ký kế hoạch xuất bản của các nhà xuất bản. Quyết định thu hồi, tịch thu, cắm lưu hành, tiêu huỷ xuất bản phẩm. Quyết định cho tổ chức, cá nhân trong nước liên doanh trong lĩnh vực in, phát hành và việc hợp tác với nước ngoài về các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ cho hoạt động xuất bản và các quy định của pháp luật về hoạt động xuất bản; thi hành các biện pháp để ngăn chặn những hoạt động xuất bản trái pháp luật; khen thưởng và xử lý những vi phạm theo quy định của pháp luật.
_ Cực Xuất bản (Bộ Thông tin và Truyền thông) là cơ quan chức năng của Bộ, giúp Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhà nước về xuất bản. _ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là: cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản ở địa phương. Cấp này có những quyền hạn cụ thể như sau: | 1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản, in và phát hành của địa phương; 2.
Cấp, thu hồi giấy piẾp đối với cơ sở nhân bản, phát hành của tập thể, cá nhânở địa phương theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các chính sách chế độ xuất bản ở địa phương, tạm đình chỉ việc thực hiện giấy phép do cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản. ge néu phat hién thấy có vi phạm pháp luật và báo cáo ngay với Bộ Thông fh va Truyén thong. Tịch thu, thu hồi, cắm lưu hành hoặc quyết định tiêu huỷ các xuất bản phẩm thuộc thâm quyền quy định của chínhphủ.
Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan chuyền môn thuộc Uỷ ban nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản ở địa phương. Đặc điểm quản lÿ nhà nước đối bới hoạt động xuất bản - Hoạt động xuất bản là một tổ hợp sản xuất, vừa mang tính chất văn hoá tỉnh thần vừa mang tính kinh tế. Vì thế, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, do đấy, vừa phải bảo đảm sự tập trung thống nhất, đồng thời vừa phải phân biệt giữa 3 khâu: biên tập, in va phat hành xuất bản phẩm. - Các loại xuất bản phẩm tham gia và sơ chế thị trường cũng khác nhau.
Có loại xuất bản phâm có thê cạnh trajh: đê phát triên như các loại hàng hoá khác, song cũng có loại không có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Do đó, quản lý nhà nước về xuất bản cũng phải chú ý đặc điểm kinh doanh và phi kinh doanh của các loại xuất bản phẩm khác nhau ấy. Nhà nước cần dùng ngân sách để tài trợ xuất bản, thông qua đó để điều tiết xuất bản, phát hành các loại sách, tạo ra sự phát. điên hợp lý giữa các loại sách trong điều kiện cơ chế thị trường.
- Hoạt động xuất bản gắn bó hữu cơ với hoạt động sáng tác và với bạn đọc. Đó là chiếc cầu nối giữa người viết và người đọc; đưa các tác phẩm được sáng tạo đến với công chúng của nó, động thời tác động trở lại kích thích, duy trì hoạt động sáng tạo tác phẩm. Quản lý nhà nước về xuất bản phải tác động duy trì mối quan hệ hữu cơ đó. Nó vừa tác động đến tác giả, đội ngũ cán bộ xuất bản, vừa tác động đến đậš giả các loại sách.
Nó không chỉ tác động tới việc phổ biến tác phẩm mà còn tác động tới việc sáng tạo tác phẩm, không chỉ phục vụ theo nhu cầu thị trường mà phải góp phần định hướng, phát triển thị trường. - Đánh giá giá trị xuất bản phẩm, đặc biệt là các giá trị văn hoá - xã hội của sách, là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn sâu, có sự phối hợp của nhiều người, có thời gian cần thiết. & day, cần có đội ngũ chuyên gia làm giám định. Đội ngũ này vừa phải có “cái nhìn của khoảnh khắc” vừa phải có “cái nhìn của một thập kỷ”.
Quản lý nhà nước về xuất bản cần dựa trên các hội đồng thẩm định, cần tranh thủ những đánh giá. của các hội đồng chuyên gia đó. Nội dung quản lÿ nhà nước dỗi với hoạt động xuất bản 1.