Chương 1: Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục - đào tạo ở Thái Nguyên. Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Thái Nguyên về giáo dục - đào tạo (1997-2005) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm của quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Thái Nguyên (1997-2005). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chƣơng 1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở THÁI NGUYÊN 1. Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của Thái Nguyên 1.
Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, là trung tâm của vùng Đông Bắc, có diện tích tự nhiên 3.541km 2, dân số 1. Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên giáp Bắc Kạn; phía Tây giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp thủ đô Hà Nội. Sau lưng Thái Nguyên là cả một vùng rừng núi hiểm trở Cao Bằng, Hà Giang làm chỗ dựa vững chắc cho nó. Trước mặt Thái Nguyên là đồng bằng sông Hồng phì nhiêu, một vựa lúa của đất nước [56, tr.
Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng Bắc - Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bao quanh phía Tây Nam và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Nhìn tổng thể, địa hình Thái Nguyên phân hoá thành 3 vùng: Vùng núi phía Tây và Tây Bắc tỉnh: gồm Đại Từ, Định Hoá và các xã tây Phú Lương, là khu vực được hình thành sớm, hướng địa hình theo hướng Tây Bắc - Đông Nam phù hợp với dòng chảy. Các thung lũng sông rộng, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để khai thác và phát triển kinh tế.
Vùng núi phía đông: Đồng Hỷ, Võ Nhai, tuy không cao lắm, chỉ 500- 600m nhưng địa hình phức tạp, hiểm trở, có nhiều núi đá vôi. Đây là vùng núi cao, tính phức tạp của địa hình vùng này là một trở lực lớn trong quá trình giao lưu và phát triển kinh tế, văn hoá, tạo nên sự chênh lệch về trình độ dân trí giữa đô thị với nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng hẻo lánh, rẻo cao. Đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thời nó tác động tiêu cực đến quá trình phát triển giáo dục - đào tạo như việc xây dựng trường lớp, việc điều động giáo viên, việc đi lại của học sinh v. Vùng có địa hình thấp dưới 100m gồm nam Phú Lương, tây Đồng Hỷ, Thành phố Thái Nguyên, Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công.
Đây là vùng có dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sông, đường sắt và là vùng có lịch sử tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội lâu đời [56, tr. Cùng với diễn biến của lịch sử, địa danh và địa giới Thái Nguyên cũng có nhiều sự đổi thay: Thời thuộc Pháp vào năm 1900, chính quyền thực dân cho tách phủ Thông Hoá (huyện Cảm Hoá và Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn hiện nay) đặt ra tỉnh Bắc Kạn gồm 5 châu (sau đổi thành huyện) là Bạch Thông, Na Rì, Chợ Rã, Ngân Sơn, Chợ Đồn. Ngày 21/4/1965, Quốc hội nước ta quyết định hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Vào thời kỳ đổi mới, ngày 6/11/1996, Quốc hội ra Nghị quyết về phân loại địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó Bắc Thái được tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Kể từ ngày 01/01/1997, các đơn vị hành chính của tỉnh Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động. Hiện nay, Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh (gồm Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên; 1 thành phố là Thái Nguyên và thị 1 xã Sông Công). Toàn tỉnh có 180 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Theo quyết định số 42 UB/QĐ ngày 23/5/1997 của Bộ trưởng chủ nhiệm Uỷ ban dân tộc và miền núi, ở Thái Nguyên có 14 xã là xã miền núi (thuộc khu vực 1); 79 xã (thuộc thu vực 2); 18 xã (thuộc khu vực 3 - rẻo cao); thị trấn miền núi: 11 thị trấn (gồm Chợ Chu, Chùa Hang, Sông Cầu, Trại Cau, Đại Từ, Quân Chu, Đu, Giang Tiên, Đình Cả, Bắc Sơn) [56, tr.
Nhìn chung, những đặc điểm trên cho thấy, điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên tương đối thuận lợi, các địa phương tỉnh trong tỉnh đều có hệ sinh thái đảm bảo cho con người sinh sống và sản suất. Tuy vậy, khu vực phía TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 đông của tỉnh gồm các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai có khó khăn về nhiều mặt đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo. Các xã như Nghinh Tường, Sảng Mộc, Tràng Xá, Thần Sa. của huyện Võ Nhai; Khe Mo, Vân Lăng, Tân Long.
của huyện Đồng Hỷ điều kiện sống, sinh hoạt quá đơn sơ. Giáo dục - đào tạo ở đây gặp nhiều khó khăn vì: trường lớp phân tán, thiếu giáo viên, việc triển khai đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa còn nhiều hạn chế, trình độ cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu. So với sự phát triển chung của các khu vực trong tỉnh Thái Nguyên, giáo dục - đào tạo của khu vực miền núi, vùng cao Đồng Hỷ, Võ Nhai rất khó khăn để có thể thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. Như vậy, yêu cầu đặt ra trước hết thuộc về các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đối với việc phát triển giáo dục, nhất là công tác phổ cập giáo dục.
