Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Yêu cầu khách quan phát triển giáo dục phổ thông ở Hòa Bình (2000 – 2005) 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Hòa Bình tác động đến phát triển giáo dục phổ thông Hoà Bình là tỉnh miền núi có vị trí cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Ðông giáp Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hóa. Tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 73 km.
Diện tích tự nhiên là 4596,4 km2, dân số 794 nghìn người (theo kết quả điều tra dân số năm 2010). Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kì họp thứ 2, ngày 1 - 4 - 1976, hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây sát nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình và chính thức đi vào hoạt động. Năm 1991, Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ IX, đã quyết định điều chỉnh lại địa giới và chia cắt tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Đến năm 2010, tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và 1 thành phố và 210 xã, phường và thị trấn.
Hòa Bình là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 60%, dân tộc Kinh: 27,84%, còn lại là các dân tộc khác. Hòa Bình có 2 huyện vùng cao và 67 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn [87, tr. Hòa Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình hằng năm trên 23oC. Thiên nhiên đã tạo ra cho Hòa Bình nhiều cảnh quan đẹp và kỳ thú như: núi Cột Cờ (huyện Tân Lạc), hang Can (huyện Kỳ Sơn), hang Trại 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (huyện Lạc Sơn) hang Đồng Nội (huyện Lạc Thủy), các khu du lịch Vua Bà, Chợ Bờ, suối nước khoáng Mớ Đá (huyện Kim Bôi)… Với đặc điểm điều kiện tự nhiên như trên, đã tác động lớn đến chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo của Hòa Bình. Bên cạnh những thuận lợi, là một tỉnh miền núi, Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn do địa hình bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, thiên tai bão lũ… Điều này đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Hòa Bình cần có sự quan tâm chỉ đạo và sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành đưa giáo dục Hòa Bình vượt qua những khó khăn, khắc nghiệt của tự nhiên. Tỉnh Hòa Bình nằm trên địa bàn cư trú cổ xưa của người dân Việt Nam, giáp ranh giữa vùng núi Tây Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa, có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Trong cả tiến trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, lại sống ở địa bàn có vị trí quan trọng, địa thế hiểm yếu nên nhân dân các dân tộc ở Hòa Bình có truyền thống yêu nước, đấu tranh rất lâu đời. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nhất là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mĩ (1954 - 1975), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất, anh dũng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong lịch sử phát triển của mình, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tạo ra một sắc thái văn hóa đặc sắc riêng thể hiện đậm nét trên nhiều mặt: Trong kho tàng văn học dân gian, kho tàng dân ca, qua các lễ hội truyền thống, qua trang phục với những nếp váy áo mang màu sắc, hoa văn thể hiện đậm nét riêng của dân tộc mình. Tất cả đã tạo ra sự phong phú, đa dạng về văn hóa của một tỉnh nhiều dân tộc, góp phần vào sự phong phú, đa dạng chung của nền văn hóa Việt Nam.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hòa Bình là tỉnh có bề dày văn hóa lịch sử, con người Hòa Bình cần cù, chịu khó, thông minh, hiếu học, được nuôi dưỡng và phát triển trên nền tảng “Nền văn hóa Hòa Bình” vốn có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, “Truyền thống hiếu học” nhưng do nhiều nguyên nhân, nền giáo dục Hòa Bình phát triển rất chậm. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, được Đảng và Nhà nước quan tâm, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hòa Bình đã ra sức phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh lên một bước. Ánh sáng văn hóa mới đã tỏa khắp các xóm, bản, kể cả những vùng cao, vùng sâu. Mặc dù có nhiều cố gắng, tiến bộ, song nhìn chung đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vẫn còn thấp, phát triển chậm so với yêu cầu.
Về kinh tế - xã hội: Hòa Bình là một tỉnh miền núi nghèo, người dân chủ yếu sống ở nông thôn. Xuất phát điểm kinh tế thấp, công nghiệp chưa phát triển, chủ yếu là kinh tế nông lâm, sản xuất còn mang tính tự cấp, tự túc chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa. Tiềm năng về lao động, đất đai, tài nguyên khoáng sản, du lịch phong phú nhưng chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả, trình độ dân trí thấp, điều kiện sinh sống của dân cư còn nhiều khó khăn, giao thông một số huyện chưa phát triển. Dù còn nhiều khó khăn thử thách, song tăng trưởng kinh tế của Hòa Bình đã đạt khá: giai đoạn 2000 – 2005, GDP trung bình hàng năm là 8%, giai đoạn 2006 – 2010, khoảng 12%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 13,3 triệu đồng.
Tỉnh Hòa Bình đã cơ bản thoát khỏi tỉnh nghèo và từng bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời sống nhân dân các dân tộc được ổn định, tỷ lệ lao động qua đào tạo được nâng lên, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, chất lượng cuộc sống ngày càng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được củng cố; văn hóa, xã hội có tiến bộ mới; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị được quan tâm [22, tr. Những thành 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tựu về kinh tế - xã hội đạt được sau những năm đổi mới, đã có tác dụng tích cực đến phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh trong những năm 2000 - 2010. Những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển giáo dục của tỉnh Hòa Bình trên cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.
Do đó, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Hòa Bình cần phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng để phát huy những thế mạnh, khắc phục những mặt hạn chế, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh ngày một phát triển. Với tính cách cần cù lao động, giàu nghị lực trong cuộc sống đầy khó khăn vất vả, thật thà, chân chất và giàu lòng nhân ái, mến khách, tình gắn bó keo sơn giữa những người cùng cộng đồng và bề dày truyền thống yêu nước sẽ là sức mạnh tinh thần là hành trang vô giá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Hòa Bình khi bước vào giai đoạn lịch sử mới. Đây là cơ sở để con em các dân tộc tỉnh Hòa Bình sớm tiếp thu được những tinh hoa của thời đại, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh qua các thời kỳ. Giáo dục phổ thông ở Hòa Bình trước năm 2000 Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nhưng “giặc đói, giặc dốt” vẫn đang hoành hành khắp nơi.
Tháng 9 – 1945, Chính phủ đã quyết định thành lập “Nha bình dân học vụ”. Hòa Bình là một trong những điểm sáng về phong trào học bổ túc văn hóa của cả nước. Phong trào học chữ quốc ngữ được dấy lên rộng khắp các làng bản. Với phương châm “người biết chữ dạy người chưa biết chữ, mỗi người dân là một chiến sĩ diệt giặc dốt”.
Các lớp học được tổ chức ngay trên nhà sàn, giữa buổi làm nương hay trong những phiên chợ. Chỉ trong thời gian ngắn toàn tỉnh đã thanh toán mù chữ cho hàng chục vạn người. Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) phong trào bổ túc văn hóa và dạy chữ quốc ngữ càng được đẩy mạnh hơn đến nhiều địa phương. Trường trung học đầu tiên của tỉnh được thành lập là trường Lạc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Long Quân, đến năm 1951 trường đổi tên thành trường cấp II Hoàng Văn Thụ.
Tháng 1 – 1953, Ty bình dân học vụ và Ty Thanh tra tiểu học sáp nhập thành Ty Giáo dục Hòa Bình. Năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhân dân bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tỉnh Hòa Bình có điều kiện tập trung để phát triển giáo dục đào tạo. Hệ thống trường lớp phổ thông được xây dựng rộng rãi, các lớp xóa mù chữ được tổ chức thường xuyên.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), mặc dù còn nhiều khó khăn về đời sống, cơ sở trường lớp và đội ngũ giáo viên, nhưng Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình vẫn quan tâm tới việc học tập của con em. Hệ thống giáo dục phổ thông không ngừng phát triển. Các xã đều có trường cấp I, cấp II, huyện có trường cấp III; trường Hoàng Văn Thụ có thêm trường cấp I, cấp II; trường Lý Tự Trọng (thị xã Hòa Bình); trường Vụ Bản (Lạc Sơn); trường Lạc Long Quân (Lạc Thủy)… Tháng 1- 1973, Hiệp định Pari được ký kết, hòa bình được lập lại, phong trào thi đua dạy tốt học tốt được đặc biệt đẩy mạnh. Năm học 1973 - 1974 số học sinh của tỉnh có 76.112 em, năm học 1974 - 1975 đã nhanh chóng tăng lên 88.516 em, trong đó số học sinh cấp III tăng từ 2.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam năm 1975 đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Tháng 12 - 1975 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kỳ họp thứ 2, tỉnh Hòa Bình và Hà Tây sáp nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình. Ngày 1- 4- 1976, Ty giáo dục Hà Sơn Bình được thành lập và chỉ đạo có hiệu quả các mặt công tác của ngành.