Một trong những hướng đi có hiệu quả là cần lồng ghép các chương trình phát triển giáo dục với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Cần có chính sách miễn các khoản đóng góp của học sinh thuộc các xã diện Chương trình 135, các xã được công nhận "An toàn khu", con em gia đình có công với cách mạng hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Về phía Sở, cần có chính sách thu hút giáo viên về công tác những nơi đặc biệt khó khăn; các trường Trung học phổ thông cần có chỗ ở nội trú cho học sinh ở xa trường. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên phải xuất phát từ những đặc thù của các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh để đề ra những giải pháp có hiệu quả trong phát triển giáo dục - đào tạo.
Có như vậy chất lượng giáo dục - đào tạo ở những khu vực này mới tiếp cận được với chất lượng giáo dục chung của tỉnh và của cả nước. Đặc điểm kinh tế - xã hội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa trung du, miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong cơ chế kinh tế mới, kể từ khi tái lập đến nay, nền kinh tế của tỉnh phát triển và có mức tăng trưởng khá. Tuy nhiên, cho đến nay kinh tế Thái Nguyên vẫn là một nền kinh tế theo cơ cấu nông, lâm, công nghiệp.
Ngành công nghiệp Thái Nguyên đã được hình thành từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX. Trải qua 4 thập kỷ thăng trầm do hậu quả của chiến tranh, do sự thay đổi cơ chế quản lý., đến nay ngành công nghiệp của Thái nguyên đã có một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh với sự có mặt của hầu hết các ngành công nghiệp như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất. Trong đó công nghiệp luyện kim và sản suất sắt thép, phôi thép là ngành công nghiệp chủ yếu của Thái Nguyên. Công nghiệp đóng góp khoảng 30 - 40% vào GDP của tỉnh.
Trong các cơ sở công nghiệp trong nước, có 8 cơ sở do Trung ương quản lý (Công ty chè Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Công ty gang thép thái Nguyên, Công ty kim loại màu, Công ty điêzen Sông Công, Công ty phụ tùng máy số 1, Nhà máy cơ khí Phổ Yên, Nhà máy y cụ số 2) và 17 cơ sở công nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý. Các cơ sở công nghiệp này đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghiệp của tỉnh. Cho đến thời điểm này, ngành công nghiệp Thái Nguyên đã được đầu tư đổi mới về máy móc thiết bị. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Thái Nguyên là than sạch, thiếc thỏi, xi măng, thép cán, gỗ xẻ và các sản phẩm nông, lâm sản chế biến khác.
Nhiều sản phẩm hàng hoá mới cũng được thị trường chấp nhận như giấy, thép, đồ uống, hàng may mặc, vật liệu xây dựng [56, tr. Trên lĩnh vực nông nghiệp: đặc điểm thời tiết, khí hậu, đất đai của Thái Nguyên thích hợp nhiều loại cây trồng. Sản xuất nông nghiệp những năm qua đã có sự phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Nhiều sản phẩm nông nghiệp của tỉnh được tiêu thụ khắp các thị trường trong cả nước, đặc biệt là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 sản phẩm chè, một loại cây công nghiệp điển hình và có truyền thống của Thái Nguyên [56, tr.
Như vậy, với đặc điểm kinh tế trên đây, một mặt cho thấy Thái Nguyên với những thế mạnh của mình có thể tập trung nguồn lực đầu tư cho việc xây dựng, phát triển giáo dục và đào tạo; nhưng mặt khác, với cơ cấu kinh tế công nông nghiệp như trên cũng đặt ra yêu cầu Thái Nguyên cần phải đổi mới giáo dục - đào tạo để đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế của địa phương. Thái Nguyên là một miền đất văn hoá đa sắc tộc, vừa là cái nôi, điểm hội tụ nền văn hoá đặc sắc của các dân tộc thiểu số cư trú trong vùng lại vừa là nơi giao lưu, hội nhập với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc khác tạo nên một nền văn hoá phong phú đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống với các dân tộc chính là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Cao Lan. Mặc dù mỗi thành phần dân tộc ở Thái Nguyên mang những đặc điểm riêng về tiếng nói, trình độ sản xuất, bản sắc văn hóa, song tất cả đều có những nét tương đồng, hoà nhập trong một cộng đồng và chung sống trên một lãnh thổ.
Ở Thái Nguyên, dân tộc Kinh (hay còn gọi là Việt) chiếm 75,50%. Đây là dân tộc có nguồn gốc bản địa, chiếm số lượng đông nhất.